1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ninh Thuận là một tỉnh duyên hải cực nam trung bộ được tách ra từ tỉnh Thuận
Hải cũ tháng 4/1992 với tổng diện tích tự nhiên khoảng 3360,06 km
2
. Điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt, Ninh Thuận không có điều kiện phát triển nông nghiệp, nhưng bù
lại Ninh Thuận lại có điều kiện để hoạt động nuôi trồng thủy sản (NTTS), đặc biêït là
nuôi tôm thương phẩm và sản xuất tôm giống.
Với bờ biển dài 105 km, dọc bờ biển có nhiều đầm vònh, vùng cửa sông, bãi
triều, Ninh Thuận có nhiều lợi thế để phát triển nuôi các đối tượng có giá trò kinh tế
cao. Nghò quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ X đã xác đònh trong 5 - 10 năm nữa ngành thủy
sản là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, trong đó nuôi trồng thủy sản được xem là khâu
mang tính đột phá. Vì vậy chủ trương của ngành trong giai đoạn 2000 - 2005 và 2010
là tiếp tục đầu tư phát triển NTTS trong đó con tôm là đối tượng chính nhằm tạo ra
nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.
Song trong những năm qua hoạt động NTTS của tỉnh gặp phải một số sức ép
môi trường gây ra những điều kiện bất lợi cho nuôi tôm sú, bên cạnh đó một số bệnh
mới xuất hiện xảy ra trên diện rộng và liên tục, nguyên nhân chính của dòch bệnh là do
môi trường một số vùng nuôi bò ô nhiễm và chất lượng nguồn nước cấp không đảm bảo.
Việc quản lý chất lượng nước ao nuôi tôm một cách khoa học, các dữ liệu về
chất lượng nước có thể lưu trữ, cập nhật và phân tích hiển thò là một nhu cầu cấp thiết
của Ninh Thuận.
Nhận thức được việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời
sống, đặc biệt là công tác quản lý, trong đó có hệ thống thông tin đòa lý (GIS -
Geographic Information Systems), đây là một hệ thống quản trò cơ sở dữ liệu khoa học
đảm bảo tính kòp thời thông qua công tác cậïp nhật thường xuyên trong quá trình biến
động môi trường vùng nuôi.
2.3. Nội dung của đề tài
Nghiên cứu khả năng ứng dụng của GIS để quản lý chất lượng nước nuôi tôm
thông qua việc thiết lập các loại bản đồ sau:
- Bản đồ về thông số môi trường ao nuôi.
- Bản đồ phân vùng chất lượng nước nuôi tôm.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI
Việc ứng công nghệ thông tin nói chung và GIS nói riêng là giải pháp khoa học
trong công tác quản lý chất lượng nước nuôi tôm của tỉnh Ninh Thuận.
Hệ thống thông tin đòa lý GIS là kỹ thuật ứng dụng hệ thống vi tính số (Digital
computer system) để lưu trữ, xử lý, quản lý, trình bày, mô hình hóa và phân tích những
số liệu, thông tin có liên quan đến tính đòa lý của một khu vực, những dữ liệu này mô tả
các thuộc tính gắn liền với vò trí đòa lý nhất đònh. Hệ thống dữ liệu được lưu trữ và xử lý
trong GIS gồm những các thông tin về môi trường ao nuôi vì vậy nó còn có thể giúp ích
cho các nhà quy hoạch, các nhà hoạch đònh chính sách trong việc ra quyết đònh.
3Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG GIS TRONG QUẢN LÝ
CHẤT LƯNG NƯỚC
1. HIỆN TRẠNG NUÔI TÔM Ở NINH THUẬN
Bờ biển Ninh Thuận dài 105 km dọc theo biển Ninh Thuận có nhiều đầm vònh,
vùng cửa sông, bãi triều có thể sử dụng cho nuôi trồng thủy sản. Với đặc điểm là một
tỉnh ít mưa nhất trong cả nước (trung bình 750 mm), ít sông ngòi, độ mặn nước biển
tấn/ha/năm gấp 1,18 lần so với năm 1995. Đây là thành công rõ nét nhất đối với nghề
4
nuôi tôm của Ninh Thuận trong những năm qua, với kết quả này nuôi tôm của Ninh
Thuận được đánh giá là một trong những tỉnh có năng suất bình quân cao trong cả nước.
