BỘ
GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI LÊ THỊ THẢO
MỐI QUAN HỆ GIỮA KHỐI LƯỢNG GÀ CON MỘT TUẦN TUỔI
VỚI KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ NUÔI GÀ
BROILER TRONG VỤ HÈ THU VÀ ðÔNG XUÂN TẠI NAM ðỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60 62 40 Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Mai Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện ñề tài và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận
ñược sự quan tâm, giúp ñỡ của rất nhiều người.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Mai – người
ñã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo bộ môn Chăn nuôi
chuyên khoa, bộ môn Di truyền giống, Viện ðào tạo sau ðại học Trường ðại
học Nông nghiệp Hà Nội.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Thạc sĩ Phạm Thị Thanh Bình - Giám ñốc
giám sát chăn nuôi gia công của Công ty cổ phần Japfa Comfeed Việt Nam và
trang trại gia công của ông Bùi Duy ðương tại xã Kim Thái- huyện Vụ Bản-
tỉnh Nam ðịnh ñã tạo mọi ñiều kiện thuận lợi ñể tôi tiến hành ñề tài.
Và tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh ñạo Sở Nông nghiệp và
PTNT tỉnh Nam ðịnh, Phòng Chăn nuôi, bạn bè, ñồng nghiệp và người
thân ñã tạo ñiều kiện, ñộng viên tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện
ñề tài, hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 09 tháng 9 năm 2011
Tác giả luận văn
Lê Thị Thảo Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
iii
2.3.1. Ảnh hưởng của dòng, giống 9
2.3.2. Ảnh hưởng của giới tính 11
2.3.3. Ảnh hưởng của tốc ñộ mọc lông 12
2.3.4. Ảnh hưởng của thức ăn 12
2.3.5. Ảnh hưởng của nhiệt ñộ 14
2.3.6. Ảnh hưởng của ñộ ẩm không khí 15
2.3.7. Ảnh hưởng của chế ñộ chiếu sáng 16
2.3.8. Ảnh hưởng của mật ñộ nuôi 17
2.3.9. Ảnh hưởng của cấu trúc cơ thể ñến sinh trưởng của gà 18
2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng ñến năng suất và chất lượng thịt 19
2.4.1. Ảnh hưởng của dòng, giống 19
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
iv
2.4.2. Ảnh hưởng của giới tính và tuổi gia cầm 20
2.4.3. Ảnh hưởng của thức ăn và dinh dưỡng 21
2.5. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
4.2.2. Sinh trưởng tuyệt ñối của gà thí nghiệm vụ ðông Xuân 45
4.3. Sinh trưởng tương ñối 48
4.3.1. Sinh trưởng tương ñối của gà thí nghiệm vụ Hè Thu 48
4.3.2. Sinh trưởng tương ñối của gà thí nghiệm vụ ðông Xuân 50
4.4. Hệ số tương quan 53
4.4.1. Hệ số tương quan giữa khối lượng gà 1 tuần tuổi với khối lượng
gà 2-6 tuần tuổi vụ Hè Thu 53
4.4.2. Hệ số tương quan giữa khối lượng gà 1 tuần tuổi với khối lượng
gà 2-6 tuần tuổi vụ ðông Xuân 55
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
v
4.5. Mối quan hệ giữa mức tăng khối lượng gà 1 tuần tuổi với khối
lượng gà 2-6 tuần tuổi 57
4.5.1. Mối quan hệ giữa mức tăng khối lượng gà 1 tuần tuổi với khối
lượng gà 2-6 tuần tuổi vụ Hè Thu 57
4.5.2. Mối quan hệ giữa mức tăng khối lượng gà 1 tuần tuổi với khối
lượng gà 2-6 tuần tuổi vụ ðông Xuân 60
4.6. Lượng thức ăn thu nhận 63
PHỤ LỤC 92Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
BẢNG 4.1. Khối lượng gà thí nghiệm vụ Hè Thu 35
BẢNG 4.2. Khối lượng gà thí nghiệm vụ ðông Xuân 40
BẢNG 4.3. Sinh trưởng tuyệt ñối của gà thí nghiệm vụ Hè Thu 44
