điều tra kỹ thuật nuôi thương phẩm và tình hình nhiễm ấu trùng metacercaria trên cá trê lai (đực c. gariepinus x cái c. macrocephalus) tại ô môn - cần thơ và chợ gạo – tiền giang - Pdf 22

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực tập, em đã được sự giúp đỡ của nhiều thầy cô,
anh chò, bạn bè và gia đình. Nhân đây em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Thầy: ThS. Nguyễn Tấn Sỹ.
- ThS. Phạm Cử Thiện
đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đề tài này.
Xin cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của thầy TS. Hoàng Tùng và cô TS. Đỗ
Thò Hòa (trường Đại học Thủy sản), các anh chò thạc só, kỹ sư (Trung tâm giống
Thủy sản Quốc gia Nam Bộ) đã luôn sẵn sàng giúp đỡ em trong công việc và
những khi gặp khó khăn.
Chân thành cảm ơn các bạn sinh viên thực tập của trường Đại học Thủy
sản (hệ tại chức Bến Tre), thời gian qua đã sát cánh cùng tôi trong thời gian qua
giúp tôi hoàn thành công việc.
Con xin cảm ơn gia đình đã tạo những điều kiện tốt nhất cho con được an
tâm làm tốt công việc.

i
MỤC LỤC

Trang
Lời cảm ơn
Mục lục i
Tóm tắt iii
Danh mục bảng và hình iv
Thuật ngữ và chữ viết tắt v

Phần I: Mở đầu 1

1.5. Phòng và trò bệnh 32
2. Tình hình nhiễm ấu trùng Metacercaria 34
2.1. Phân bố mẫu 34
2.2. Tình hình nhiễm Metacercaria trên cá Trê lai 34
2.2.1. Kết quả khi phân tích từng cơ quan 35
2.2.2. Kết quả khi phân tích gộp chung 37
2.2.3. Các loài Metacercaria nhiễm trên cá Trê lai VAC 44

Phần V: Kết luận và đề xuất 46
Phần VI: Tài liệu tham khảo
Phần VII: Phụ Lục
PL1: Khóa phân loại Metacercaria của dự án FIBOZOPA
PL2: Bảng câu hỏi điều tra
PL3: Dụng cụ phục vụ nghiên cứu

iii
TÓM TẮT

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của ngành Nuôi trồng
Thủy sản, các tổ chức Khoa học và Y tế Thế giới đã và đang có nhiều nghiên cứu
về tình hình lây nhiễm kí sinh trùng có nguồn gốc Thủy sản trên người và động
vật. Kết luận chung cho thấy tỉ lệ nhiễm các loài kí sinh trùng này tập trung ở các
quốc gia Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương.
Khi tiến hành nghiên cứu ấu trùng Metacercaria trên 300 con cá Trê lai
nuôi thâm canh thu ngẫu nhiên tại huyện Ô Môn – Cần Thơ và huyện Chợ Gạo –
Tiền Giang, mẫu cá tại Chợ Gạo nhiễmvới tỉ lệ 10% và cường độ nhiễm 0,03 –
0,7 Metacercaria/g, trong khi các mẫu ở Ô Môn không bò nhiễm.
Dùng phương pháp tiêu cơ với dung dòch dạ dày nhân tạo gồm 6 g Pepsin
+ 8 mL HCl đậm đặc + 1 L nước cất, giữ trong tủ ấm trên 2 giờ rồi rửa bằng nước
muối sinh lý 0,86% qua lưới lọc có mắt lưới 1x1 mm. Cỡ cá nghiên cứu đa dạng