Bảng 1.1: Năng suất tôm sú bình quân tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 1992- 2000 [17]
Năm 1992 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Năng suất bình quân
(tấn/ha/năm)
1,3 1,02 1,17 1,25 1,86 1,98 2,22
Theo thống kê cho thấy diện tích nuôi tôm tập trung chủ yếu ở hai khu vực chính
là Đầm Nại (huyện Ninh Hải) và An Hải (huyện Ninh Phước) [17]. Đến nay diện tích
nuôi tôm ở Ninh Thuận là 1.450 ha, riêng khu vực Đầm Nại khoảng 900 ha, chiếm 60%
diện tích nuôi tôm của tỉnh [10].
Bảng 1.2: Thống kê diện tích và sản lượng nuôi tôm Đầm Nại qua các năm [8]
Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất (tấn/ha)
1992 496 602 1,32
1998 548 947 0,57
2000 673 1412 2,10
2002 898 1162 1,29
2003 898 1143 1,27
Với diện tích tự nhiên 1.200 ha, diện tích vùng triều khoảng 800 ha, diện tích
nuôi tôm vùng ven bờ Đầm Nại và các cùng đất thấp ven bờ đầm (chuyển đổi từ trồng
lúa sang) đã lên xấp xỉ 900 ha. Với trình độ sản xuất như hiện nay, theo ý kiến của
nhiều hộ nuôi có kinh nghiệm thì đã quá tải 1/3 (33%). Với diện tích nuôi trồng và sản
lượng trên 1.000 tấn mỗi năm, Đầm Nại vẫn là vùng nuôi hàng hóa đứng đầu tỉnh [8].
1995 290
1998 148
2000 274
2002 781
2003 417
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng dich bệnh trên diện rộng khu vực Đầm Nại là
do tình trạng NTTS phát triển ồ ạt mang tính tự phát không có sự quản lý của nhà nước.
Hầu hết các khu vực nuôi tôm quanh Đầm Nại không đáp ứng những điều kiện để sản
xuất. Ao lắng, ao xử lý nước thải, hệ thống kênh mương cấp thoát nước hầu như không
có, quy mô sản xuất nhỏ lẻ…[10].
Trong năm 2003, nuôi tôm trên cát đã xảy ra dòch bệnh khá nhiều trong vụ 1,
các loại bệnh đốm trắng, đỏ thân, phân trắng, teo gan, một số đìa nuôi tôm còi cọc,
chậm lớn. Nguyên nhân theo đánh giá sơ bộ bệnh tôm là do diện tích phát triển tôm
trên các quá nhanh, khai thác triệt để nguồn nước ngầm tại chỗ, thả mật độ cao, nhưng
các biện pháp quản lý môi trường không có, kỹ thuật, công nghệ chưa được thay đổi
phù hợp.
Tuy vậy ngành thủy sản Ninh Thuận đã xác đònh nuôi trồng thủy sản mà trọng
tâm là nghề nuôi tôm sú thương phẩm là một ngành sản xuất hàng hóa quan trọng
chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của ngành. Trong quy hoạch tổng thể phát triển
ngành thủy sản tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2001 - 2010, chỉ tiêu đến năm 2010 Ninh
Thuận sản lượng tôm sú là 10.000 tấn.
6
2. CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯNG NƯỚC NUÔI TÔM
2.1. Phương pháp luận quản lý nguồn lợi nước
- Tính chất lý học : màu sắc, độ đục, vò…
- Tính chất hóa học : thành phần muối khoáng, chất hữu cơ, chất khí hòa tan
- Tính chất sinh học : các vi sinh vật, phiêu sinh vật,….
Nước tự nhiên vốn có bản chất sạch về mặt sinh thái học nghóa là luôn có khả
năng thỏa mãn các tiêu chuẩn để thực hiện 3 chức năng sinh thái của mình (thúc đẩy
các quá trình năng suất sinh học; duy trì những tối ưu của môi trường; khả năng tự làm
7
sạch). Nhưng đó là những vấn đề về mặt lý luận và nguyên tắc. Trên thực tế chất lượng
các nguồn nước đang bò suy thoái do sự quản lý kém hiệu quả của con người.
