Những nguy cơ ô nhiễm môi trường từ thuốc bảo vệ thực vật khi sử dụng dư lượng - Pdf 22

Chương I Giới thiệu
I.1. Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật là những hợp chất độc nguồn gốc tự nhiên và tổng
hợp hóa học được dùng để phòng và trừ sâu, bệnh, cỏ dại, chuột hại… cây trồng
và nông sản được gọi chung là sinh vật hại cây trồng và nông sản. Thuốc thực vật
gồm nhiều nhóm khác nhau, gọi tên theo nhóm sinh vật hại, như thuốc trừ sâu
dùng để trừ sâu hại, thuốc trừ bênh dùng để trừ bênh cây…Trừ một số trường hợp,
còn nói chung mỗi nhóm thuốc chỉ có tác dụng đối với sinh vật gây hại thuộc
nhóm đó. Thí dụ không thể dùng thuốc trừ sâu để trừ bệnh cây hoặc ngược lại.
Thuốc bảo vệ thực vật nhiều khi còn gọi là thuốc trừ dịch hại (Pestiside) và khái
niệm này bao gồm cả các lại thuốc trừ các loại ve, bét, rệp hại vật nuôi và trừ côn
trùng y tế, thuốc làm rụng lá cây, thuốc điều hòa tăng trưởng cây trồng.
Hiện nay trong nông nghiệp các chất hoá học được sử dụng ngày càng
nhiều, với các mục đích khác nhau, bao gồm:
- Các loại phân bón có nguồn gốc hoá học hay vi sinh nhằm tăng dinh
dưỡng cho cây.
- Các chất điều hoà sinh trưởng (phytohormon): ví dụ như anxin, cytokinin,
gibberelin. Các chất này có vai trò quan trọng trong các quá trình vận chuyển chất,
phát triển, già, chín của cây trồng.
- Các hóa chất bảo vệ thực vật (pesticides): sử dụng với mục đích phòng trừ
các cá loại động vật, thực vật, vi sinh vật gây thiệt hại cho cây trồng.
Mặc dù các nhà khoa học, nhà sản xuất đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tạo
ra các hợp chất trừ sâu diệt cỏ có các ưu điểm nêu trên, nhưng hiện nay các chất
này vẫn có độc tính cao.
Thời gian bán huỷ của nhiều chất rất lâu, trên 50 năm (ví dụ: DDT). Tạo ra
các chất độc hơp như dioxin khi sử dụng 2, 4 D và 2, 4, 5 T. Gây ngộ độc cấp khi
cơ thể nhiễm phải lượng lớn.
Gây ngộ độc trường diễn khi cơ thể hấp thụ phải những lượng hết sức nhỏ
trong thời gian dài vì chúng tích lũy trong cơ thể. Khi sử dụng không đúng quy
1
trình hướng dẫn thường gây ngộ độc (cấp và trường diễn). Hơn nữa, trong quá

/kg)
DE
GADI
m
×
=
ADI (mg/kg hay
g
µ
/kg /ngày
f
R
NEDD
=
2
NEDD (mg/kg hay
g
µ
/ngày
a
G
DFNEL ×
=
ADI (acceptable daily intake) là lượng chất độc không gây hại cơ thể người
được chấp nhận từ kết quả thí nghiệm trên động vật máu nóng (mg hay
g
µ
hợp
chất độc cho 1 kg trọng lượng cơ thể trong vòng 1 ngày).
NEDD ( no effec daily intake) là lượng thuốc được đưa vào thức ăn hàng

D
MRL
D
MRL
D
Đối với những hỗn hợp thuốc mà mỗi thành phần hỗn hợp có cơ chế độc lý
khác nhau và các hỗn hợp độ độc tăng theo cấp số nhân thì MRL của hỗn hợp
được tính như sau:
100
100100100
≤×
×
×
×
×
×
A
A
A
A
A
A
MRL
D
MRL
D
MRL
D
(D là lượng xác định được của các loại thuốc A, B, C…MRL = mức dư
lượng tối đa của các loại thuốc A, B, C…Mức dư lượng tối đa của mỗi loại thuốc