BẢNG 4.4. Sinh trưởng tuyệt ñối của gà thí nghiệm vụ ðông Xuân 46
BẢNG 4.5. Sinh trưởng tương ñối của gà thí nghiệm vụ Hè Thu 49
BẢNG 4.6. Sinh trưởng tương ñối của gà thí nghiệm vụ ðông Xuân 51
BẢNG 4.7. Hệ số tương quan giữa khối lượng gà 1 tuần tuổi với khối
lượng gà 2-6 tuần tuổi vụ Hè Thu 54
BẢNG 4.8. Hệ số tương quan giữa khối lượng gà 1 tuần tuổi với khối
lượng gà 2-6 tuần tuổi vụ ðông Xuân 55
BẢNG 4.9. Quan hệ giữa mức tăng khối lượng gà 1 tuần tuổi với khối
lượng gà 2-6 tuần tuổi vụ Hè Thu 58
ðồ thị 2: Khối lượng gà thí nghiệm qua các tuần tuổi vụ ðông Xuân 41
ðồ thị 3: Sinh trưởng tuyệt ñối của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi vụ
Hè Thu 45
ðồ thị 4: Sinh trưởng tuyệt ñối của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi vụ
ðông Xuân 47
ðồ thị 5: Sinh trưởng tương ñối của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi vụ
Hè Thu 50
ðồ thị 6: Sinh trưởng tương ñối của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi vụ
ðông Xuân 52
ðồ thị 7: Quan hệ giữa mức tăng khối lượng gà 1 tuần tuổi với khối
lượng gà 2-6 tuần tuổi vụ Hè Thu 59
ðồ thị 8: Quan hệ giữa mức tăng khối lượng gà 1 tuần tuổi với khối
lượng gà 2-6 tuần tuổi vụ ðông Xuân 62
ðồ thị 9: Lượng thức ăn thu nhận của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi
vụ Hè Thu 64
ðồ thị 10: Lượng thức ăn thu nhận của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi
vụ ðông Xuân 66
ðồ thị 11: Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi
vụ Hè Thu 68
ðồ thị 12: Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi
ở nước ta ñã, ñang và sẽ có nhiều bước phát triển hơn nữa. Việc nhập và lai tạo
những giống gà ngoại có năng suất, chất lượng cao với những giống gà nội
mang nhiều ñặc ñiểm mà người tiêu dùng ưu thích là một ñiều tất yếu ñể ñáp
ứng ñược nhu cầu thực phẩm của con người.
Năng suất của gà thịt chính là khối lượng xuất bán của gà sau một thời
gian nuôi nhất ñịnh. Khối lượng cơ thể gà lúc giết thịt là một chỉ tiêu vô
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
2
cùng quan trọng, nó không những có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn phản ánh
sức sản xuất thịt của gà. Khối lượng gà càng cao thì sức sản xuất thịt càng
tốt và ngược lại.
Khối lượng gà xuất chuồng ñược chi phối bởi nhiều yếu tố. Gần ñây có ý
kiến cho rằng khối lượng gà một tuần tuổi có ảnh hưởng và tương quan thuận
với khối lượng giết thịt của gà. Khối lượng gà một tuần tuổi có ý nghĩa rất quan
trọng trong chăn nuôi gà thịt. Nó không những thể hiện ñặc tính di truyền của
mỗi giống mà còn phản ánh trình ñộ trong kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc ñàn
gà. Hơn nữa, khối lượng gà một tuần tuổi còn là nền tảng cho khả năng sinh
trưởng và sức ñề kháng của cơ thể gà ở những tuần tuổi tiếp theo. ðàn gà khỏe
mạnh, sinh trưởng nhanh thì hiệu quả sử dụng thức ăn cũng tốt hơn và hiệu quả
chăn nuôi cũng cao hơn. Không những thế, nếu xác ñịnh ñược mối quan hệ
giữa khối lượng gà một tuần tuổi với khối lượng gà khi giết mổ, có thể dự ñoán
năng suất sớm hơn. ðiều này không những góp phần tạo ñiều kiện thuận lợi
trong công tác giống mà còn có ý nghĩa trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất.