Xử lý nâng cao chất lượng nước phải được phải được triển khai theo quan điểm
kế hoạch hóa bằng phép phân tích hệ thống dựa vào các nguyên lý sinh thái trên một
phạm vi cỡ lớn. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, dù có gặp khó khăn về tài chính và kỹ
thuật cũng phải cố gắng giải quyết và xử lý nguồn ô nhiễm ngay khi nó mới xuất hiện.
Chính vì vậy vấn đề chẩn đoán nhanh hiện trạng chất lượng môi trường và sự biến động
của nó trong tương lai là một việc làm rất có ý nghóa thực tiễn. Có thể sử dụng các biện
pháp vật lý, hóa học, sinh thái học để chuẩn đoán, cũng có thể sử dụng một số phương
pháp mang tính tư duy trừu tượng. Ví dụ có thể sử dụng phương trình cân bằng năng
lượng và sinh dưỡng… Về mặt nguyên lý các loài thủy sinh trong vực nước không những
có khả năng hấp thụ và chuyển hóa vật chất mà còn đóng những vai trò mang tính chức
năng để hình thành chất lượng thủy vực [1].
2.2. Các biện pháp quản lý chất lượng nước nuôi tôm
Quản lý chất lượng nước nuôi thủy sản nói chung và quản lý chất lượng nước
nuôi tôm nói riêng đã được triển khai từ trung ương tới người nuôi tôm.
Căn cứ vào tiêu chuẩn giá trò giới hạn cho phép về nồng độ chất ô nhiễm trong
nước mặt và nước biển ven bờ do Bộ KHCN và MT ban hành, Bộ Thủy Sản đã ban
hành tiêu chuẩn quy đònh giới hạn cho phép về nồng độ các chất ô nhiễm trong nước
biển vùng nuôi trồng thủy sản và vùng nước ngọt nuôi thủy sản. Trong chỉ thò Bộ trưởng
phải lưu ý trước khi lập trại nuôi tôm. Việc chọn đòa điểm tốt sẽ tránh được những vùng
không phù hợp để nuôi tôm. Việc chọn vò trí xây dựng trại nuôi thích hợp sẽ đảm bảo
viếc cấp nước đủ về chất và lượng cũng như biện pháp kỹ thuật nuôi.
Việc thiết kế và xây dựng, tu dưỡng ao nuôi hợp lý cũng là biện pháp để quản lý
chất lượng nước. Việc thiết kế phải đảm bảo việc lấy nước nhanh chóng (trong vòng
một con triều) và lấy được nguồn nước tốt; xã thải nhanh chóng và quản lý được nguồn
thải, đãm bảo không gian cho tôm sống và hoạt động. Hóa dược, các thiết bò máy sục
khí, quạt nước được sử dụng và phải sử dụng có hiệu quả. Công việc chuẩn bò ao nuôi là
khâu đòi hỏi phải thực hiện trước khi đưa vào sử dụng lần đầu cũng như trước vụ nuôi.
Mục đích chính của việc chuẩn bò ao là tạo cho tôm có một nền đáy sạch, chất lượng
nước thích hợp và ổn đònh.
Thả giống với mật độ phù hợp với trình độ kỹ thuật nuôi, điều kiện môi trường
ao nuôi và nguồn nước cấp, điều kiện khí hậu thời tiết, lượng thức ăn và trình độ quản
là một trong những khâu quan trọng trong nuôi tôm thành công và mang lại hiệu quả
[27].
Điều hành trại nuôi là công việc hết sức quan trọng, để điều hành trại nuôi có
hiệu quả đòi hỏi sự hiểu biết về mối quan hệ giữa tôm và môi trường sống của nó. Nội
dung của phần này là những thông tin có liên quan đến các yếu tố tác động lẫn nhau để
tạo nên môi trường ao nuôi. Các yếu tố này bao gồm ôxy hòa tan, độ kiềm, pH, các
chất dinh dưỡng hòa tan và các chất thải. Hiểu biết về môi trường ao nuôi sẽ giúp ích
cho người nuôi khi đánh giá môi trường ao nuôi để có những quyết đònh phù hợp.Trong
ao nuôi tôm, những điều kiện bất lợi thường thấy phổ biến hơn là các tác nhân gây tôm
chất trực tiếp. Do vậy nguyên tắc chính của việc quản lý ao nuôi là giữ các điều kiện
nuôi sao cho phù hợp chứ không phải tránh những nguyên nhân gây tôm chết [27].