HÌNH:
Hình 1: Vòng đời phát triển của Metacercaria 10
Hình 2: Hình dạng của Metacercaria dưới kính soi nổi 43
Hình 3: Hình dạng của Metacercaria dưới kính hiển vi 44
Hình 4: Metacercaria của Haplorchis pumilo 45

v
THUẬT NGỮ VÀ CHỮ VIẾT TẮT

- CTK: Tổng cục thống kê
- ctv: Cộng tác viên.
- FCR (Food Conversion Ratio): Hệ số chuyển đổi thức ăn.
- FZP (Fish-borne Zoonotic Parasite): Kí sinh trùng có nguồn gốc Thủy sản.
- KST: Kí sinh trùng - động vật có đời sống kí sinh.
- ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
- NTTS: Nuôi trồng thủy sản.
- ppt (part per thousand): Đơn vò tính phần ngàn
- std: Độ lệch chuẩn.
- VAC: Vườn ao chuồng
- WHO (World Health Organization): Tổ chức Y tế Thế giới.
- Ấu trùng: Các giai đoại trung gian trong vòng đời phát triển của sinh vật
trước khi trưởng thành.
- Cường độ nhiễm: Mật độ KST tính trên một đơn vò khối lượng.
- Tỉ lệ nhiễm: Phần trăm cá thể/ đơn vò bò nhiễm KST trong tổng số cá thể/
đơn vò nghiên cứu.
1

này ở Việt Nam cao hơn với 50% [19, 26, 38].
Sự lây nhiễm FZP cũng đang được quan tâm và tiến hành nghiên cứu ở
nhiều nước trên Thế giới nhằm đảm bảo sức khỏe cho con người trước tình hình
số người bò nhiễm FZP ngày càng tăng [29]. Thông qua dự án FIBZOPA (Fish
Borne Zoonotic Parasite), nước ta cũng đã tìm hiểu, đánh giá và nghiên cứu sự
lây nhiễm FZP. Dự án này được tài trợ bởi Cơ quan phát triển Quốc tế Đan Mạch
(Danida) thông qua hội đồng nghiên cứu phát triển (RUF) và Bộ Thủy sản
(MOFI) nhằm triển khai các nghiên cứu cần thiết để kiểm soát vấn đề dòch tễ học
của ký sinh trùng và phát triển các chương trình kiểm soát.
Đã có một vài nghiên cứu về tình hình nhiễm các FZP trên người và động
vật nhưng chỉ tập trung chủ yếu ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung nên đối
với miền Nam đây là vấn đề còn rất mới. Đối tượng nghiên cứu của dự án được
chia thành hai mảng: những loại thực phẩm thủy sản là mặt hàng xuất khẩu và
những thực phẩm tiêu thụ nội đòa có khả năng xuất khẩu.
Thời gian gần đây, khu vực Tây và Đông Nam Bộ đang phát triển phong
trào nuôi cá Trê lai do sự đòi hỏi ngày một tăng cao của thò trường trong nước và
thò trường xuất khẩu [9]. Mặt khác, cá Trê có những ưu điểm như: có khả năng
chòu đựng được các điều kiện môi trường khắc nghiệt, chu kỳ nuôi ngắn, giá bán
cao, ăn tạp và thòt ngon nên nó được xem là đối tượng nuôi cho nhiều nông hộ.
Đã có nhiều nghiên cứu trên cá Trê lai về các chỉ tiêu sinh hóa, sinh lý, sinh sản
cũng như việc phòng trừ một số bệnh phổ biến trên cá. Nhưng những nghiên cứu
về sự lây nhiễm FZP trên cá Trê lai, hay tình hình nhiễm Metacercaria vẫn chưa
được quan tâm.
Đề tài: “Điều tra kỹ thuật nuôi thương phẩm và tình hình nhiễm ấu
trùng Metacercaria trên cá Trê lai (đực C. gariepinus x cái C.
macrocephalus) tại Ô Môn - Cần Thơ và Chợ Gạo – Tiền Giang” nhằm xác

