tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm he chân trắng - Pdf 10

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
PHẠM PHÚC LỢI TÌM HIỂU KỸ THUẬT NUÔI THƯƠNG PHẨM TÔM HE CHÂN TRẮNG
(Penaeus vannamei Boone, 1931) TẠI XÃ PHƯỚC THỂ, HUYỆN TUY
PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN Đồ án tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Nuôi trồng Thủy sản, khóa 2004 – 2009



Giáo viên hướng dẫn
TS. Hoàng Thị Bích Đào

Nha Trang, năm 2009
i

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm
tôm he chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931) tại xã Phước Thể, huyện
Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận”. Cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận
được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong khoa Nuôi trồng thủy sản - trường
Đại học Nha Trang, sự quan tâm động viên của gia đình và bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ts. Hoàng Thị Bích Đào, đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Bộ môn Cơ Sở Sinh Học – Nghề Cá thuộc khoa Nuôi trồng thủy sản, các
thầy cô trong khoa Nuôi trồng thủy sản.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới anh Nguyễn Văn Dương – chủ cơ sở
nuôi tôm he chân trắng thương phẩm tại Phước Thể - Tuy Phong – Bình Thuận đã
tạo điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ trong suốt thời gian tại cơ sở.
Gia đình đã tạo điều kiện vật chất cũng như tinh thần giúp tôi hoàn thành
xuất sắc đề tài.
Xin cảm ơn bạn bè đã giúp đỡ, đóng góp cho tôi trong suốt thời gian qua.


1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng 4

1.1.6. Đặc điểm sinh trưởng, sinh sản 5

1.2. Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên thế giới và Việt Nam 6

1.2.1. Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên thế giới 6

1.2.2. Tình hình nuôi tôm he chân trắng ở Việt Nam 8

1.2.3. Tình hình nuôi tôm he chân trắng ở Tuy Phong – Bình Thuận 10

1.3. Các yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm 12

1.3.1. Yếu tố hữu sinh (tảo) 12

1.3.2. Yếu tố vô sinh (thủy lý, thủy hóa) 12

CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1. Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu 15
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 15

2.3. Phương pháp nghiên cứu 16

2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu 16

iii



4.1. Kết luận 50

4.2. Đề xuất ý kiến 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO iv

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Phương pháp thu thập số liệu các yếu tố môi trường ao nuôi 17

Bảng 3.1. Mật độ thả giống tại cơ sở 27

Bảng 3.2. Bảng theo dõi lượng thức ăn ao E
1
30

Bảng 3.3. Các thông số môi trường ao nuôi tại cơ sở 32

Bảng 3.4. Các loại hóa chất được sử dụng trong quá trình nuôi 42

Bảng 3.5. Kết quả theo dõi sự tăng trưởng của tôm theo thời gian nuôi 43

Bảng 3.6. Kết quả nuôi 47

Bảng 3.7. Chi phí sản xuất trung bình cho một ao nuôi 48


1
33

Hình 3.13. Diễn biến nhiệt độ ao E
2
33

Hình 3.14. Diễn biến pH ao E
1
34

Hình 3.15. Diễn biến pH ao E
2
35

Hình 3.16. Diễn biến độ mặn (S‰) ao E
1
, E
2
36

Hình 3.17. Diễn biến độ kiềm ao E
1
37

Hình 3.18. Diễn biến độ kiềm ao E
2
37

Hình 3.19. Diễn biến hàm lượng oxy hòa tan trong nước ao E

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
NN & PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
FAO: Food and Agriculture Organization
PL: Postlarvae
FCR: Hệ số chuyển đổi thức ăn
1