Tuy nhiên, cho ñến nay vấn ñề này chưa ñược quan tâm nghiên cứu ở nước ta.
Nghiên cứu này với mục ñích kiểm tra ñể có thể ñưa ra khuyến cáo cho
người chăn nuôi về mối quan hệ giữa khối lượng gà con một tuần tuổi với khả
năng sinh trưởng và hiệu quả nuôi gà broiler trong vụ Hè Thu và ðông Xuân
trên ñịa bàn tỉnh Nam ðịnh.
1.2. Mục tiêu của ñề tài
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
4
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Ảnh hưởng của khối lượng gà 1 - 7 ngày tuổi ñến khối lượng gà giết thịt
Với mục tiêu dự ñoán sớm khối lượng cơ thể gà ở giai ñoạn kết thúc vỗ
béo, nhiều nghiên cứu ñã ñược tiến hành nhằm tìm mối quan hệ giữa một số chỉ
tiêu chất lượng của gà con với khối lượng gà khi giết thịt. Các chỉ tiêu thường
ñược quan tâm như mối quan hệ giữa khối lượng, kích thước cơ thể gà con một
ngày tuổi và khối lượng cơ thể gà con một tuần tuổi với khối lượng gà khi kết
thúc giết thịt. Kết quả nghiên cứu của Willemsen và cộng sự (2008)[79] cho
biết, khối lượng gà ở 7 ngày tuổi là chỉ tiêu dự ñoán tốt nhất khối lượng cơ thể
gà lúc giết thịt. Hệ số tương quan giữa khối lượng gà 7 ngày tuổi với khối
lượng gà ở 42 ngày tuổi là 0,54. Các tác giả còn cho biết khối lượng gà con một
ngày tuổi và tỷ lệ giữa khối lượng gà với bình phương chiều dài cơ thể gà một
ngày tuổi cũng là những chỉ tiêu có thể dùng trong dự ñoán nhưng không tốt
bằng khối lượng gà 7 ngày tuổi. Có mối tương quan dương giữa khối lượng gà
1 ngày tuổi với khối lượng gà ở 42 ngày tuổi (r = 0,25 - 0,35).
Mối quan hệ giữa khối lượng gà 1 ngày tuổi với khối lượng gà giết thịt
còn nhiều ý kiến khác nhau. Hầu hết các tác giả ñều cho rằng gà mái có tuổi ñẻ
7 ngày tuổi ñược cho là thời ñiểm thực tế bắt ñầu thể hiện sức sản xuất của gà.
Tác giả cho rằng có thể ñánh giá sức sản xuất của gà thông qua tốc ñộ sinh
trưởng tương ñối của chúng. Từ kết quả nghiên cứu của mình, Tona và cộng sự
(2004a)[75] khẳng ñịnh, có thể dự ñoán khả năng sản xuất của gà thịt ở 42 ngày
tuổi dựa vào khả năng sinh trưởng của gà con 7 ngày tuổi.
Nghiên cứu của Lilburn (1998)[46], ñã khẳng ñịnh tuần tuổi ñầu tiên sau
khi nở là thời ñiểm cực kỳ quan trọng ñối với gia cầm non. Cần phải nuôi
dưỡng, chăm sóc chu ñáo trong giai ñoạn này ñể chúng có sức khỏe và tốc ñộ
sinh trưởng tốt nhất. Vấn ñề này có ảnh hưởng rất lớn ñến hiệu quả nuôi gà
broiler. Tác giả còn cho biết khả năng sinh trưởng của các dòng gia cầm có tốc
ñộ sinh trưởng nhanh có mối quan hệ chặt chẽ với khối lượng cơ thể khi giết
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
6
thịt. Sinh trưởng tuyệt ñối ở một tuần tuổi thường chiếm khoảng 17% khối
lượng cơ thể ở 40 ngày tuổi. ðiều này cho thấy khối lượng gà con ở 7 ngày tuổi
có mối quan hệ mật thiết với khối lượng gà khi giết thịt.