3
đònh tỉ lệ và cường độ nhiễm của ấu trùng Metacercaria trên cá Trê lai, trên cơ sở
đó đònh hướng người tiêu dùng sử dụng nguồn thực phẩm an toàn, giúp hạn chế

cầu, sản lượng của ngành NTTS tăng từ 5,3% (năm 1970) lên 32,2% (năm 2000),
ước tính đến năm 2030 sẽ có 50% lượng cá tiêu thụ trên Thế giới được cung cấp
từ ngành này [29]. Theo thống kê của WHO (năm 2001), trong tổng sản lượng
345,7 triệu tấn của ngành NTTS, Châu Á đã chiếm 91,3%. Vai trò chủ đạo của
ngành này sẽ còn tiếp tục được củng cố và phát huy hơn nữa khi dân số Thế giới
ngày một tăng, mức sống ngày càng được nâng cao, kinh tế ngày càng phát triển
và nhu cầu sử dụng thực phẩm có hàm lượng đạm cao cấp ngày càng được quan
tâm. Để đáp ứng được những nhu cầu trên, trong khi ngành khai thác đang gặp
khó khăn do nguồn lợi bò suy giảm, đòi hỏi sản lượng từ NTTS phải tăng và tăng
gấp đôi trong vòng 25 năm tới [29].
Điều kiện tự nhiên của Việt Nam rất được thuận lợi cho NTTS. Diện tích
có khả năng sử dụng cho NTTS rất lớn, với 120.000 ha diện tích ao hòa nhỏ -
mương vườn; 340.000 ha diện tích mặt nước lớn; 580.000 ha diện tích ruộng trũng
có thể kết hợp sản xuất nông nghiệp với NTTS; 660.000 ha vùng triều bãi bồi
ven biển và 300.000 - 400.000 ha diện tích mặt nước ven biển, ven đảo, đầm,
phá, eo, vụng …[13].
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thò trường trong khu vực, ngành
thủy sản của Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh và ngày càng khẳng đònh vò trí
của mình trên thế giới. Trong mô hình sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản, tỷ
lệ của hộ nông nghiệp giảm từ 97,5% xuống còn 95,8% nhưng ngược lại, tỷ lệ hộ
thủy sản tăng từ 2,35% lên 4,91%. Lao động thủy sản tính đến năm 2001 là 1,14
triệu người, tăng gấp đôi so với năm 1994 [18].

5
Trong những năm gần đây, ngành NTTS Việt Nam đã có những bước phát
triển đáng kể. Trong cơ cấu sản phẩm của ngành NTTS, cá giữ vai trò quan trọng
với tỉ lệ 86,2% tổng sản lượng [18]. Tính đến năm 2002, cả nước đã có trên
955.000 ha diện tích mặt nước phục vụ cho NTTS. Trong thời gian qua, sản lượng
sản phẩm thủy sản của ngành liên tục gia tăng với tốc độ ngày càng cao.


nuôi nước ngọt chiếm đến 492.000 ha trong tổng số 691.000 ha [4, 11, 18, 35].

6
2. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ TRÊ LAI
2.1. Hệ thống phân loại
Bộ: Siluriformes
Họ: Claridae
Giống: Clarias Scopoli, 1777.
Loài: Cá Trê phi: C. gariepinus Burchell
Cá Trê vàng: C. macrocephalus Gunther, 1984.
Cá Trê lai: đực C. gariepinus x cái C. macrocephalus
2.2. Đặc điểm sinh học
2.2.1. Cá Trê phi
Cá Trê phi có nguồn gốc từ Châu Phi. Năm 1975, nhà khoa học người
Pháp Dekimpe đưa 74 con cả đực và cái vào trại dưỡng ngư Thủ Đức, đến năm
1979 chỉ còn 1 đực và 1 cái. Sau đó, phân Viện Nghiên cứu NTTS I (nay là Viện
Nghiên cứu NTTS II) nghiên cứu nuôi dưỡng và nhân giống thành công [1].
Cá Trê phi có đầu to và dẹp đứng, trên có 4 đôi râu. Thân cá thon dài và
dẹp dần về phía cuống đuôi, cuống đuôi hơi dài. Lưng cá màu xanh đen và có
điểm những bông sắc tố xanh đậm, bụng cá có màu trắng đục. Xương chẩm hình
chữ M với các gốc xương nhọn. Đây là loài cá ăn tạp. Thức ăn ưa thích thường là
cá nhỏ, ếch nhái, động vật thân mềm, côn trùng,…
Cá có thể sống trong điều kiện môi trường khắc nghiệt như: nhiệt độ từ 8,5
- 40,5
o
C; độ mặn từ 10 - 29 ppt, độ pH từ 4,5 - 10. Đặc biệt, cá có thể sống trong
điều kiện hàm lượng Oxy hoà tan rất thấp, đôi khi chỉ còn 0 mg/L. Cá Trê phi có
tốc độ tăng trưởng nhanh, sau 6 tháng nuôi đạt 0,6 - 1 kg/con.
Mùa vụ sinh sản của cá ngoài tự nhiên là vào đầu mùa mưa, nhưng trong
sinh sản nhân tạo có thể là quanh năm và tập trung vào đầu mùa mưa. Ngoài tự