3. GIS TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
Ở nước ta công nghệ GIS đã được sử dụng tương đối phổ biến đặc biệt tại các
viện nghiên cứu và một số trường đại học trong lónh vực quản lý môi trường, hệ sinh
thái, quản lý đất đai, quản lý đô thò… và nó nhanh chóng trở thành công cụ đắc lực trong
đa sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố R - Q mod kết hợp [3] (phân tích thành phần
chính - Priciple Component Analysis). Kỹ thuật phân tích nhân tố R - Q mod là công
cụ rất hữu hiệu trong xử lý GIS, đặc biệt là khi điều tra, thu thập một lượng lớn các dữ
liệu về thông số môi trường trong khu vực nước.
Việc tìm hiểu mối quan hệ giữa các thông số chất lượng môi trường là vô cùng
quan trọng, nó giúp ta đònh hướng trong việc bố trí mạng lưới khảo sát thu thập số liệu,
những thông tin nào là cần thiết và hiệu quả nhất, tìm hiểu ảnh hưởng của các thông số
môi trường lên một số đối tượng cụ thể [2].
Sử dụng GIS để xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường không những được thực
hiện ở vùng ven bờ vònh Nha Trang [3], mà còn được thực hiện tại vùng ven bờ tỉnh
Đình Đònh [2]. Trong báo cáo chuyên đề “Xây dựng cơ sở dữ liệu - bản đồ vùng ven bờ
Bình Đònh phục vụ quản lý tổng hợp dải ven bờ” thuộc dự án “xây dựng các phương án
quản lý tổng hợp đới ven bờ biển Bình Đinh”. Ở đây các tác giả đã sử dụng phương
pháp đánh giá đa chỉ tiêu (Multiple Criteria Evaluation - MCE) có sử dụng trọng số cho
các yếu tố được xác đònh từ mà trận Saaty để thành lập bản đồ nhạy cảm môi trường.
Việc đánh giá đa chỉ tiêu có sử dụng trọng số cho các yếu tố (đây chính là
phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu bằng trung bình trọng số tuyến tính theo bậc - Multi
criteria evaluation and Ordered weighted averaging, MCE - OWA) vừa giải quyết được
yêu cầu việc ra quyết đònh không chỉ thỏa mãn một chỉ tiêu riêng lẻ mà cùng lúc phải
thỏa mãn nhiều tiêu chuẩn vừa khắc phục được nhược điểm khi cho các yếu tố có tầm
quan trọng như nhau (Đánh giá đa chỉ tiêu theo tổ hợp tuyến tính trọng lượng - Multi
criteria evaluation - Weighted linear combination, MCE - WLC).
Đánh giá đa chỉ tiêu có sử dụng trọng số cho các yếu còn được sử dụng để đánh
giá phân vùng chức năng và quy hoạch phát triển du lòch bền vững vùng ven biển vònh
Phan Thiết bằng công nghệ GIS trong dự án “Hiện trạng và đònh hướng chính trong
quản lý và phát triển bền vững ven bờ vinh Phan Thiết” (Bùi Hồng Long, 1997) [2]. Ở
lượng năng suất sinh học sơ cấp [2].
Đònh lượng năng suất sinh học sơ cấp là cơ sở để xem xét đánh giá nguồn lợi
nguồn lợi sinh vật đặc biệt là nguồn lợi cá biển, ngoài ra nó còn là chỉ thò về chất lượng
môi trường, là chỉ thò hoạt động của các loài tảo đơn bào và các điều kiện sinh thái
trong vùng biển [2].
Ngoài những những đặc điểm mang tính đặc thù, điểm tương đồng của GIS và
viễn thám là quản lý thông tin dạng raster, các lớp thông tin này cũng có thể chồng lớp,
tính toán và phân tích thông tin như các lớp thông tin của GIS thông thường [2].
GIS trong quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản bền vững đã cũng được thực
hiện ở nước ta. Ứng dụng GIS để quản lý phát triển nghề nuôi thủy sản bền vững được
thực hiện trong dự án “Môi trường nuôi tôm bền vững ở đồng bằng sông Mekông, Việt
11
Nam” (Environmental sustainability of brackish water aquaculture in Mekong delta,
Vietnam”).