Như vậy, nhiều kết quả ñã khẳng ñịnh tầm quan trọng trong nuôi dưỡng,
chăm sóc gà con ở một tuần tuổi ñầu tiên sau khi nở. ðây là thời ñiểm rất nhạy
cảm của gia cầm non nói chung và gà con nói riêng. Hiểu biết về vấn ñề này sẽ
giúp cho những người làm công tác chăn nuôi có cái nhìn ñúng ñắn ñể có thể
ñưa ra những biện pháp kỹ thuật hợp lý nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi.
2.2. Nhiệt ñộ sưởi ấm và chế ñộ chiếu sáng với chất lượng gà con
Gà là ñộng vật ñẳng nhiệt, tức là trong một giới hạn nhất ñịnh, chúng có
thể ñiều hòa thân nhiệt bản thân như các ñộng vật có vú khác. Tuy nhiên, khả
năng này của chúng lại không có trong giai ñoạn phôi thai. Trong thời kỳ phôi,
chúng là ñộng vật biến nhiệt, nghĩa là nhiệt ñộ cơ thể chúng phụ thuộc vào
nhiệt ñộ môi trường. Theo Ron Meijerhof (2006)[66], quá trình chuyển từ trạng
thái biến nhiệt sang ñẳng nhiệt diễn ra trong khoảng 5 ñến 7 ngày, bắt ñầu từ
ngày thứ 19 trong giai ñoạn ấp trứng và kết thúc khi gà ñược 4 - 5 ngày tuổi.
mức nhiệt ñộ tối ưu 40
o
C ñến 35
o
C hoặc thấp hơn. Trong một số trường hợp, nhiệt
ñộ cơ thể giảm tới 33
o
C, tuy gà con chưa chết ngay, song sẽ ảnh hưởng rất lớn ñến
sức khỏe và khả năng sinh trưởng sau này.
Theo Brian (2005)[33], khi nhiệt ñộ cơ thể thay ñổi, gà sẽ cố gắng bù
ñắp lại sự thiếu hụt ñó và thường là ảnh hưởng xấu ñến năng suất của chúng.
Nhiệt ñộ quá cao hay quá thấp ñều làm tỷ lệ chết tăng cao, chỉ cần nhiệt ñộ thay
ñổi nhẹ cũng ñã ảnh hưởng rõ rệt ñến sức khỏe và khả năng sinh trưởng của
ñàn gà. Mặc dù gà con có khả năng chịu nhiệt ñộ cao hơn gà trưởng thành, tuy
nhiên nếu nhiệt ñộ cao kéo dài trong một thời gian sẽ dẫn tới tử vong hoặc có
những tác ñộng xấu ñến sinh trưởng, phát triển của gà con (Morrison và
McMilan, 1985)[52].
Brian (2005)[33] cho biết, ñối với gà con, duy trì nhiệt ñộ không khí
trong chuồng nuôi vẫn là chưa ñủ ñể giảm thiểu nhiệt mất ñi từ cơ thể chúng;
ñiều này giống như chúng ta ñi chân trần trên nền sàn lạnh. Cần phải kiểm soát
nhiệt ñộ cơ thể của gà con một ngày tuổi từ việc ñiều chỉnh nhiệt mất ñi qua
sàn chuồng. Nếu nhiệt ñộ sàn thấp hơn nhiệt ñộ trong nhà gà (dưới 29 - 30
o
C),
gà con bị mất rất nhiều nhiệt qua chân, chúng thường nằm xuống và càng lạnh
hơn vì một phần cơ thể tiếp xúc mặt sàn. Nhiệt ñộ cơ thể sẽ giảm rất nhanh,
chúng lạnh sẽ bị stress, dẫn tới suy giảm hệ thống miễn dịch, dễ nhiễm E.Coli
hay bất cứ loại vi khuẩn truyền nhiễm nào. Trong trường hợp này, tỷ lệ chết
trong tuần ñầu chắc chắn tăng lên.
