i
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. M
ục tiêu nghiên cứu 3
3. Ph
ương pháp nghiên cứu 3
3.1. Câu h
ỏi nghiên cứu 3
3.2. Khách th
ể và đối tượng nghiên cứu 4
3.3. Ph
ương pháp nghiên cứu 4
3.4. Ph
ạm vi và thời gian nghiên cứu 5
4. C
ấu trúc của luận văn 5
PHẦN NỘI DUNG 7
CH
ƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 7
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 7
1.2. T
ổng quan về các nghiên cứu liên quan đến đề tài 13
1.3. Khung lý thuy
ết của đề tài 20
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Xây dựng công cụ đo lường 24
2.2. T
ổng thể và mẫu nghiên cứu 25
2.3. Ki
ống kê và dự báo của Trung tâm hỗ trợ đào tạo và cung ứng nhân lực,
B
ộ Giáo dục và Đào tạo, trong giai đoạn 2010 - 2015, với tốc độ tăng chỗ làm
vi
ệc mới là 3-3,5%/năm, thành phố sẽ có nhu cầu chung về nhân lực là
280.000 - 300.000 ch
ỗ làm việc/năm (Trần Anh Tuấn, 2010). Ngành công
ngh
ệ thông tin là một trong những ngành có nhu cầu nhân lực lớn. Theo dữ
liệu của Hội Tin học Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay, mỗi năm, các cơ sở
đ
ào tạo công nghệ thông tin trên cả nước đào tạo được 10.000 sinh viên với
t
ốc độ tăng trưởng khoảng 10%, trong khi đó nhu cầu nhân lực ngành công
ngh
ệ thông tin hiện tại là 30.000 người (Trần Anh Tuấn, 2010). Do đó, các
doanh nghi
ệp công nghệ thông tin đang thiếu lao động một cách trầm trọng.
Quy
ết định 1755/QĐ-TTg, ngày 22/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê
duy
ệt đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin
và truy
ền thông” đã chỉ ra rằng công nghệ thông tin là một ngành mũi nhọn
c
ủa quốc gia, ngành có khả năng đem lại nhiều lợi nhuận và thúc đẩy tăng
2
trưởng quốc gia. Quyết định cũng chỉ ra rằng để đạt yêu cầu tăng trưởng, nhu
c
ầu lao động ngành công nghệ thông tin hàng năm là rất cao, đến năm 2020
đạo, nhà khoa học, nhà giáo và các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục
đào tạo phân tích, trao đổi và bàn bạc. Điển hình có các nghiên cứu của
Nguy
ễn Kim Dung (2005), Bùi Mạnh Nhị (2006), Trần Anh Tài (2009), Lê
V
ăn Hảo (2010) Ngoài ra, các nghiên cứu, phát biểu về đánh giá nhằm tìm
bi
ện pháp nâng cao và đảm bảo chất lượng giáo dục đại học còn được trình
bày trong các h
ội thảo, hội nghị.
3
Cho đến nay, có rất nhiều bình luận liên quan đến mức độ đáp ứng đối
v
ới công việc của sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng chưa có nhiều nghiên
c
ứu chuyên biệt cho sinh viên tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin. Do đó,
đề tài “Đánh giá mức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên tốt nghiệp
đại học ngành công nghệ thông tin từ phía nhà tuyển dụng (Nghiên cứu trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh)” được đặt ra nhằm nghiên cứu, phân tích
các
đánh giá của doanh nghiệp, cụ thể là nhà tuyển dụng của các doanh
nghi
ệp, về mức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên tốt nghiệp ngành
công ngh
ệ thông tin.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn là đánh giá mức độ đáp ứng đối với công
vi
ệc của sinh viên mới tốt nghiệp đại học ngành công nghệ thông tin.
M
3.2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.2.1. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận văn là nhà tuyển dụng trong các doanh
nghi
ệp công nghệ thông tin và sinh viên mới tốt nghiệp đại học hệ chính quy
ngành công ngh
ệ thông tin.
3.2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mức độ đáp ứng đối với công việc
c
ủa sinh viên mới tốt nghiệp đại học hệ chính quy ngành công nghệ thông tin.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tra cứu tài liệu: được áp dụng để đọc và nghiên cứu các bài
vi
ết của những nhà khoa học và nhà giáo dục học liên quan đến tiêu chuẩn và
ph
ương pháp đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng.