– HCH (hexaclocyclohecxan)
– Cyclodiens và các chất tương tự
– Polychorterpen
Do hầu hết các thuốc clo hữu cơ: (1) bền vững trong môi trường sống, (2) tích lũy
và phóng đại sinh học trong chuỗi thực phẩm nên đã bị cấm sử dụng nhiều nước
trên thế giới. Ở Việt Nam vẫn còn sử dụng một số nhưng bị hạn chế như Dicofol,
4
Endosulfan… Phần lớn clo hữu cơ khó phân hủy và tích lũy trong mô mỡ của
động vật.
 Phosphat hữu cơ: Lân hữu cơ là những chất có ít nhất một nguyên tử
photpho 4 hóa trị. Các thuốc phospho hữu cơ có hai đặc tính nổi bật: (1) thuốc độc
đối với động vật có xương sống hơn là thuốc clo hữu cơ và (2) không tồn lưu lâu
(dễ phân hủy trong môi trường có pH > 7) và ít hoặc không tích lũy trong mô mỡ
động vật. Các thuốc phospho hữu cơ gây độc chủ yếu thông qua sự ức chế men
acetylcholinesterase làm tích lũy quá nhiều acetylcoline tại vùng synap làm cho cơ
bị giật mạnh và cuối cùng bị tê liệt.
Các phosphat hữu cơ có ba nhóm dẫn xuất chính:
– Aliphatic (mạch thẳng)
– Phenyl (mạch vòng)
– Heterocylic (dị vòng)
 Carbamate: Các Carbamate là dẫn xuất của acid Carbamic, tác dụng như
lân hữu cơ ức chế men cholinesterase. Thuốc có hai đặc tính tốt là ít độc (qua da
và miệng) đối với động vật có vú và có khả năng tiêu diệt côn trùng rộng rãi.
Nhiều Carbamate là chất lưu dẫn dễ hấp thu qua lá, rễ, mức độ phân giải trong cây
thấp, tiêu diệt tuyến trùng mạnh mẽ. Nhìn chung nhóm này có độc chất thấp nhất
so với hai nhóm trên, cơ thể cũng có khả năng phục hồi nhanh hơn nếu bị nhiễm
độc. Ngoại lệ các Nitrosomethyl carbamate là chất gây đột biến mạnh mẽ.
 Pyrethroid: nhóm thuốc tương tự Pyrethrum (thuốc diệt côn trùng xưa
nhất, trích ly từ cây hoa thủy cúc trồng ở Nam Phi và Châu Á, độc tính qua đường
miệng LD50 = 1500 mg/kg, giá đắt và không bền với ánh sáng). Perythroid được

phần và 780 sảnphẩm, bao gồm ba nhóm chính.
 Thuốc vi sinh (Microbial Pesticides): bao gồm các vi sinhvật (tảo, vi
khuẩn, virus, nguyên sinh động vật…) là thành phần hoạthóa. Mỗi loại thành phần
có khả năng kiểm soát một loài gây hạitương ứng. Loại hợp chất được sử dụng
rộng rãi ở dạng này là các nhánh và dòng của vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt).
Mỗi dòng vikhuẩn này sinh ra một loại hỗn hợp protein khác nhau, tiêu diệt
6
vàiloại ấu trùng của côn trùng (như mọt, kiến, muỗi…). Các glycoproteincao phân
tử bị phá hủy bởi dịch tiêu hóa có tính kiềm của các côntrùng mẫn cảm tạo ra các
phần tử nhỏ hơn phá hủy vách trong ốngtiêu hóa, làm sai lạc cân bằng thẩm thấu,
gây tê liệt phần miệng và ống tiêu hóa làm sâu không ăn được. Có một số loài bào
tử có khảnăng nẩy mầm trong ống tiêu hóa của sâu và gây độc, sau cùng làm cho
sâu chết vì nhiễm độc máu. Loại thuốc này có hiệu lực đối vớinhiều sâu non bộ
Lepidoptera Cánh vảy (Tại Việt Nam thuốc thườngdùng trừ sâu tơ trên bắp cải).
Vì thuốc có tác động chuyên biệt trênsâu non nên an toàn đối với người và là thiên
địch của nhiều loại côntrùng gây hại. Đây là loại thuốc lý tưởng để quản lý tổng
hợp dịchhại. Thuốc không độc đối với cây trồng, không có triệu chứng về độccấp
tính trên chuột, chó và các loài động vật có vú khác, kể cả người.
 Plant–Incorporated–Protectants (PIPs) (Chất bảo vệthực vật kết hợp): là
hợp chất thực vật sản sinh ra từ vật liệu ditruyền đã được thêm vào cây trước đó
(Các nhà khoa học có thể lấygen của Bt cấy vào cây để cây sinh ra chất BVTV
mong muốn). Ngoàira nhóm này còn có các loại thuốc chiết xuất thuần thảo mộc
(câythuốc cá, cây lá nem, cây họ Cúc, họ Đậu, thuốc lá, xoan, nghể, thânmát
Milletia Ichthyochtoma…)
 Thuốc sinh hóa (Biochemical Pesticides): là các hợp chấttrong tự nhiên
diệt côn trùng theo cơ chế không độc, trái ngược vớicác loại thuốc truyền thống, là
những nguyên liệu tổng hợp, trực tiếplàm chết hay mất hoạt hóa côn trùng. Nhóm
thuốc loại này bao gồm các pheromones dẫn dụ côn trùng vào bẫy để phun thuốc,
bẫy chứachất dính…(thường dùng nhất là hormone sinh dục do con cái tiết rahấp
dẫn con đực trong mùa giao phối). Bẫy pheromone có rất nhiềudạng đã được dùng