Do nằm xuống khi bị lạnh, gà con sẽ không tìm thức ăn và nước uống.
ñộ sưởi giảm xuống 21,1 - 23,9
o
C, hiệu quả nuôi gà broiler là kém nhất, khối
lượng cơ thể ở 35 ngày tuổi là 2140 gam/con, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng
khối lượng và tỷ lệ chết cao nhất (1,82 kg và 7,08%).
Chế ñộ chiếu sáng cũng cực kỳ quan trọng và có ảnh hưởng ñến chất
lượng gà con, nó bao gồm thời gian và cường ñộ chiếu sáng. Cường ñộ của ánh
sáng ñược ño bằng ñơn vị lux, hay chính là lượng bức xạ ñiện từ (lumen) ñược
thu nhận trên một ñơn vị bề mặt. Não của gia cầm có các tế bào rất nhạy cảm
với ánh sáng và chúng ñược kích thích bởi ánh sáng ñi qua xương sọ. Theo Ron
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
9
Meijerhof (2006)[66], không phải tất cả ánh sáng ñều ñi qua xương sọ mà chỉ
có ánh sáng có bước sóng dài mới ñi qua ñược. Tác giả còn cho biết, gia cầm
sử dụng các ánh sáng màu sáng (bước sóng ngắn) ñể nhìn; nhưng chúng lại cần
ánh sáng ñỏ (bước sóng dài) ñể kích thích hệ sinh dục. Nếu muốn kích thích gà
ăn nhiều, tìm ổ ñẻ hiệu quả ñể tránh ñẻ rơi trứng trên sàn ñối với gà ñẻ thì nên
sử dụng ánh sáng trắng; nếu muốn kích thích hệ sinh dục của chúng, nên sử
dụng ánh sáng màu ñỏ và cam. Vì vậy khi sử dụng chế ñộ chiếu sáng trong nhà
gà, chúng ta không chỉ chú ý ñến cường ñộ chiếu sáng mà còn phải chú ý ñến
màu sắc của ánh sáng.
Nghiên cứu ảnh hưởng của cường ñộ chiếu sáng với hiệu quả nuôi gà
broiler, Keat Fu (2010)[10] cho biết cường ñộ chiếu sáng từ 80 -100 lux tốt hơn
cường ñộ chiếu sáng 20 lux. Tỷ lệ chết ở 36 ngày tuổi thấp hơn 0,65% (1,8 và
2,45%). Khối lượng cơ thể gà ở 7 ngày tuổi cao hơn 8 gam/con (170 và 162
gam/con); ở 36 ngày tuổi cao hơn 100 gam/con (2035 và 1935 gam/con). Sự sai
khác là có ý nghĩa thống kê với P<0,01.
2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng ñến khả năng sinh trưởng của gia cầm
Sinh trưởng của gia cầm nói riêng hay sinh trưởng của sinh vật nói
ðoàn Xuân Trúc và cộng sự (1999)[28] khi nghiên cứu sự sinh trưởng của các
dòng, các giống và các tổ hợp lai trên gà cũng cho các kết quả tương tự.