MỞ ĐẦU

Những năm gần đây, nghề nuôi tôm trên thế giới, đặc biệt là các nước Châu
Á phát triển rất mạnh và đạt đến trình độ kỹ thuật cao. Nghề nuôi tôm đã thu hút
được các thành phần kinh tế và mọi lực lượng tham gia, diện tích mặt nước đưa vào
nuôi thủy sản ngày càng tăng, đối tượng nuôi ngày càng đa dạng hóa và kỹ thuật
nuôi không ngừng được cải tiến.
Việt Nam có 3260 km bờ biển, với hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, vùng ven bờ
với 10 vạn ha đầm phá, eo vịnh kín, khoảng 25 ha rừng ngập mặn, 29 ha bãi triều,
có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn lao động dồi dào, lợi nhuận thu được cao là
những nhân tố cơ bản làm cho nghề nuôi tôm của nước ta phát triển mạnh mẽ trong
những năm gần đây.
Bình Thuận là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích ven sông ven
biển lớn rất thuận lợi để phát triển nghề nuôi tôm. Với thuận lợi về điều kiện tự
nhiên cùng với việc phát triển nuôi tôm trên cát đã tạo cho người nuôi hướng đi
mới. Vấn đề đặt ra là phải tìm được đối tượng nuôi phù hợp nhằm hạn chế rủi ro và
đem lại hiệu quả kinh tế là rất cần thiết.
Trong những năm gần đây, tôm he chân trắng (Penaeus vannamei Boone,
1931) là một đối tượng mới đang được chú ý, có triển vọng phát triển rộng rãi ở
nhiều nước Châu Á. Đây là loại có nhiều ưu điểm như: thịt thơm ngon và chắc, có
giá trị dinh dưỡng cao, lớn nhanh, có thể nuôi 1 – 3 vụ trong năm, có khả năng
thích nghi với biên độ dao động nhiệt độ và độ mặn rộng, sức kháng bệnh khá tốt.

1.1.1. Hệ thống phân loại
Hệ thống phân loại của tôm he chân trắng như sau:
Ngành chân khớp: Arthropoda
Ngành phụ có mang: Branchiata
Lớp giáp xác: Crustacea
Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ bơi lội: Natantia
Họ tôm he: Penaeidae
Giống tôm he: Penaeus
Loài: Penaeus vannamei (Boone, 1931)
Tên khoa học: Litopenaeus vannamei
Tên tiếng Anh: Whiteleg shrimp
Tên FAO: Camaron patiplanco
Tên Việt Nam: Tôm chân trắng, tôm he chân trắng, tôm thẻ chân trắng, tôm
bạc Thái Bình Dương.
Đặc điểm phân loại: Dưới chủy có 2 – 4 răng cưa dài vừa phải, vượt cuống
râu (ở con non) đôi khi dài tới đốt râu thứ 2. Vỏ giáp có những gai gân và gai râu
rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi, gờ sau chủy dài, gờ và rãnh bên chủy ngắn,
thân màu trắng đục.
1.1.2. Đặc điểm phân bố
Tôm he chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931) phân bố chủ yếu ở ven
biển Tây Bắc Thái Bình Dương, Châu Mỹ, từ ven biển Mehico đến miền trung
Peru, nhiều nhất ở vùng biển gần Ecuado [4].

4

1.1.3. Đặc điểm hình thái
Tôm có màu trắng đục, trên thân không có đốm vằn, vỏ tôm trắng mỏng,
nhìn vào cơ thể có thể thấy rõ đường ruột và các đốm nhỏ dày đặc từ lưng xuống
bụng. Các chân bò có màu trắng ngà, chân bơi có màu vàng nhạt. Các vành chân