Dose 50) và LC50 (Lethal Concentration 50). Trong đó, LD50 là liều thuốc gây
chết 50% cá thể thí nghiệm, có thể là chuột hoặc thỏ, được tính bằng mg/kg trọng
lượng. LD50 gây nhiễm qua đường tiêu hóa (per oral ) hoặc LD50 qua da (dermal
hoặc cutant ). LC50 là nồng độ gây chết trung bình của thuốc xông hơi được tính
bằng mg hoạt chất/m3 không khí. LD và LC càng nhỏ, độc tính càng cao. Độ độc
8
của TBVTV dạng rắn cao gấp 4 lần độc tính của TBVTV dạng lỏng. Căn cứ vào
độ độc cấp tính của thuốc BVTV, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã chia các loại
thuốc thành năm nhóm độc.
Bảng 2.3. Thuốc BVTV phân chia theo nhóm độc (WHO)
II.4.2.2. Độ độc mãn tính
Là khả năng tích lũy trong cơ thể người và động vật máu nóng, khả năng gây đột
biến tế bào, khả năng gây kích thích tế bào u ác tính phát triển, ảnh hưởng của
thuốc đến bào thai và gây dị dạng đối với các thế hệ sau,… Các thí nghiệm dùng
để xác định độ độc mãn tính của một thuốc bảo vệ thực vật thường được tiến hành
từ 1–2 năm trên cơ thể động vật máu nóng. Tuy nhiên thường xuyên tiếp xúc với
thuốc bảo vệ thực vật, thiếu thận trọng khi làm việc với thuốc cũng có thể bị độc
hại mà ta gọi là nhiễm độc “mãn tính”. Lúc đầu sự nhiễm độc này có thể nhầm lẫn
với các bệnh lý thông thường khác như da xanh, nhức đầu, mỏi cổ, mỏi khớp, suy
gan, rối loại tuần hoàn… Khi sử dụng cùng một lúc hai hay nhiều thuốc bảo vệ
thực vật khác nhau có thể có hai dạng tác động: hợp lực và đối kháng.
II.4.2.3. Tính độc của thuốc BVTV
Bản chất của các chất độc đối với các loài sinh vật, hay còn gọi là tính kỵ sinh vật,
được quyết định bởi cấu tạo và hoạt tính của chúng. Đối với thuốc bảo vệ thực vật,
bản chất tính độc là do:
 Sự có mặt của các gốc sinh ra trong phân tử của chất đó như Arsen, Hg
hoặc HCN.
 Hoạt tính hóa học của chất đó: As2O3 > As2O5.
 Sự thay thế của nhóm này bằng nhóm khác, sự thêm vào hay bớt đi của một
nhóm phân tử (methyl parathion LD50 = 24 mg/kg chuột cái; ethyl