Để hỗ trợ cho việc ra các quyết đònh liên quan đến quản lý, phát triển bền vững
cho nghề nuôi trồng thủy sản ven bờ ở Cà Mau và Trà Vinh, các tác giả đã lập hồ sơ về
tài nguyên môi trường. Chủ yếu là: đánh giá điều kiện sinh thái môi trường và sinh thái
đất ở các vùng trọng điểm của nghề nuôi thủy sản, từ đó phân tích tính phù hợp, tương
thích giữa các điều kiện tự nhiên và kỹ thuật nuôi và cấu trúc của các trại nuôi phù hợp
dựa trên quan điểm tổng hợp về kinh tế xã hội và sinh thái môi trường. Quá trình tiếp
cận trên được tiến hành qua các bước sau:
- Tập trung tổng quan các đặc điểm môi trường, sinh thái và và xác đònh một số
chỉ thò môi trường tiêu biểu cho các phân vùng sinh thái.
- Tổng quan các đặc điểm kinh tế kỹ thuật nuôi và liên kết các đặc điểm này
biệt trong các ao nuôi quảng canh và sinh thái. Về mặt sinh thái môi trường, các phân
tích thống kê cho thấy chỉ số nước tù liên quan tới khả năng xáo trộn nước, ở những nơi
xa biển CI cao, dẫn đến hàm lượng TSS thấp và năng suât sinh học cao tương ứng. Có
thể cho CI như một chỉ số sinh thái “đại diện” theo ý nghóa tích cực dể đo đạc, khảo sát
nhưng vẫn có mối quan hệ tốt với các tham số môi trường và cả sản lượng tôm nuôi.
Ý nghóa sinh thái của của CI: Việc phân chia ra thành các hình thức nuôi khác
nhau (quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh…) được thực hiện
dựa trên mức độ thâm canh hóa. Có sự khác biệt nhau giữa hai hình thức nuôi: nuôi
quảng canh lấy vật chất từ môi trường nước bên ngoài; nuôi thâm canh lại thải các chất
thải vào môi trường (thông qua phân, chất thải, thức ăn thừa…). Đối với các nuôi quảng
canh, môi trường môi trường phải tạo đủ “năng lượng” cho sự phát triển của chuỗi thức
ăn, cung cấp đủ mồi tự nhiên cho ao nuôi tôm. Trong trường hợp này CI có ý nghóa gián
tiếp thông qua viêïc tạo “năng lượng cơ sở” và các nguồn dinh dưỡng cho hệ sinh thái.
13
Chương 2
KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG GIS TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯNG
NƯỚC NUÔI TÔM
1. CƠ SỞ ỨNG DỤNG GIS TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯNG NƯỚC NUÔI TÔM
GIS là công cụ hội tụ các lónh vực công nghệ với các ngành truyền thống. Đặc
biệt với sự phát triển của các ngành công nghệ cao, công nghệ thông tin, viễn thám,
siêu máy tính, trí tuệ nhân tạo (artificial intelligent), toán học… GIS đã trở thành công
nghệï có tính “xúc tác” đầy tiềm năng và có triển vọng ứng dụng to lớn trong hầu hết
các lónh vực phát triển của xã hội loài người [2].
Khoa học công nghệ phát triển dẫn đến hiện tượng giao thoa giữa các ngành đặc
biệt là khoa học kỹ thuật. GIS cũng là sự đan xen của nhiều ngành: đòa lý, đòa chất,
công nghiệp, lâm nghiệp, giao thông, thủy văn, đô thò kinh tế, quốc phòng,… Kết quả
việc nuôi tôm về mặt môi trường có thể là: hoặc a) chồng lớp bản đồ theo chỉ số, nhờ
đó các lớp bản đồ riêng lẻ và các chỉ số phân lớp được phân hạng hoặc là theo điều
kiện tuyệt đối hoặc là tải trọng riêng; hoặc b) những bản đồ chồng lớp phức tạp hơn
bằng tổ hợp theo toán tử Boolean (Boolean operator) hay các số học giữa các lớp đầu
vào. Việc phân vùng chức năng thường được tiến hành trên CSDL đã được chuyển đổi
về dạng raster. Đối với các số liệu đònh lượng, các phép nội suy thường được sử dụng
cho việc raster hóa bản đồ. Đối với các tài liệu đònh tính như khoanh vùng hệ sinh thái
chúng được vẽ sơ bộ trên bản đồ giấy, sau đó đăng ký tọa độ vào một hệ phép chiếu
chuẩn, nắn chỉnh hình học, số hóa, xây dựng topo, tạo vùng và cuối cùng kết nối thông
tin với CSDL.