- 2 g/tuần tới cỡ 20g tôm lớn chậm dần. Tùy theo thời gian nuôi, khoảng 75 - 85
ngày tôm có thể đạt cỡ 10 – 12 g/con. Tôm he chân trắng sinh trưởng thông qua
quá trình lột xác, chu kỳ lột xác phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển. Cũng như
các loại tôm khác, ở giai đoạn nhỏ tôm he chân trắng có chu kỳ lột xác ngắn và chu
kỳ lột xác kéo dài dần theo thời gian phát triển. Tôm nhỏ sau khi lột xác chỉ cần vài
giờ vỏ cứng lại, khi tôm lớn cần khoảng 1 – 2 ngày.
w Đặc điểm sinh sản
* Mùa vụ sinh sản: ở biển, trong phân bố tự nhiên đều bắt được tôm mẹ ấp
trứng. Ở Bắc Ecuado mùa đẻ rộ vào tháng 4 – 5. Ở Peru mùa tôm đẻ chủ yếu từ
tháng 12 đến tháng 4.
Tôm he chân trắng thuộc loại có túi chứa tinh mở (open thelycum) khác với
loại hình túi chứa tinh kín (closed thelycum) như của tôm sú và tôm he Nhật Bản.
Trình tự của loại hình có túi chứa tinh mở là: (tôm mẹ) lột xác " thành thục " giao
phối (thụ tinh) " đẻ trứng " ấp nở [4].
* Giao phối: tôm đực và tôm cái tìm nhau giao phối, sau khi mặt trời lặn.
Tôm đực phóng các chùm tinh từ cơ quan giao cấu petesma, cho dính vào chân bò
thứ 3, thứ năm của con cái, có khi dính lên cả thân con cái. Trong điều kiện nuôi tỷ
lệ tôm giao phối tự nhiên có kết quả rất thấp [4].
* Sức sinh sản và đẻ trứng: Buồng trứng tôm cái thành thục có màu hồng.
Trứng sau khi đẻ có màu vỏ đậu xanh. Tôm mẹ dài cỡ 14cm có sức sinh sản tuyệt
đối 10 – 15 vạn trứng. Sau mỗi lần đẻ trứng, buồng trứng tôm lại phát dục tiếp, thời
gian giữa hai lần đẻ cách nhau 2 – 3 ngày (đầu vụ chỉ khoảng 50 giờ). Con đẻ nhiều
nhất tới trên 10 lần/năm, thường sau khi đẻ 3 – 4 lần liền thì có một lần lột xác.
Tôm cái đẻ trứng chủ yếu vào thời gian từ 1 – 3 giờ sáng. Thời gian từ lúc bắt đầu
đẻ đến lúc đẻ xong chỉ độ 1 – 2 phút. Các chùm tinh của con đực được dùng sinh
6

sản nhiều lần. Tôm cái trứng đã thành thục nhưng không được thụ tinh, vẫn có thể
đẻ trứng bình thường nhưng ấp không nở [4].
1.2. Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên thế giới và Việt Nam

Sau khi được nhiều nước châu Mỹ nuôi nhân tạo thành công và có hiệu quả
cao, tôm chân trắng được di giống sang nuôi ở Hawaii và Hoholulu của Mỹ. Từ đây
tôm chân trắng lan sang Đông Á và Đông Nam Á.
Trung Quốc là nước châu Á quan tâm tới tôm he chân trắng sớm nhất, từ
năm 1998 đã công bố nuôi thành công tôm này và sẵn sàng chuyển giao công nghệ
cung cấp con giống và kỹ thuật nuôi cho nước khác. Tỉnh Quảng Đông – Trung
Quốc tôm he chân trắng trở thành đối tượng nuôi số một, được nuôi rộng rãi ở nước
biển và nước ngọt với năng suất 7,5 tấn/ha/vụ, có cơ sở đạt 10 tấn/ha/vụ. Năm
2001, Trung Quốc đã xuất khẩu sang Mỹ 48.000 tấn tôm đông lạnh (chủ yếu là tôm
he chân trắng). Theo số liệu của FAO, sản lượng tôm của Trung Quốc năm 2003
đạt 390.000 tấn, có khoảng 60% là tôm he chân trắng. Năm 2004, Trung Quốc tăng
sản lượng nuôi tôm lên 400.000 tấn, chủ yếu là tôm he chân trắng, đến nay con số
này còn cao hơn nhiều. Năm 2007, ở Trung Quốc tôm chân trắng chiếm gần 80%
trong tổng sản lượng 1 triệu tấn của nước này.
Hiện nay tôm he chân trắng là đối tượng nuôi chính trên thế giới trong vùng
nước lợ, mặn. Theo FAO, dự kiến sản lượng nuôi năm 2007 chiếm 80% tổng sản
lượng tôm nuôi, 85% sản lượng tập trung ở các nước Đông Nam Á. Các nước nuôi
nhiều tôm he chân trắng là Thái Lan, Trung Quốc, Indonexia, Malaysia, Philippin,
Ecuado, Mehico, Panama, Colombia, Hondurat, Brazil, Mỹ.
Thái Lan đã ứng dụng công nghệ một cách hiệu quả ở mọi vị trí trong các
công đoạn sản xuất tôm he chân trắng. Từ năm 2001 đã diễn ra quá trình chuyển
đổi mạnh mẽ sang đối tượng nuôi mới là tôm he chân trắng sạch bệnh, đã làm tăng
lợi nhuận của nghề nuôi tôm nước này một cách đáng kể. Năm 2003 nước này sản
xuất 140.000 – 150.000 tấn tôm he chân trắng, đến năm 2006 sản lượng tôm he
chân trắng của Thái Lan là 500.000 tấn, chiếm 95% sản lượng tôm nuôi [7, 1].
8