 Làm tê liệt hoạt động của các men hoặc ức chế hoạt tính của men;
 Tác động đến sự hình thành các vitamin trong cơ thể, làm mất tác dụng của
chúng.
II.5.2. Đối với con người và động vật
10
Ảnh hưởng của HCBVTV đến cơ thể con người phụ thuộc vào loại độc chất, liều
lượng, đường tiếp xúc, khả năng hấp thụ, chấtchuyển hoá, sự tích lũy và tính bền
vững. Ngoài ra, còn phụ thuộc vàotình trạng sức khỏe (người suy dinh dưỡng hay
mất nước tăng nhạycảm đối với HCBVTV).
Đường xâm nhập của HCBVTV chủ yếu qua da, qua đường hôhấp, qua mắt hoặc
đường ăn uống. Sự thấm qua da thường gặp nhiềunhất khi phun thuốc trên đồng
ruộng, cây cối. Trong cơ thể, HCBVTVdễ tan trong mỡ, trong nước có thể chuyển
hóa làm tăng độc tính, vídụ như: sự thủy phân của cacbosulphan và furathiocarbo
tạo ra hợpchất độc hơn, dễ tan trong nước hơn. Một số hợp chất tan trong
mỡnhưng lại khó chuyển hoá, được tích lũy ở các mô mỡ như hợp chấtClo hữu cơ,
DDT. Khi cơ thể bị suy dinh dưỡng hoặc khi đói, mỡ dựtrữ được huy động vào
máu, làm cho nồng độ thuốc trong máu tăngcao gây nhiễm độc mãn tính.
Nghiên cứu tại Argentina do các nhà khoa học Pháp và Argentina phối hợp thực
hiện cho thấy thuốc trừ sâu, diệt cỏ và diệt nấm làm giảm đáng kể lượng tinh trùng
ở đàn ông. Tỷ lệ tinh trùng của những người tiếp xúc nhiều với các loại thuốc nói
trên nằm dướimức có thể sinh sản.
Khi sử dụng cùng một lúc từ hai loại thuốc trở lên, chúng có thểtác động tương tác
lẫn nhau, có thể giảm độc tính hoặc cũng có thểtăng độc tính lên như: Nitrit có
trong thức ăn gặp HCBVTV chứanhóm amin có thể tạo ra các nitrosamin gây biến
đổi gen hoặc gâyung thư.
II.5.2.1. Các yếu tố quyết định độc tính của TBVTV đối với con người
Các yếu tố đó là:
 Đường vào: lượng TBVTV được tiêu hóa hoặc hấp thụ.Đường tiêu hóa qua
dạ dày hoặc hấp thu qua phổi, da, mắt….
 Sinh hóa của việc hấp thu, phân phối, tích lũy của TBVTVtrong mô và các

của thuốc bảo vệ thực vật và vào máu.
 Qua mắt: gây nên những tổn hại nghiêm trọng khi thuốc bảovệ thực vật vào
mắt và từ đó thuốc có thể vào máu.
12
Sự nhiễm độc có thể ở dạng cấp tính, thể hiện ra ngoài lập tức,hoặc kinh niên,
chỉ thể hiện sau một thời gian tiềm ẩn. Các triệu chứng ngộ độc thay đổi tùy theo
từng loại thuốc, tùy theo nhóm, tùytheo liều lượng tiếp xúc. Các triệu chứng thông
thường gồm: nổi mẩnda, đau đầu, kích thích đến chảy nước mắt, mũi, rát họng.
Các triệuchúng này có thể biến mất trong một thời gian ngắn. Khi hấp thulượng
lớn có các triệu chứng mờ mắt, chóng mặt, ra mồ hôi, suy yếu,ói mửa, đau bụng,
tiêu chảy, bồn chồn, cáu kỉnh, da phồng dộp, cogiật, lắc lư và mất nhận thức. Các
tổn thương gây ra có thể phục hồimột cách tự nhiên do khả năng cơ thể hay do
điều trị y tế… Nhìn chung, biểu hiện lâm sàng và các triệu chứng nhiễm độc thuốc
BVTVcó thể tạm chia làm 9 nhóm như trong bảng 2.4.
Bảng 2.4. Biểu hiện lâm sàng và các triệu chứng nhiễm độc thuốc
BVTV(Regconition and management of Pesticides Poisonings,
The Office of Pesticides Program of EPA)
Theo một nghiên cứu trong 10 năm của TS Kathpal (ĐH Nôngnghiệp
Haryana), hơn 90% thực phẩm ở Ấn Độ có chứa DDT dù ít, dùnhiều. Do đó, tỷ lệ
DDT trong máu người Ấn Độ (22,8ppm) cao hơnnhiều so với người các nước
khác: người Nhật: 4,3ppm, người Úc:3,7ppm và người Mỹ: 2,24ppm.
Bên cạnh đó, Coster (tổ chức Greenpeace–1999) minh chứngrằng DDT hay
các POPs (Persistent Organic Pollutants) nguy hại hơnnhiều lần so với tác dụng
diệt côn trùng mà nó mang lại, nhất là đốivới trẻ em Nam Á, thông qua nhiễm độc
sữa mẹ và nhiễm trực tiếp.Trong sữa mẹ vùng New Dehli trung bình đã là
1,27mg/l. Một trẻ sơsinh tiêu thụ 500mg sữa/ngày, tương đương hấp thụ
0,21mgDDT/ngày, trong khi tiêu chuẩn WHO là 0,005mg/kg trọng lượng cơthể.
Kiểm tra 186 mẫu sữa bột và sữa đóng chai, hội đồng Y học Ấn Độ cho biết 70%
nhiễm DDT.
Chương III. ẢNH HƯỞNG CỦA HÓA CHẤT BVTV ĐẾN MÔI TRƯỜNG