1.2. Phép nội suy trong GIS
Phương pháp nội suy không gian trong GIS được chia làm 3 nhóm chính, nội suy
cục bộ, nội suy toàn cục và nội suy Kriging. Nội suy cục bộ chỉ tính tới những điểm
được quan sát lân cân, ngược lại nội suy toàn cục sử dụng toàn bộ tập hợp điểm đã biết.
Kriging là tổ hợp của hai phương pháp trên và nó hay được sử dụng nhất.
Phương pháp nội suy Kriging đã được sử dụng rộng rãi trong nhiêu lónh vực: tính
trữ lượng các mỏ đá [12]; xây dựng các mô hình trọng lực và GEOID ở Mỹ, Australia,
Thụy Điển, Việt Nam [27]; xác đònh các thông số môi trường vùng ven bờ vònh Nha
Trang [3]. Nó thường cho kết quả raster hóa khả quan nhất [3].
1.3. Một số kỹ thuật phân tích thường được sử dụng trong phân vùng chức năng
1.3.1. Kỹ thuật chồng lớp raster thông qua các phép toán phân tích trên ma trận.
Nhờ việc chia nhỏ bề mặt không gian thành các ô vuông cơ sở, việc sử dụng các
phép toán đại số được thực hiện dễ dàng trên các lớp thông tin raster. Kỹ thuật này đã
được sử dụng trong việc đánh giá tải lượng ô nhiễm và sức tải sinh thái vùng ven bờ
biển tỉnh Bình Đònh do Viện Hải dương học Nha Trang xây dựng thông qua việc chồng
các lớp thông tin dạng raster [2]. Các phương pháp phân tích thống kê trên các lớp
raster thường được sử dụng phân tích ma trận phức tạp hơn. Mục tiêu của phương pháp
phép đo. Ma trận Saaty thường được sử dụng rộng rãi để hổ trợ cho việc xác đònh điểm
yếu tố. Nguyên lý vector riêng (egeint vector) luôn được sử dụng để xác đinh trọng số
cho từng yếu tố. Bản đồ các chỉ số nhạy cảm môi trường vùng ven bờ tỉnh Bình Đònh đã
được xây dựng theo phương pháp này [2].
1.3.5. Ứng dụng kết hợp công nghệ viễn thám và GIS.
Có thể nói viễn thám không thể như một phần đặc biệt không thể thiếu trong
GIS vì chúng liên quan đến các phần mềm xử lý GIS vừa liên quan đến CSDL thông
qua các lớp thông tin dạng raster [2].
1.4. Khả năng ứng dụng GIS trong quản lý chất lượng nước nuôi tôm.
GIS là công nghệ mới, nó xâm nhập vào Việt Nam trong một số chuyên ngành
đã làm nảy sinh hàng loạt vấn đề xung quanh bản chất, chức năng và khả năng ứng
dụng trong điều kiện nước ta. Việc tổ chức các vấn đề có liên quan đến GIS đã được
thực hiện ở nhiều cơ quan, tuy nhiên kết quả ứng dụng công nghệ mới vào thực tế chưa
nhiều, có nơi còn lầm giữa hệ thống thông tin bản đồ với GIS và hệ quản trò cơ sở dữ
liệu với GIS. Việc ứng dụng GIS trong quản lý chất lượng nước nuôi tôm hầu như chưa
được thực hiện ở nước ta.
Các thông tin về chất lượng nước nuôi tôm, các biện pháp kỹ thuật, công trình
nuôi, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,…là những yếu tố dữ liệu. Trong hàng loạt các
dữ liệu như vậy, có những dữ liệu chỉ cần nêu ra là chúng ta đã biết vò trí của chúng
(vùng nuôi, sông, suối,…), nhưng cũng có những loại dữ liệu không mang yếu tố đòa lý
(chất lượng nước, năng suất từng vùng nuôi tôm,…). Thông qua nhận xét trên, chúng ta
16
chia thông tin quản lý chất lượng nước nuôi tôm thành hai loại thông tin không gian và
thông tin phi không gian.