Theo tài liệu tổng hợp của Chambers (1990)[35] có rất nhiều gen ảnh
hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển cơ thể gà. Có gen ảnh hưởng tới sự phát
triển chung, có gen ảnh hưởng ñến sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng
tới nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng ñến một vài tính trạng riêng lẻ. Những
nghiên cứu trước ñây dự báo có hai hoặc bốn gen chính ảnh hưởng tới tốc ñộ
sinh trưởng. Sau này nhiều tác giả cho rằng có ít nhất 15 cặp gen quy ñịnh tính
trạng số lượng này. Ảnh hưởng của dòng, giống ñến tốc ñộ tăng trưởng thể hiện
sự di truyền các ñặc ñiểm của chúng qua ñời sau, ñược ñặc trưng bởi hệ số di
truyền. ðã có nhiều tác giả nghiên cứu hệ số di truyền về tốc ñộ sinh trưởng và
khối lượng cơ thể. Marco (1982)[48] cho biết hệ số di truyền của tốc ñộ sinh
trưởng từ 0,4-0,5. Theo tài liệu của Chambers (1990)[35] thì Siegel và Kiney
ñã tổng kết một cách hoàn chỉnh hệ số di truyền về tốc ñộ sinh trưởng, kết quả
qua phân tích phương sai dựa theo con bố từ 0,4-0,6.
Brandsch và Biilchel (1978)[1] cho biết sự di truyền tính trạng khối
lượng cơ thể ñược quy ñịnh bởi sự tham gia của nhiều gen và ở mức ñộ nào ñó
có liên kết với giới tính. ðể ñánh giá ảnh hưởng của di truyền ñối với khả năng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
11
sinh trưởng của gia cầm người ta ñã sử dụng hệ số di truyền. Hệ số di truyền về
tính trạng khối lượng cơ thể của gà khác nhau theo giống, tuổi cũng như thời
gian và ñịa ñiểm nghiên cứu. Theo các tác giả, hệ số di truyền của tính trạng
này từ 0,32 - 0,59 (Siegel và cộng sự, 1959[72]; Brunson và cộng sự, 1956[34];
Trần Long, 1994[11]).
Mehner (1962)[50] cho rằng sự khác nhau về khối lượng cơ thể của từng
giống là do di truyền, theo ông các giống có khối lượng cơ thể lớn là do chúng
sở hữu nhiều gen tăng khối lượng nhanh hơn so với các giống gà lớn chậm,
song trong một số trường hợp cần thận trọng phân biệt (ví dụ giống gà Bantam
lông là một tính trạng di truyền có liên quan ñến ñặc ñiểm trao ñổi chất,
sinh trưởng và phát triển của gia cầm.
Gia cầm có tốc ñộ mọc lông nhanh thì sự thành thục về thể trọng sớm
hơn, chất lượng thịt tốt hơn gia cầm mọc lông chậm. Song dù có tốc ñộ mọc
lông chậm thì từ 8-12 tuần tuổi gà cũng mọc lông ñầy ñủ (Warren, 1994 dẫn
theo Trần Long, 1994)[11].
Hayer và Mc Carthy (1970)[40] ñã xác ñịnh trong cùng một giống thì gà
mái mọc lông ñều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hormon có
tác dụng ngược chiều với gen liên kết giới tính quy ñịnh tốc ñộ mọc lông.
2.3.4. Ảnh hưởng của thức ăn
Thức ăn là yếu tố vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài
ñến toàn bộ các giai ñoạn sinh trưởng phát dục và năng suất của gia súc, gia
cầm. Cơ thể luôn ñòi hỏi ñược cung cấp thức ăn ñể duy trì sự sống và phát
triển. Vì vậy, trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng việc xác ñịnh nhu cầu các
chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn hay chế ñộ dinh dưỡng hợp lý cho vật nuôi
là rất cần thiết, nó ảnh hưởng ñến tốc ñộ sinh trưởng của vật nuôi.
Theo kết quả của Bùi ðức Lũng và cộng sự (1992)[12] chỉ ra rằng ñể
phát huy ñược tốc ñộ sinh trưởng tối ña cần cung cấp thức ăn tối ưu với ñầy ñủ
chất dinh dưỡng ñược cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và các axit amin với
năng lượng. Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp còn ñược bổ sung hàng loạt các
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
13
chế phẩm hóa sinh học không mang ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó kích thích
sinh trưởng, làm tăng năng suất và chất lượng thịt.