Là con lai giữa cá đực Trê phi và cá cái Trê vàng, cá Trê lai tập trung
những ưu điểm của cá bố mẹ như sức chòu đựng cao, chu kỳ nuôi ngắn, ăn tạp,
thòt ngon,… Cá Trê lai ăn tạp và thiên về ăn động vật, thức ăn ưa thích là trùn chỉ
Tubifex.
Đầu cá Trê lai có dạng giống cá Trê vàng nhưng lại nổi sần như cá Trê
phi, đầu không to lắm, miệng rộng, có 4 đôi râu trong đó râu hàm trên dài nhất.
Xương chẩm có dạng chữ M với các gốc xương tù. Thân cá thon dài và dẹp ngang

8
về phía sau. Cuống đuôi ngắn, vây duôi chỉ có một thùy. Phần lưng của đầu và
thân có màu vàng nâu, phần bụng màu trắng vàng.
Cá có thể sống trong môi trường nhiệt độ 11 - 39
o
C , độ mặn 1 - 39 ppt.
Tuy nhiên cá Trê lai không có khả năng sinh sản do cá đực có mật độ tinh trùng
quá thấp, cá cái đem lai tạo với cá đực của các loài cá Trê khác thu được kết quả
không khả quan do tỉ lệ dò hình cao (71,14%).
Cá Trê lai có sức đề kháng bệnh cao hơn và có sức tăng trưởng trung gian
khi so sánh cùng với cá bố mẹ.

3. VÒNG ĐỜI PHÁT TRIỂN CỦA SÁN LÁ SONG CHỦ
Chu kỳ phát triển chung của sán lá song chủ trải qua các giai đoạn sau [8]:
Sán lá song chủ đẻ trứng, giao phóai trên cùng một cơ thể, trứng nhỏ nhưng số
lượng nhiều. Sán lá song chủ từ trứng phát triển thành cá thể trưởng thành phải
qua một quá trình phát triển phức tạp qua nhiều giai đoạn:
- Giai đoạn ấu trùng Miracidium: Trứng sau khi rơi vào nước nở ra ấu trùng
Miracidium có lông tơ và điểm mắt. Phần trước cơ thể có tuyến đầu, đoạn sau cơ
thể có một đám tế bào mầm có ống tiêu hóa đơn giản. Hệ thần kinh và bài tiết
không phát triển. Miracidium không ăn, sống tự do trong nước nhờ glucogen dự
trữ nên chỉ bơi một thời gian rồi nhờ tuyến đầu tiết men phân giải lớp biểu mô

trùng trưởng thành.
Các giống loài sán lá song chủ lấy cá làm ký chủ trung gian thứ hai, đa số
ấu trùng Cercaria chủ động xâm nhập vào cơ thể cá và hình thành Metacercaria,
một số ít giống loài ngoài môi trường, ký chủ cuối cùng trực tiếp nuốt bào nang
Metacercaria.
- Giai đoạn ấu trùng Metacercaria: Do có vỏ bao lại, cơ thể nằm trong bào
nang nên không vận động. Cấu tạo cơ thể gần giống trùng trưởng thành. Bề mặt