Những thông tin này được lưu trữ trong hệ quản lý CSDL của GIS, hệ quản lý
CSDL của GIS có thể được thiết kế riêng cho chính phần mềm GIS và có các module
đểû kết nối và khai thác dữ liệu có sẵn trong các hệ quản lý CSDL khác hoặc có thể
thiết kế tuân theo một hệ quản lý CSDL đã có sẵn. Việc truy vấn (tìm kiếm) dữ liệu
Vai trò của GIS là một công cụ nghiên cứu nguồn lợi, môi trường vẫn đang được
tiếp tục và hoàn thiện. GIS không hạn chế và rất linh hoạt, nên có thể dể dàng tiếp
nhận những cải tiến và những bổ sung mới về mặt kỹ thuật và công nghệ [2].
17
Chương 3
TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU I. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu : Từ ngày 8/8 năm 2005 đến ngày 19/11 năm 2005
Đòa điểm nghiên cứu : Khu vực nuôi tôm tỉnh Ninh Thuận
Tại các vùng nuôi tôm và Đầm Nại đều được chúng tôi thu mẫu và phân tích và
chúng đại diện cho các vùng nuôi tôm của Ninh Thuận. Theo cán bộ kỹ thuật Sở Thủy
Sản tỉnh Ninh Thuận, khu vực nuôi đạt hiệu quả kinh tế nhất của Tỉnh là khu vực
Lương Cách (Hộ Hải); khá: Tân Hải, Hộ Hải, Phương Hải, Đông Hải, An Hải, Phước
Dinh; trung bình: Tri Hải và kém hiệu quả kinh tế nhất là khu vực Thôn Thủy lợi xã
Hộ Hải.
Khu vực Tân Hải : Vùng không chủ động được nguồn nước ngọt, nguồn nước
ngọt được cung cấp qua hệ thống kênh nông nghiệp.
Khu vực Hộ Hải : Vùng nước mặn được lấy từ Đầm Nại qua các kênh dẫn nước,
và nước giếng; nguồn nước ngọt được lấy từ nguồn nước
nông nghiệp
Khu vực Khánh Hải : Nguồn nước mặn khan hiếm, song nước ngọt lại dồi dào, được
lấy từ nguồn nước nông nghiệp qua kênh dẫn nước.
§ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2000 tỉnh Ninh Thuận (lưới chiếu
Non - Earth tỷ lệ 1/100.000 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh
Ninh Thuận xây dựng và cung cấp.
§ Bản đồ mạng lưới thủy văn tỉnh Ninh Thuận (lưới chiếu Non -
Earth tỷ lệ 1/100.000 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Ninh
Thuận xây dựng.
§ Bản đồ hiện trạng nuôi trồng thủy sản tỉnh Ninh Thuận năm 2000
tại Sở Thủy Sản tỉnh Ninh Thuận, tỷ lệ 1/100000.
§ Bản đồ quy hoạch nuôi trồng thủy sản tỉnh Ninh Thuận năm 2001
- 2010 tại Sở Thủy Sản tỉnh Ninh Thuận, tỷ lệ 1/100000.
§ Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Thuận 1/300.000 (lưới chiếu Non -
Earth tỷ lệ 1/50.000 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Ninh
Thuận xây và cung cấp.
§ Bản đồ đường đẳêng mưa trung bình mùa khô tỉnh Ninh Thuận do
Trung tâm khí tượng thủy văn phía Nam - đài KTTV Ninh Thuận
xây dưng và cung cấp
§ Bản đồ đường đẳng nhiệt độ trung bình năm Ninh Thuận do
Trung tâm khí tượng thủy văn phía Nam - đài KTTV Ninh Thuận
xây dưng và cung cấp
§ Bản đồ hành chính Viêt Nam tỷ lệ 1/6000.000 do Tổng Cục Đòa
Chính xây dựng.
- Nhóm dữ liệu có được từ khảo sát thực tế: Các thông số về chất lượng môi
trường ao nuôi và trạng thái sức khỏe của tôm tại các ao đó (khỏe mạnh, nhiễm
bệnh).
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. KHÁI QUÁT PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHUNG.
Cơ sở dữ liệu phục vụ cho quản lý chất lượng nước nuôi tôm được xây dựng theo
lượng) tại các ô vuông cơ sở. Kích thước mỗi ô vuông trong phép chọn của chúng tôi là
100 m x 100 m (tương ứng với tỷ lệ bản đồ hiện trạng sử dụng đất) để cập nhật thông
tin.