Nghiên cứu của Bagel và Pradhan (1989)[31] cho thấy khi gà ăn thức ăn
năng lượng cao (3200Kcal/kg thức ăn) kết hợp với protein cao (25-24-23%) ở
ba giai ñoạn nuôi sẽ cho tăng trọng và hiệu quả chuyển hóa tốt nhất so với gà
các lô ăn mức năng lượng và protein thấp hơn.
Cụ thể với ñiều kiện khí hậu miền Bắc nước ta có hai mùa rõ rệt. Theo
trì giảm xuống. Sau khi ấp nở nếu tăng nhiệt ñộ từ 7
o
C ñến 21
o
C sẽ làm giảm
hệ số chuyển hóa thức ăn 0,87% cho mỗi
o
C tăng lên. Nếu nhiệt ñộ tiếp tục
tăng thì hệ số chuyển hóa thức ăn tiếp tục ñược cải thiện cho ñến khi ñạt ñến
ñiểm stress nhiệt làm giảm tốc ñộ sinh trưởng.
Theo Pingel và Jeroch (1980)[58] lúc gà 1 ngày tuổi nhiệt ñộ cơ thể gà
vào khoảng 41,2-41,7
o
C; nếu ñược nuôi trong ñiều kiện môi trường có nhiệt
ñộ 29
o
C, nhiệt ñộ cơ thể giảm xuống chỉ còn 39-39,5
o
C. ðến 10 ngày tuổi,
nhiệt ñộ cơ thể gà là 41
o
C, nếu ñược nuôi ở ñiều kiện nhiệt ñộ môi trường là
26
o
C, nhiệt ñộ cơ thể giảm xuống chỉ còn 31
o
C. Ở nhiệt ñộ môi trường 12
o
C
ñến 20
lượng mà cơ thể chúng sản sinh ra. Stress nhiệt sẽ làm giảm quá trình trao ñổi
chất, làm tăng tần số hô hấp, giảm hoạt ñộng của cơ thể, giảm khả năng sử
dụng thức ăn dẫn ñến giảm tốc ñộ sinh trưởng.
2.3.6. Ảnh hưởng của ñộ ẩm không khí
ðộ ẩm của môi trường không khí trong chuồng nuôi có ảnh hưởng
ñến tốc ñộ sinh trưởng của gia cầm. ðộ ẩm không khí quá cao có ảnh
hưởng không tốt ñến tốc ñộ sinh trưởng của gia cầm, do chuồng trại luôn
ẩm ướt, lượng khí ñộc sinh ra nhiều và là môi trường thuận lợi ñể vi
khuẩn gây bệnh phát triển. Trong mọi ñiều kiện của thời tiết nếu ẩm ñộ
không khí cao ñều bất lợi cho gia súc và gia cầm; bởi vì nhiệt ñộ thấp mà
ẩm ñộ cao làm tăng khả năng dẫn nhiệt, gà con dễ mất nhiệt gây cảm lạnh
và ngược lại nếu nhiệt ñộ cao, ẩm ñộ cũng cao sẽ làm cho cơ thể gia cầm
thải nhiệt khó khăn dẫn ñến cảm nóng. Ở mọi môi trường có ẩm ñộ cao gà
con ñều sử dụng thức ăn kém, ảnh hưởng trực tiếp ñến sinh trưởng và phát
dục. Ngược lại ẩm ñộ môi trường quá thấp sẽ làm tăng lượng bụi trong
chuồng nuôi nên gia cầm dễ mắc một số bệnh hô hấp, bệnh về mắt… Mặt
khác ñộ ẩm thấp còn làm da khô, gầy yếu và khó chịu nên làm tăng hội
chứng mổ cắn nhau. Nhiệt ñộ và ẩm ñộ là 2 yếu tố luôn thay ñổi theo mùa
vụ cho nên ảnh hưởng của thời tiết mùa vụ ñối với tốc ñộ sinh trưởng của
gia cầm là ñiều tất yếu.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
16
Theo Phisinhin (1985) ñã dẫn theo tài liệu của B.P.Larinov xác nhận gà
con nở vào mùa xuân sinh trưởng kém trong 15 ngày tuổi ñầu sau ñó tốc ñộ
sinh trưởng tăng kéo dài ñến 3 tháng tuổi.