Ph
ương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng trong nghiên cứu này
để phân tích và tổng hợp những câu hỏi khảo sát nhà tuyển dụng và sinh viên
t
ốt nghiệp ngành công nghệ thông tin.
5
Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi để khảo sát ý kiến đánh giá của nhà
tuy
ển dụng và sinh viên công nghệ thông tin đang làm việc tại doanh nghiệp
công ngh
ệ thông tin.
Ph
ương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc để phỏng vấn các nhà tuyển
độ tin cậy, độ hiệu lực của công cụ đo lường được trình bày như là những
ph
ương pháp nghiên cứu chính của luận văn. Chương ba trình bày kết quả xử
lý dữ liệu theo các câu hỏi mục tiêu như vị trí việc làm, đào tạo bổ sung cho
6
sinh viên mới tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin, và đánh giá mức độ đáp
ứng về kiến thức, kỹ năng, và thái độ của sinh viên mới tốt nghiệp ngành công
ngh
ệ thông tin đối với doanh nghiệp. Trong phần kết luận, luận văn tóm tắt lại
nh
ững kết quả nghiên cứu một cách cô đọng, súc tích, gồm tam giác đào tạo
nhân l
ực, kết quả đánh giá mức độ đáp ứng của sinh viên mới tốt nghiệp
ngành công ngh
ệ thông tin đối với nhà tuyển dụng về vị trí công tác, về đào
t
ạo bổ sung, về mức độ đáp ứng kiến thức, kỹ năng, và thái độ.
7
PHẦN NỘI DUNG
CH
ƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN
1.1. C
ơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Mục tiêu chính của luận văn là phân tích các đánh giá của nhà tuyển
d
ụng về mức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên mới tốt nghiệp đại
h
ọc ngành công nghệ thông tin. Trong đó, "đáp ứng" được hiểu là phản hồi lại
đúng với một đòi hỏi, một yêu cầu xác định; "mức độ" được hiểu là một mức
ật ngữ "năng lực" được dùng ở mức cá nhân để chỉ kiến thức, kỹ năng, và
thái
độ của mỗi sinh viên.
Ki
ến thức là một hợp phần của năng lực, kiến thức liên quan đến sự hiểu
bi
ết, ý nghĩa, thông tin, giảng dạy, giáo dục, giao tiếp, diễn tả, học hỏi, suy
lu
ận, nhận thức và kích thích trí óc. Kiến thức được định nghĩa là những điều
hi
ểu biết có được do từng trải, hoặc do học tập, gồm ba tiêu chí khả tín, xác
th
ực, và chứng minh được (Từ điển Tiếng Việt phổ thông, 2002). Nói cách
khác,
định lượng kiến thức được tính bằng “biết điều gì”, có bốn phạm trù là
th
ực tế, khái niệm, tiến trình, và siêu nhận thức. Kiến thức thực tế gồm những
ki
ến thức riêng biệt và kiến thức về những chi tiết cụ thể. Kiến thức thuộc về
khái niệm bao hàm hệ thống thông tin, như những sự phân loại và những
ph
ạm trù. Kiến thức tiến trình bao gồm những thuật toán, phương pháp giải
quy
ết vấn đề bằng rút kinh nghiệm (hay là dựa trên kinh nghiệm), công nghệ,
và nh
ững phương pháp cũng như những kiến thức về việc khi nào chúng ta
nên s
ử dụng tiến trình này. Kiến thức siêu nhận thức là những kiến thức trong
quá trình t
ư duy và những thông tin về cách vận dụng quá trình này một cách
ứu này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ kỹ năng như là sự
vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện công việc một cách
hi
ệu quả.