10
cơ thể có gai, giác miệng, giác bụng, lỗ miệng và lỗ bài tiết. Cấu tạo trong có cơ
quan tiêu hóa, cơ quan bài tiết, thần kinh và cơ quan sinh dục. Hệ thống sinh dục
của một số giống loài còn đơn giản nhưng cũng có những loài có cơ quan sinh dục
cái đã hoàn chỉnh, thậm chí có khi có xuất hiện trứng.
Metacercaria cùng với ký chủ trung gian thứ hai hoặc vật môi giới bò ký
chủ sau cùng ăn vào trong ống tiêu hóa, dưới tác dụng của dòch tiêu hóa vỏ bọc
vỡ ra, ấu trùng thoát ra ngoài và di chuyển đến cơ quan thích hợp phát triển thành
trùng trưởng thành.
Quá trình phát triển của sán lá song chủ có yêu cầu những ký chủ trung
gian nhất đònh, ký chủ trung gian thứ nhất là ốc, ký chủ trung gian thứ hai hoặc
cuối cùng thường là động vật nhuyễn thể, động vật có đốt, giáp xác, côn trùng,
cá, lưỡng thê, bò sát, chim và động vật có vú. Có loài yêu cầu đến ba hay bốn ký
chủ trung gian.

Hình 1: Vòng đời phát triển của sán lá song chủ [33]

11

4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LÂY NHIỄM FZP
4.1 Trên Thế giới
Năm 1995, số người nhiễm FZP đã lên đến 18 triệu người và 0,5 tỉ người

Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam
Opisthorchis felineus
Kazakhstan, Nga, Siberi, Ucraina
Opisthorchis viverrini
Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam
Fasciola hepatica
Cuba, Altiphano
Fasciola gigantica
Ecuado, Peru, Ai Cập, Iran, Thổ Nhó Kỳ, Bồ Đào NhaLoài phổ biến nhất hiện nay là Clonorchis sinensis được tìm thấy đầu tiên
vào năm 1875 bởi Cobbold. Năm 1910, Kobayasti tìm được họ cá chép
(Cyrinidae) là ký chủ trung gian thứ hai, ký chủ trung gian thứ nhất được xác đònh
là ốc nước ngọt vào năm 1918 do Muto công bố. Hình thể ấu trùng của C.
sinensis được nghiên cứu và mô tả bởi Faust và Khaw, Komiya và Suzuki [3].
Loài Opisthorchis viverrini được tìm thấy ở Đông Nam Á bởi Poirier,
Stiles và Hassal. Trong khi đó, loài cùng giống O. felineus được tìm thấy ở Nga
và Đông Âu bởi Blanchard năm 1895. Năm 1860, Cobbold lại phát hiện thêm
một loài mới Metorchis cojïnunctos ở Bắc Mỹ. Một loài khác Haplorchis taichui
(Nishigori, 1924) tìm thấy lần đầu tiên trên chim và động vật có vú ở miền Trung
Đài Loan, trên cơ thể hai ký chủ này lần đầu tiên người ta phát hiện ra loài cùng
giống H. pumilo ở Ai Cập, cả hai loài này hiện nay đang phân bố rộng khắp Châu
Á [28, 29].
Năm 1947, trên thế giới có khoảng 19 triệu người nhiễm C. sinensis và 1,1
triệu người nhiễm O. felineus. Năm 1960, có khoảng trên 1,5 triệu người nhiễm
O. viverrini trên toàn Thế giới. Số người nhiễm hiện nay đã tăng lên rất nhiều,
chỉ tính riêng Thái Lan là 7 triệu người. Cũng trong năm 1960, tại Nhật Bản, C.
sinensis đã gây nhiễm khắp trong cả nước nhưng được kiểm soát thành công. Tại