Cũng theo Smetnev (1975) ñã chứng minh rằng gà con vào mùa xuân và
mùa hè thời gian ñầu sinh trưởng kém, ngược lại vào mùa thu thì gà con sinh
trưởng tốt trong những ngày ñầu.
Ngoài ra các yếu tố khác của môi trường như thành phần không khí, tốc
và Jeroch, 1980)[58]. Nghiên cứu của Schwark và cộng sự (1987)[70] ñã ñề
nghị chế ñộ chiếu sáng cho gà mới nở ñến 2, 3 tuần tuổi là 24/24 giờ, theo ông
ñối với gà thịt trong thời gian ñược chiếu sáng như vậy, mức tiêu thụ thức ăn
của gà ñạt tối ña và tốc ñộ sinh trưởng cũng có thể ñạt ở mức tối ña. Kết quả thí
nghiệm với 4 chế ñộ chiếu sáng khác nhau trên gà trống Leghorn trắng của
Konvinko và Tolstov (1971)[44] ñã kết luận khối lượng lúc 150 ngày tuổi của
chúng có sự khác nhau rõ rệt.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………………
17
Cường ñộ chiếu sáng cũng ảnh hưởng ñến quá trình sinh trưởng của gà.
Khi cường ñộ chiếu sáng thấp sẽ làm cho tăng hàm lượng mỡ dưới da.
Tuler (1999)[78] ñề nghị chế ñộ chiếu sáng cho gà broiler 1 tuần tuổi
chiếu sáng 24/24 giờ với cường ñộ là 3 Wat/m
2
chuồng; 2 tuần tuổi chiếu sáng
20/24 giờ với cường ñộ 2 Wat/m
2
; 3 tuần tuổi chiếu sáng 16 giờ với cường ñộ
1,5 Wat/m
2
.
2.3.8. Ảnh hưởng của mật ñộ nuôi
Mật ñộ nuôi cũng là một vấn ñề nhạy cảm, ảnh hưởng tới hiệu quả và
năng suất chăn nuôi gia cầm. Mật ñộ nuôi thưa gây lãng phí lao ñộng, lãng phí
chuồng trại và hiệu quả sản xuất thấp. Mật ñộ nuôi quá cao dẫn ñến việc tăng
khối lượng cơ thể chậm, tiêu tốn thức ăn cao, tỷ lệ hao hụt lớn và thường gây
hiện tượng mổ cắn nhau. Mật ñộ nuôi cao không hợp lý ảnh hưởng tới tiểu khí
hậu chuồng nuôi. Mật ñộ nuôi ảnh hưởng ñến nhiều chỉ tiêu chuồng nuôi.
Mật ñộ nuôi ảnh hưởng tới hàm lượng khí ñộc sinh ra trong chuồng nuôi.
S, tác ñộng tới thần kinh, gây
trúng ñộc cho gia cầm. Nếu nồng ñộ H
2
S lớn hơn 1mg/l gà sẽ bị chết vì bị liệt
trung khu hô hấp (ðỗ Ngọc Hòe, 1995)[5].
Mật ñộ chuồng nuôi cao làm tăng hàm lượng vi sinh vật trong chuồng,
chúng làm chuồng bụi bẩn nhiều, cùng với hàm lượng vi sinh vật tăng cao
trong chất ñộn chuồng, cùng với nhiệt ñộ, ñộ ẩm không khí cao là các vectơ lan