Thái
độ được dùng ở đây như là một hợp phần xác định năng lực cá
nhân. Thái
độ là một hiện tượng tâm lý phức tạp, tồn tại, diễn biến, biểu hiện
d
ưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau trong đời sống của con người. Thái
độ bao gồm hành vi mà ở đó chúng ta giải quyết mọi chuyện trên cơ sở tình
c
ảm, chẳng hạn như cảm xúc, các giá trị, sự trân trọng, lòng nhiệt tình, động
l
ực và thái độ, Năm lĩnh vực hoạt động chính được liệt kê bắt nguồn từ hành
vi
đơn giản nhất tới phức tạp nhất: Tiếp thu các giá trị, tổ chức, đánh giá,
ph
ản hồi, đón nhận (Krathwohl, Bloom, Masia, 1973). Các nhà nghiên cứu
nhìn nh
ận thái độ như là một thành phần của nhân cách, có mối quan hệ với
các thu
ộc tính của nhân cách. Thái độ được hiểu là những biểu hiện ra bên
ngoài (b
ằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm đối với
ng
ười hoặc việc, hay nói cách khác đó là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành
động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình (Từ điển Tiếng
10
Việt phổ thông, 2002). Từ những nhãn quan, những yêu cầu khác nhau, các
ệc của sinh viên tốt nghiệp đại học ngành công nghệ thông tin. Mức độ
đ
áp ứng rất tốt nghĩa là với những kiến thức, kỹ năng, và thái độ được đào tạo
thì sinh viên
đáp ứng một cách xuất sắc các yêu cầu công việc được giao.
M
ức độ đáp ứng tốt là với những kiến thức, kỹ năng, thái độ được đào tạo thì
sinh viên hoàn thành t
ốt các yêu cầu công việc. Mức độ đáp ứng trung bình
ngh
ĩa là việc ứng dụng các kiến thức, kỹ năng, thái độ khi được đào tạo trong
tr
ường đã giúp sinh viên hoàn thành tương đối các công việc được giao. Mức
độ đáp ứng kém là sinh viên chỉ đáp ứng được một phần công việc. Mức độ
11
đáp ứng rất kém là sinh viên hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu công
vi
ệc.
1.1.2. Giới thiệu chung về ngành công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương
ti
ện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông
- nh
ằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông
tin r
ất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và
xã h
ội. Công nghệ thông tin phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà
n
ước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt
triển toàn diện, có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn tốt, đáp ứng
nhu c
ầu nhân lực phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực
ho
ạt động sản xuất, kinh doanh.
V
ề năng lực, sinh viên tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin có khả năng
tham m
ưu tư vấn và có khả năng thực hiện nhiệm vụ với tư cách như một
chuyên viên trong l
ĩnh vực công nghệ thông tin, đáp ứng các yêu cầu về
nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin của xã hội. Ngoài ra, sinh viên
t
ốt nghiệp ra trường có thể tiếp tục học tập, nghiên cứu và phát triển ngành
công ngh
ệ thông tin trong tương lai.
V
ề kiến thức, sinh viên ngành công nghệ thông tin được trang bị các kiến
th
ức cơ bản và chuyên sâu về công nghệ thông tin, cũng như được định hướng
m
ột số vấn đề hiện đại tiệm cận với kiến thức chung về công nghệ thông tin
c
ủa thế giới.
V
ề kỹ năng, sinh viên ngành công nghệ thông tin được đào tạo kỹ năng
th
ực hành cao trong hầu hết các lĩnh vực của công nghệ thông tin, cho phép
sinh viên t
ốt nghiệp dễ dàng hòa nhập và phát triển trong môi trường làm việc
làm cho ti
ến trình phát triển giáo dục không đuổi theo kịp. Thật vậy, không
khó l
ắm để nhận ra rằng trên con đường phát triển theo hướng công nghiệp
hi
ện đại, Việt Nam đang được đặt trong một bối cảnh phải phát triển "kép".