đất cho tới khimột nửa lượng thuốc bò phân hủy và được biểu thò
14
bằng DT50(disappearance time), người ta còn dùng các trò số DT75,
DT90 là thờigian để 75%, 90% lượng thuốc bò phân hủy trong đất.
Ví dụ: sản phẩm tồn lưu của DDT trong đất là DDE cũng có tácdụng như thuốc trừ
sâu nhưng tác hại đối với sự phát triển của phơibào trứng chim độc hơn DDT từ 2
đến 3 lần. Loại thuốc Aldrin cũngđồng thời với DDT, có khả năng tồn lưu trong
mơi trường sinh thái(MTST) đất và cũng tạo thành sản phẩm "dieldrin" mà độc
tính củanó cao hơn aldrin nhiều lần. Thuốc diệt cỏ 2,4 – D tồn lưu trongMTST đất
và cũng có khả năng tích lũy trong quả hạt cây trồng. Cácthuốc trừ sâu dẫn xuất từ
EDBC (acid etylen bis dithiocarbamic) như maneb, propined khơng có tính độc
cao đối với động vật máu nóng và khơng tồn tại lâu trong mơi trường nhưng dư
lượng của chúng trên
nơng sản như khoai tây, cà rốt …, dưới tác dụng của nhiệt có thể chuyển thành
ETV (etylenthioure), mà ETV, qua nghiên cứu cho chuộtăn, gây ung thư và đẻ ra
chuột con qi thai.
III.3. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến mơi trường nước
Theo chu trình tuần hồn của hóa chất BVTV, thuốc tồn tạitrong mơi trường đất sẽ
rò rỉ ra sơng ngòi theo các mạch nước ngầmhay do q trình rửa trơi, xói mòn
khiến đất bị nhiễm thuốc trừ sâu.Mặt khác, khi sử dụng hóa chất BVTV, nước có
thể bị nhiễm thuốctrừ sâu nặng nề do nơng dân đổ hóa chất dư thừa, chai lọ chứa
hóachất, nước súc rửa Điều này đặc biệt có ý nghĩa nghiêm trọng khicác nơng
trường, vườn tược lớn nằm gần kề sơng bị xịt thuốc xuốngao hồ. Trong nước,
TBVTV có thể tồn tại ở các dạng khác nhau và đều có thể ảnh hưởng đến mơi
trường. Tác động của nó đối với sinhvật là: hồ tan, bị hấp thụ bởi các thành phần
vơ sinh hoặc hữusinh và lơ lửng trong nguồn nước hoặc lắng tụ xuống đáy và tích
tụtrong cơ thể sinh vật. Các chất hồ tan trong nguồn nước dễ bị cácsinh vật hấp
thụ. Các chất kỵ nước có thể lắng xuống bùn, đáy, ởdạng keo, khó bị sinh vật hấp
thụ. Tuy nhiên, cũng có một số sinhvật đáy có thể sử dụng chúng qua đường tiêu
hóa hay hơ hấp. Cóchất có thể trở thành trầm tích đáy, để rồi có thể tái hoạt động