(Tilapia mossambica), cá Diếc (Carasius auratus), cá Rô đồng (Anabas
testudineus). Tuy nhiên đó cũng chỉ là bước khởi đầu bởi họ chưa nghiên cứu trên
tất cả các loài cá khác đang nuôi tại Việt Nam và chưa xác đònh được giai đoạn
cảm nhiễm, cơ quan cảm nhiễm, …

5. SỰ LÂY NHIỄM METACERCARIA
5.1. Tác hại của Metacercaria
Ấu trùng Metacercaria khi ký sinh trên cá gây chết rải rác đến hàng loạt
chủ yếu ở giai đoạn cá giống (như Metacercaria của Diplostomulum ký sinh trên
mắt cá), làm giảm giá trò thâm canh của cá thòt (Metacercaria của Clonorchis và
Opisthorchis) [5].
Khi lây nhiễm sang người, Metacercaria phát triển thành cá thể trưởng
thành gây nên các bệnh nguy hiểm như sán lá gan, sán lá phổi, sán lá ruột. Trên
thực tế hiện nay đã có thuốc trò nhưng chi phí còn quá cao nên khó có thể trò triệt
để khi mắc bệnh. Người mắc các bệnh này thường gầy yếu, thiếu máu, suy gan
do các kí sinh trùng này sử dụng chất dinh dưỡng và phá hoại cơ thể.
5.2. Sự lây nhiễm Metacercaria
Metacercaria được lây nhiễm khi con người và động vật ăn thực phẩm có
chứa Metacercaria nhưng chưa nấu chín, vì vậy Metacercaria còn sống và có khả
năng phát triển tạo thành cá thể trưởng thành tiếp tục đời sống ký sinh trên cơ thể
ký chủ cuối cùng. Những nhân tố sinh thái học chủ yếu ảnh hưởng đến tỉ lệ lây
nhiễm các FZP bao gồm điều kiện môi trường sinh thái, phong tục tập quán và tự
nhiên xã hội.
Môi trường sinh thái là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sự xuất hiện
Metacercaria thông qua sự tồn tại của các ký chủ trung gian. Trong môi trường
nước, các thông số về chất lượng môi trường, nhiệt độ và dòng chảy,… có liên
quan đến sự xuất hiện của các loài ký chủ trung gian như ốc, cá, giáp xác, thực

15
vật thủy sinh, … Tùy từng loài ký chủ sẽ thích nghi với từng điều kiện môi trường

Quốc và Thái Lan có số người nhiễm FZP cao vì nơi đây có các món ăn đặc sản
bằng các loài thủy sản sống như: Zhu-shi, Lab Pla, Pla Som, Koi Pla,… Thật vậy tỉ
lệ nhiễm FZP tập trung ở độ tuổi nam giới là 25 – 55 tuổi và phụ nữ trên 45 tuổi,
trong đó nam giới nhiễm cao hơn nữ giới và người lớn nhiễm nhiều hơn trẻ em.
Người ta cho rằng sỡ dó nam giới bò nhiễm cao là do họ có thói quen thường nhậu
với các món tái hay gỏi [23, 27]. Do đó cần phải nấu chín thức ăn để bất hoạt
Metacercaria là biện pháp ngăn ngừa dễ thực hiện nhất khi sử dụng thực phẩm
thủy sản.
Đối với những quốc gia và những vùng phát triển có cuộc sống văn minh
hơn nên vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm và sức khoẻ cộng đồng được chú
trọng. Chất thải sinh hoạt được thu gom và xử lý chứ không thải bừa bãi vào môi
trường như các vùng nông thôn hẻo lánh, do đó trứng của FZP không có khả năng
phát triển và lây lan được. Hiện tại cũng còn đa số các vùng nuôi thủy sản theo
phương pháp truyền thống sử dụng phân tươi làm thức ăn và thải chất thải trực
tiếp xuống ao [15] nên thực phẩm rất dễ bò nhiễm Metacercaria. Cần hạn chế mô
hình nuôi này và phát triển các mô hình nuôi hiện đại hơn cho nông hộ.
Trong khi những thông tin về vấn đề lây nhiễm FZP đang còn rất hạn chế,
đặc biệt là đối với nhừng vùng nông thôn xa xôi thì tỉ lệ nhiễm FZP vẫn không
ngừng gia tăng theo thời gian nhưng không kiểm soát được. Cần phải tuyên
truyền và giáo dục cho người dân về tình hình lây nhiễm, con đường xâm nhập
cũng như tác hại của các FZP. Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên Thế giới,
đây không phải là việc làm có thể đạt kết quả trong một sớm một chiều mà đòi
hỏi sự kiên trì, quyết tâm và hợp tác làm việc của các nhà khoa học, nhà NTTS
và người tiêu dùng.