Th
ứ nhất là vì đây là một thời kỳ mà thế giới có tốc độ phát triển công nghiệp
r
ất nhanh với nền công nghiệp dựa trên tri thức; thứ hai là nước ta chuyển từ
nền kinh tế kế hoạch hóa với trình độ công nghiệp rất thấp chuyển sang nền
kinh t
ế thị trường với đòi hỏi trình độ công nghiệp ngang tầm thế giới để đủ
sức cạnh tranh và hội nhập. Do đó, hơn lúc nào hết, đất nước chúng ta đang
c
ần một một lực lượng lao động trình độ cao. Nhu cầu này đã và đang tạo nên
m
ột sức ép rất lớn đối với nền giáo dục vốn không thể phát triển nhanh như
công nghi
ệp. Sự thiếu đồng bộ giữa yêu cầu của nền kinh tế cần có một lực
l
ượng lao động trình độ cao, số lượng nhiều với một sự tăng trưởng giáo dục
khá ch
ậm chạp không những đã làm chậm tốc độ phát triển kinh tế, mà còn
đưa nền giáo dục đến nhiều bất cập. Nhiều chương trình đào tạo đại học chưa
k
ịp chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, sản phẩm đào
t
ạo là sinh viên tốt nghiệp không đáp ứng hoặc đáp ứng không đầy đủ các yêu
14
trình phát tri
ển công nghiệp của thế giới, đã làm những giá trị giáo dục cũ
không còn
được áp dụng trong khi những giá trị mới chưa được xác lập, chất
l
ượng giáo dục bị thách thức nghiêm trọng. Do đó, hệ thống giáo dục phải
v
ừa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ cao cho một xã hội đang phát triển
theo h
ướng công nghiệp hiện đại, vừa đáp ứng những tiêu chuẩn đảm bảo chất
l
ượng để giáo dục đại học Việt Nam có thể hội nhập quốc tế trong bối cảnh
toàn c
ầu hóa. Do đó, những yêu cầu, những cơ hội và thách thức của công tác
đảm bảo chất lượng của giáo dục đại học Việt Nam cũng là một quá trình kép
15
(Nguyễn Văn Hiệu, 2012). Hội nhập vào thị trường cạnh tranh quốc tế, hệ
thống giáo dục cần phải cấp tốc nâng cao chất lượng của giáo dục đại học để
bảo đảm nhân lực được đào tạo ngang tầm thế giới. Từ nhận thức đó, các
tr
ường đại học đã từng bước tham gia các chương trình đánh giá chất lượng
giáo d
ục đại học theo các chuẩn mực quốc tế bởi các chuyên gia, tổ chức quốc
t
ế, đặc biệt là Mạng lưới chất lượng châu Á - Thái bình dương với những hội
ngh
ị hàng năm để thúc đẩy và giúp đỡ các trường đại học tham gia đánh giá
và
đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ngang tầm thế giới.
T
16
giả đã phân tích làm rõ hơn khái niệm "nhu cầu xã hội" để giúp cho các
tr
ường đại học, cao đẳng nhận thức và thực hiện một cách đầy đủ nhu cầu xã
h
ội (Lê Văn Hảo, 2010). Trong tiến trình nhận dạng "nhu cầu xã hội", các nhà
giáo d
ục đã nhận ra các thực thể xã hội là nhà trường, sinh viên, và nhu cầu xã
h
ội, trong đó sự quan hệ của nhà trường và sinh viên với nhu cầu xã hội là
cung c
ấp thông tin và yêu cầu để xây dựng mục tiêu, các giải pháp đổi mới
công tác
đào tạo của nhà trường (Trần Đình Mai, 2009). Khi nhận dạng "nhu
c
ầu xã hội", hầu hết các tác giả đồng tình với quan niệm sức lao động là hàng
hóa và cho r
ằng tại Việt Nam đã hình thành một thị trường lao động.
Đến đây, các nhà khoa học đã nhận dạng "nhu cầu xã hội" là thị trường
lao
động và cho rằng đào tạo phải phục vụ thị trường lao động, nói khác đi
đầu ra của giáo dục đại học là thị trường lao động. Trong quan hệ giữa đào tạo
và th
ị trường lao động, thì thị trường lao động quyết định mức độ chất lượng
đào tạo vì thị trường lao động là khách hàng của trường. Các hội thảo quốc
gia "
Đào tạo theo nhu cầu xã hội" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức vào các
n
ăm 2005 và 2007 đã nhấn mạnh đến sự đồng bộ giữa nhà trường với thị
trường lao động. Tại đây, những nhà giáo dục học, nhà giáo lão thành đã nêu
gi
ữa trường và doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích nguyên nhân chủ quan,
khách quan c
ủa sự lỏng lẻo, chưa gắn chặt của mối quan hệ này xuất phát từ
hai phía, trường và doanh nghiệp, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp
nh
ằm góp phần làm cho sản phẩm đào tạo của các trường đại học đáp ứng
được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu
(Tr
ần Anh Tài, 2009).