Tôm he chân trắng đang dần chiếm một vị thế cao trong nghề nuôi tôm.
Năm 2007 tổng sản lượng nuôi tôm trên toàn thế giới ước đạt 3,3 triệu tấn, trong đó
sản lượng tôm chân trắng chiếm 63%. Ngay tại châu Á “quê nhà” của tôm sú, trong

Hiện tỉnh Khánh Hòa có 372 cơ sở tôm sú giống và 16 cơ sở sản xuất tôm he chân
trắng; tỉnh Ninh Thuận có hơn 700 cơ sở giống, trong đó có 22 cơ sở sản xuất tôm
he chân trắng; tỉnh Bình Thuận có 168 cơ sở sản xuất tôm giống, trong đó có 11 cơ
sở sản xuất giống tôm he chân trắng. Như vậy trong tổng số hơn 1.240 cơ sở trên,
chỉ có 49 cơ sở sản xuất giống tôm he chân trắng. Tuy nhiên tất cả những cơ sở
giống tôm he chân trắng lại là những cơ sở rất lớn, công suất gấp hàng chục lần các
cơ sở giống tôm sú. Kế hoạch sản xuất tôm giống của 3 tỉnh đạt 10,5 tỷ tôm sú và
9,0 tỷ tôm he chân trắng bằng khoảng 50% nhu cầu giống của cả nước. Các cơ sở
giống tôm he chân trắng đang bước vào vụ sản xuất, đã nhập tôm bố mẹ có nguồn
gốc xuất xứ từ Hawaii. Mỗi cơ sở có từ 500 đến hơn 1.000 cặp tôm bố mẹ và đang
tiếp tục nhập thêm.
Một số công ty đã thuê khoán sản phẩm cho chuyên gia người Trung Quốc,
Philippin, Ecuquado trực tiếp làm kỹ thuật để nâng cao hiệu quả sản xuất tôm
giống. Hiện nay có 2 loại hình cơ sở sản xuất giống tôm he chân trắng. Một số cơ
sở chỉ sản xuất Nauplius bán cho các cơ sở ương Postlarvae và một số cơ sở sản
xuất Nauplius rồi ương thành Postlarvae để bán. Giá Nauplius khoảng 2,0
đồng/con. Giá tôm Post từ 20-35 đồng/con gồm cả giá vận chuyển có khuyến mại
thêm số lượng khoảng 10% [9].
Tôm chân trắng đã và đang nuôi phát triển theo chiều hướng tốt trên vùng
đất thịt, đất cát từ Quảng Ninh đến Bình Thuận, sản lượng tôm chân trắng chiếm 5-
7% sản lượng tôm nuôi trên phạm vi cả nước. Nhiều cơ sở nuôi đạt năng suất cao
từ 12-24 tấn/ha, khối lượng tôm thu hoạch từ 10 – 13 gram, đa số nuôi từ 2 – 3
vụ/năm. Hiệu quả kinh tế khá, thị trường thế giới có nhu cầu lớn, góp phần an sinh
xã hội và ngày càng có nhiều nhà đầu tư muốn nuôi tôm chân trắng. Tuy nhiên, ở
một số địa phương, nhiều hộ nuôi tôm chân trắng vẫn bị thua lỗ là do việc phát
triển nuôi không theo quy hoạch, việc chấp hành quy định tạm thời về nuôi tôm
chân trắng ở nhiều hộ nuôi không nghiêm chỉnh, đặc biệt khâu sử dụng giống tuỳ
tiện, chất lượng kém, thiếu nước ngọt, nước ngầm dẫn đến nuôi tôm không hiệu
quả, đồng thời một số địa phương quản lý không chặt chẽ.
10

tôm sú bị nhiễm bệnh và gây thiệt hại khá lớn nên một số hộ chuyển qua nuôi xen
canh tôm he chân trắng trong thời gian trái vụ tôm sú, lấy giống chủ yếu tại Công ty
TNHH Asia Hawaii Ventures. Lúc này Bộ Thủy Sản chưa cho nuôi tôm he chân
trắng phổ biến.
11