17
Vì vậy, việc không ngừng phổ biến thông tin về tình hình lây nhiễm FZP
trên các phương tiện thông tin đại chúng là rất cần thiết và có hiệu quả hơn là
phải ràng buộc con người vào những quy đònh khắc khe của pháp luật. Những
thông tin về phương pháp chế biến và các loài ký chủ trung gian rất quan trọng

có những loại rau quả hoặc cá trong tự nhiên, nhất là ở trong các ao cạnh nhà.
- Dân số tăng nhanh đã có nhiều tác động có hại hơn lên môi trường, làm
môi trường bò suy thoái hay ô nhiễm nghiêm trọng đặc biệt là nguồn nước.
- Trong 4 - 5 thập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển của ngành nông
nghiệp, hệ thống đê đập phục vụ được xây dựng, đến nay đã có một khu hệ thủy
sinh vật phát triển đầy đủ tạo thuận lợi cho việc khép kín vòng đời của các ZPT.
5.3. Bất hoạt Metacercaria
Song song với việc tìm hiểu đặc điểm của các loài sán lá song chủ, đánh
giá tình hình và tỉ lệ nhiễm, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu nhằm đưa ra
một số phương pháp phòng trò loại bệnh này. Phương pháp phòng bệnh nhằm đưa
ra các giải pháp hạn chế việc sử dụng thực phẩm thủy sản sống, khuyến khích
dùng thực phẩm đã nấu chín và các biện pháp nhằm cắt đứt vòng đời của sán.
Biện pháp trò chủ yếu là dùng các thuốc kháng sinh như: Praziquantel, Heltol,
Dehydroemetin, Niclofolan, … [3].
Theo Murrell và ctv [33] Metacercaria ký sinh trên cá và động vật thủy
sản cá thể bò bất hoạt khi dùng các biện pháp sau:
- Lưu giữ ở –20
o
C hoặc thấp hơn trong vòng 7 ngày.
- Đông lạnh ở –35
o
C hoặc thấp hơn cho đến khi đông cứng và bảo quản ở
nhiệt độ –35
o
C hay thấp hơn trong 15 giờ.
- Đông lạnh ở –35
o
C hay thấp hơn cho đến khi đông cứng và bảo quản ở
–20
o


6 9 ngày Hamed và Elias, 1970

50 180 phút Hamed và Elias, 1970

100 10 phút Hamed và Elias, 1970

Một số phương pháp khác đã được nghiên cứu như bất hoạt Metacercaria
của Metagonimus yokogawai ở dung dòch nước giấm 7% acetic acid trong 2 giờ,
trong nước sốt đậu soya liên tục 6 giờ. Nhưng cần đến 10 ngày trong nước muối
sinh lý, 2 tuần trong nước máy và 3 ngày trong rượu gạo [1].
Metacercaria của Fasciolis chết ngay sau 20-30 phutù phơi trực tiếp
dưới nắng và cần 19 giờ phơi khô ở 27
o
C. Còn Metacercaria của Clonorchis
sinensis sẽ bò mất hoạt tính khi ngâm trong dung dòch nước muối 10% trong ít
nhất 1 tuần.

Trích đoạn Thả giống Kết quả khi phân tích gộp chung Các loài Metacercaria nhiễm trên cá Trê lai VAC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status