Ưu điểm của các bản đồ GIS dạng raster là có thể xử lý linh hoạt trong việc tích
hợp thông tin, chồng lớp bản đồ, xây dựng các bản đồ dẫn xuất,…
Từ kết quả của các bản đồ rasrer và vector, chúng tôi tiếp tục tiến hành phân
tích thông tin để xây dựng các bản đồ phân vùng chất lượng nước nuôi tôm theo phương
pháp chồng lớp raster bằng các phép toán đại số, phép toán logic.
Sử dụng kỹ thuật phân tích thành phần chính (Principle Component Analysic
PCA) trên phần mềm Statistica 6.0 để xác đònh mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường
và xác đònh yếu tố làm chỉ tiêu chất lượng nước cho vùng nuôi tôm tại Ninh Thuận.
21
2. ỨÙNG DỤNG CÔNG NGHỆ GIS THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ CHUNG.
Bản đồ đòa lý chung là loại bản đồ được phân loại theo nội dung (bản đồ đòa lý
chung và bản đồ chuyên đề). Trên bản đồ đòa lý chung cho ta thấy đặc điểm của lãnh
thổ về mặt đòa lý tự nhiên và kinh tế xã hội [11].
Nhập dữ liệu phi không gian
Liên kết dữ liệu không gian và
dữ liệu phi không gian
Chồng xếp các lớp bản đồ
Xây dựng bản đồ thành phẩm
Xây dựng bản đồ đơn tính
Thiết kế mô hình dữ liệu
không gian
Sửa lỗi, tạo vùng, đường,
điểm
22
2.1. Tạo lập dữ liệu không gian.
2.1.1. Số hóa bản đồ dạng raster
Phương pháp chung: Bằng phương pháp quét ảnh bản đồ (Scanner), máy quét A4
tạo nguồn dữ liệu đầu vào. Sử dụng phần mềm DOLVectorB để số hóa, đăng ký tọa độ
bản đồ.
Bước 1: Quét ảnh bản đồ :
Quét ảnh là quá trình chuyển hình ảnh bản đồ trên nền giấy thành những file ảnh
bản đồ trên máy tính dưới dạng ảnh raster.
Bước 2: Số hóa bản đồ:
Đây là quá trình chuyển các file ảnh từ dạng raster sang dạng vector:
- Khởi động Dolvector, mở file ảnh cần vector hóa.
- Xác đònh vùng cần xử lý.
- Thực hiện các công đoạn tiền xử lý ảnh: Chuyển ảnh sang chế độ màu
khác, điều chỉnh màu, chỉnh sửa các yếu tố trên ảnh…
Xuất file cần chuyển tọa độ và phép chiếu sang file dạng *.DXF, sau đó nhập
lại các file.DXF này và đăng ký tọa độ lại và hệ lưới chiếu Longitude/ Latitude (Indian
for Thailand, Vietnam).
Đăng ký lại tọa độ và xác đinh phép chiếu cho các bản đồ này nhằm mục đích
chuyển chúng về đúng với vò trí thực trong thực tế. Hình 3.5: Xác đònh phép chiếu cho bản đồ số của Ninh Thuận
24
Hình 3.6: Đăng ký lại tọa độ cho bản đồ số của tỉnh Ninh Thuận
Đối với các bản đồ được số hóa và nhập từ DolvectorB, cũng có thể thực hiện
tương tự như trên. Hoặc đơn giản hơn chúng được tiến hành theo cách sau:
Mở File cần chuyển đổi tọa độ à SAVE COPY AS à PROJECTION và chọn
hệ lưới chiếu Longitude/ Latitude (Indian for Thailand, Vietnam).
Vì các bản đồ này đã được đăng ký tọa độ thực tế ở giai đoạn vector hóa nên
chúng chỉ cần chuyển tọa độ từ Non - Earth về tọa độ trái đất thông qua xác đònh phép
chiếu mà không cần đăng ký lại tọa độ. Hình 3.7: Xác đònh phép chiếu cho bản đồ nhập từ DolvectorB
2.1.3. Biên tập bản đồ và xây dựng bản đồ đơn tính.
Quá trình biên tập bản đồ và xây dựng bản đồ đơn tính được thực hiện hoàn toàn
bằng phần mềm Mapinfo.
Để biên tập bản đồ, các bản đồ phải ở trạng thái biên tập được (editable). Tuy
phần mềm DOLVectorB chuyển dữ liêïu dạng ảnh thành dạng vector với độ chính xác