Những tưởng, nghề nuôi tôm ở Tuy Phong sẽ không đứng được, song từ
những bài học đắt giá đó, nghề nuôi tôm ở đây đang có chiều hướng phục hồi. Đến
năm 2006 tổng diện tích nuôi tôm toàn huyện là 406 ha, trong đó chủ yếu là nuôi
tôm sú. Diện tích nuôi tôm he chân trắng ở huyện Tuy Phong tuy có nhưng không
đáng kể, chủ yếu là người dân nuôi tự phát, chưa có quy hoạch cụ thể cho đối tượng
này [10].
Tới những năm gần đây, nuôi tôm thẻ chân trắng mới được phổ biến rộng
rãi. So với tôm sú, tôm he chân trắng có nhiều ưu điểm hơn như: lớn nhanh, phát
triển tương đối đồng đều, thời gian nuôi ngắn (2,5 – 3 tháng), có thể nuôi với mật
độ cao (trên 100 con/m
2
), chi phí thấp, sức kháng bệnh tốt, chịu được sự thay đổi
điều kiện môi trường hơn, năng suất cao.
Hiện tại nuôi tôm he chân trắng ở Tuy Phong cũng gặp khá nhiều khó khăn
giống như tình hình chung của cả nước. Đầu tư ban đầu cao hơn nhiều so với nuôi
tôm sú. Chỉ tính riêng con giống, nếu nuôi 1 ha, mật độ thả 100 con/m
2
thì phải bỏ
ra 50 triệu đồng tiền giống, cao gấp 4 lần so với tôm sú. Trường hợp xảy ra dịch
bệnh, người nuôi dễ bị trắng tay. Do giá tôm sú xuất khẩu giảm, giá tôm he chân
trắng cũng đã giảm mạnh. Trước đây 1 kg tôm he chân trắng (cỡ 80 con/kg) có giá
55.000 đồng, nay chỉ còn 45.000 – 48.000 đồng. Cùng với giá xuống thấp, người
nuôi tôm he chân trắng đang phải đối mặt khó khăn trong khâu tiêu thụ. Hầu hết
việc tiêu thụ nguyên liệu đều qua tư thương nên xảy ra tình trạng ép cỡ, ép giá.

vật, mỗi sinh vật nói chung chỉ sống ở giới hạn độ mặn thích hợp. Đối với tôm, mỗi
loài có khoảng độ mặn thích hợp khác nhau và khoảng độ mặn thích ứng còn thay
đổi theo các giai đoạn phát triển. Độ mặn ảnh hưởng trực tiếp tới việc điều hòa áp
suất thẩm thấu của tôm, việc thay đổi độ mặn vượt ra ngoài giới hạn thích ứng của
tôm sẽ gây sốc và kết quả làm giảm sức kháng bệnh của tôm. Tôm he chân trắng
13

thích ứng với độ mặn 0 - 50‰, khoảng độ mặn thích hợp cho tôm phát triển là 10 -
30‰.
- pH: có vai trò rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới tôm
nuôi, pH thấp làm tăng H
2
S, dẫn đến gây ngộ độc cho tôm nuôi. Khi pH cao làm
tăng hàm lượng NH
3
, ảnh hưởng đến quá trình bài tiết của tôm. pH trong ao nuôi
tôm he chân trắng từ 7,0 – 9,3 và khoảng thích ứng từ 7,7 – 8,3. Nếu pH < 7 và pH
> 9,3 đều không thích hợp cho tôm he chân trắng. Sự biến động của pH trong ngày
là thấp vào buổi sáng và cao vào buổi chiều, điều này liên quan chặt chẽ tới quá
trình quang hợp của tảo trong ao nuôi, sự thay đổi của điều kiện thời tiết bên ngoài.
Việc quản lý pH thông qua duy trì sự phát triển ổn định của tảo và sử dụng hóa chất
như vôi…
- Hàm lượng Oxy: vai trò của oxy trong nước là duy trì sự sống, hàm lượng
oxy hòa tan trong nước là một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ
sống và tốc độ tăng trưởng của tôm. Trong ao nuôi tôm, hàm lượng oxy hòa tan
thấp sẽ làm tôm chậm lớn, có thể gây chết tôm do thiếu dưỡng khí, một biểu hiện rõ
nhận thấy khi thiếu oxy sẽ làm tôm nổi đầu. Oxy hòa tan được tạo ra do quá trình
quang hợp của thực vật phù du và thực vật thủy sinh khác có trong ao. Độ tiêu hao
oxy trong các ao nuôi tôm chịu ảnh hưởng rõ rệt vào tác động kỹ thuật của con
người. Nuôi tôm với mật độ dày và tăng cường biện pháp cho ăn thức ăn bổ sung là