Đồng thời với tiến trình nhận dạng "nhu cầu xã hội", nhiều nhà giáo dục
h
ọc thảo luận những vấn đề liên quan đến chất lượng giáo dục để tìm ra
nh
ững giải pháp chung cho việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Các
tác gi
ả làm rõ hơn khái niệm chất lượng giáo dục, thảo luận về các quan điểm,
ph
ương pháp nhìn nhận, đánh giá chất lượng giáo dục đại học, hoặc để chia sẻ
kinh nghiệm đảm bảo chất lượng. Một số trường như đi sâu hơn trong các
bi
ện pháp nâng cao chất lượng đào tạo, giáo dục đại học như sắp xếp thời
khóa bi
ểu học hợp lý hơn, định kỳ tổ chức sinh hoạt chuyên môn ở các tổ bộ
môn, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ kỉ luật của giảng viên ở trên lớp, tổ chức
ra
đề thi, kiểm tra bài và chấm bài độc lập với việc giảng dạy môn học…,
được đưa ra tại hội thảo “Đảm bảo chất lượng năm 2012” tổ chức tại trường
18
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
T
ự nhiên, trường Đại học Kinh tế, trường Đại học Ngoại thương,… có kế
hoạch định kỳ khảo sát lấy ý kiến của cựu sinh viên về các mặt hoạt động, qua
đó giúp nhà trường điều chỉnh và nâng cao chất lượng đào tạo. Cách tiếp cận
này r
ất hiệu quả để các trường đại học nhận được phản hồi trực tiếp về những
k
ỹ năng và kiến thức cần thiết trong thực tế công việc nhằm điều chỉnh
ch
ương trình giảng dạy. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này ít quan tâm đến ý
ki
ến của nhà tuyển dụng.
19
Bên cạnh đó, một số tác giả đặt yêu cầu của nhà tuyển dụng như một mặt
tham chi
ếu để đánh giá chất lượng đào tạo và làm căn cứ để các trường điểu
ch
ỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy của mình. Bài viết “Các tiêu chí cơ
b
ản để chọn sinh viên tốt nghiệp đối với các nhà tuyển dụng” của tác giả
Nguyễn Kim Dung đã trình bày các yêu cầu cơ bản đối với sinh viên tốt
nghi
ệp đại học theo quan điểm nhà tuyển dụng. Nghiên cứu “Đánh giá mức
độ đáp ứng chất lượng nguồn nhân lực theo yêu cầu doanh nghiệp Đồng bằng
sông C
ửu Long được đào tạo bậc đại học trở lên” (tạp chí Khoa học Trường
Đại học Cần Thơ, 2012) công bố kết quả đo lường mức độ thỏa mãn của
doanh nghi
ệp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long về chất lượng nhân lực đào
t
các th
ực thể: trường, sinh viên, doanh nghiệp. Trong đó, đại diện cho doanh
nghi
ệp là nhà tuyển dụng. Trong thực tế, có thể có những tính chất chung cho
quan h
ệ giữa trường và doanh nghiệp đối với những ngành nghề khác nhau,
nh
ưng với mỗi ngành nghề có những đặc thù riêng. Trong luận văn này,
chúng tôi ch
ọn công nghệ thông tin làm ngành nghề nghiên cứu để đánh giá
m
ức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên theo quan điểm của nhà
tuy
ển dụng, xét trên các phương diện kiến thức, kỹ năng, và thái độ của sinh
viên.
1.3. Khung lý thuyết của đề tài
Khái niệm "đào tạo theo nhu cầu xã hội" đã được nhiều nhà giáo dục học
ch
ỉ ra ba thực thể tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực phục vụ phát triển
kinh t
ế xã hội là "trường, sinh viên, doanh nghiệp". Sự quan hệ giữa ba thực
th
ể này trong quy trình đào tạo nhân lực được biểu diễn trong tam giác đào
t
ạo nhân lực "trường - sinh viên - doanh nghiệp" (Hình 1.1)
Trong tam giác
đào tạo nhân lực "trường - sinh viên - doanh nghiệp",
quan h
ệ từ trường đến sinh viên là "đào tạo", trường "đào tạo" sinh viên; quan
h
t
ạo của trường được đặt trên nền tảng những yêu cầu chung của các doanh
nghi
ệp trong từng lĩnh vực ngành nghề.
Hình 1.3: Trường đào tạo năng lực cho sinh viên phù hợp yêu cầu doanh nghiệp
23
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thực tế nước ta, quan hệ "trường -
doanh nghi
ệp" chưa được xác lập rõ ràng, nhiều trường vẫn chưa nhận thức
m
ột cách đầy đủ sứ mệnh cung ứng nhân lực cho doanh nghiệp, và nhiều
doanh nghi
ệp chưa quan tâm đến công tác đào tạo của trường, chưa có trách
nhi
ệm với trường. Do đó, sự thiếu đồng bộ giữa chương trình đào tạo của
tr
ường và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp là không thể tránh khỏi.