tôm độ kiềm nằm trong khoảng từ 80 – 150 mgCaCO
3
/l được coi là thích hợp, thích
hợp nhất là từ 80 – 120 mgCaCO
3
/l, nó sẽ thúc đẩy phiêu sinh vật cũng như tôm
14

sinh trưởng và phát triển tốt. Độ kiềm rất quan trọng trong ao nuôi, vì nó có vai trò
làm hệ đệm, cung cấp CO
2
cho quá trình quang hợp. Tuy nhiên cần chú ý khi độ
kiềm thấp thì rất nguy hiểm cho tôm [3].
- Khí H
2
S: trong môi trường ao nuôi tôm, hydrosulfua tồn tại ở một số dạng
H
2
S, HS
-
, S
2-
. Nhưng trong tất cả các dạng trên thì chỉ có H
2
S là độc, mức độ độc
của H
2
S có liên quan đến nhiệt độ và pH. Hàm lượng H
2
S an toàn cho tôm nên <
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu.
Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm he chân trắng
(
Penaeus vannamei
Boone, 1931)

Tìm hiểu điều kiện tự nhiên
và hệ thống công trình ao
nuôi ở cơ sở thực tập
Tìm hiểu về kỹ thuật nuôi
tôm he chân trắng thương
phẩm
Đánh giá kết quả
Chuẩn
bị ao
Chọn
giống

thả
giống
Phòng
và trị
bệnh
Quản
lý môi

chuẩn bị các trang thiết bị như: quạt nước, nhá, máy bơm…).
- Chọn tôm giống, thả giống, mật độ:
+ Chọn tôm giống – nguồn gốc, kích cỡ, màu sắc, hoạt động bơi lội của tôm
giống…
+Thả giống – phương pháp thả giống (thời gian, kỹ thuật thả, mật độ …).
- Thức ăn và kỹ thuật cho ăn (loại thức ăn, thành phần dinh dưỡng, cách pha
trộn thức ăn, cách cho tôm ăn, cách điều chỉnh khẩu phần thức ăn theo tuổi của
tôm, xem xét mức độ no, đói của tôm…).
- Kỹ thuật quản lý môi trường (thu thập số liệu, theo dõi diễn biễn của các
yếu tố môi trường trong ao nuôi: pH, độ kiềm, màu nước…).
- Theo dõi tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm.
+ Dùng nhá hoặc chài để bắt tôm kiểm tra, đo khối lượng tôm bằng cân đồng
hồ, độ chính xác 1g (thấm khô tôm trước khi đặt lên cân).
+ Đo chiều dài của tôm: dùng thước đo từ chủy đầu cho tới cuống Telson, độ
chính xác 1mm.
+ Địa điểm thu mẫu theo quy tắc đường chéo. Một tuần kiểm tra một lần, số
lượng mẫu là 30 con cho mỗi lần kiểm tra khi tôm nhỏ (dùng nhá), khi tôm lớn thì
số mẫu khoảng 200 – 300 con/lần kiểm tra (dùng chài).
- Phòng và trị bệnh (những bệnh thường gặp, loại thuốc được sử dụng,
phương pháp…).
17

Bảng 2.1. Phương pháp thu thập số liệu các yếu tố môi trường ao nuôi
Yếu tố Dụng cụ đo Thời gian đo Ghi chú
Nhiệt độ (
o
C) Nhiệt kế 6
h
và 14
h

nuôi.
2.3.2. Các công thức tính toán
- Tính khối lượng tôm trung bình: W(g/con) =
)(
)(
conn
gM

(W khối lượng tôm trung bình; M tổng khối lượng tôm làm mẫu; n số lượng
tôm chài được).
- Tính tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (ADG) theo khối lượng của tôm.
ADG
w
(g/ngày) =
12
12
tt
WW



W
2
– Khối lượng tôm đo tại thời điểm t
2
.
W
1
– Khối lượng tôm đo tại thời điểm t
1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status