16
tăng nhiều lần lượng thuốc sử dụng.Điều này làm gia tăng dư lượng thuốc bảo vệ
thực vật trên nông sảnvà môi trường càng bị ô nhiễm hơn. Mặt khác nông dân sẽ
sử dụngcác loại thuốc cấm sử dụng do có độ độc cao và tính tồn lưu lâu dàihoặc
phối trộn nhiều thuốc bảo vệ thực vật làm tăng độ độc. Theothống kê, đến 1971 đã
có 225 loài côn trùng và nhện kháng thuốc.Thuốc bảo vệ thực vật làm tăng loài
này và giảm loài kia, song nhìnchung làm giảm đa dạng sinh học (loài gia tăng đa
số là loài gây hại).Việc dùng thuốc trừ nấm bệnh làm tăng sâu hại số rệp nhớt
(Iceryapurchasi) khi phun Bordeaux (thuốc trừ bệnh loét cam). Các nấm kýsinh
trên rệp bị tiêu diệt do đó dân số chúng tăng lên. Một số côntrùng không quan
trọng bỗng dưng gây thiệt hại đáng kể cho cây trồng do nó có tính kháng thuốc
mạnh hơn côn trùng đối tượng, cácthiên địch của chúng bị tiêu diệt … Trên lúa
sâu đục thân phá hoạinặng năm cuối thập niên 60 nhưng sang đến những đầu năm
củathập niên 70 rầy nâu và xanh trở thành dịch chính.
III.5. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT
Ở VIỆT NAM
III.5.1. Tình hình nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Bảng 2.9. Tình hình dư lượng thuốc BVTV ở TPHCM qua các năm
Kết quả xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong 551 mẫurau quả tại Thành
phố Hồ Chí Minh từ năm 1999–2002: Số mẫu còntồn lưu dư lượng chiếm 37,9%
số mẫu kiểm tra, số mẫu vượt mức dưlượng tối đa cho phép (MRLs) chiếm 10,7 %
(59 mẫu/551 mẫu). Trongđó số mẫu rau vượt là 11,4% (44 mẫu /385 mẫu rau) và
số mẫu quảvượt là 9,0% (15mẫu /166 mẫu quả). Tình trạng nông dân sử dụng
thuốc tùy tiện còn phổ biến. Số thuốc không được sử dụng trên rauchiếm 10,4%,
trên quả chiếm 2,4 %. Thuốc cấm hoặc hạn chế sử dụngvẫn tìm thấy dư lượng trên
rau quả. Có đến một phần năm số người sử dụng hoặc tiếp xúc với thuốcbảo vệ
thực vật bị nhiễm độc mãn tính. Ở một số doanh nghiệp chè,số người bị nhiễm độc
lên tới gần 60%, trong đó số người bị nhiễmnghiêm trọng là hơn 34%.Những nguy
cơ ở khâu sử dụng thuốc BVTV bắt đầu ngay từ khingười sử dụng mua thuốc về
nhà. Có đến 81,4% số người mua thuốcđể ngay trong nhà, 16% để ngoài vườn và

18
III.5.2. Tác động của hóa chất bảo vệ thực vật đến sứckhỏe của nông dân ở
ĐBSCL
Từ năm 1993 – 6/1998, hng chục ngn người bị nhiễm độc do ănphải rau quả cịn
dư lượng thuốc trừ su. Nặng nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long, năm 1995 cĩ
13.000 người nhiễm độc, trong đĩ cĩ 354 ngườichết. Các phân tích kinh tế đã
chứng tỏ việc sử dụng nông dược trongsản xuất lúa liên quan mật thiết và rất có ý
nghĩa đến sự suy yếu sứckhỏe của nông dân. Trong số các triệu chứng bị nhiễm
độc do nôngdược gây ra, triệu chứng nhức đầu đau mắt và nhiễm trùng da lànhững
triệu trứng phổ biến nhất xảy ra cho nông dân ở ĐBSCL. Đasố các triệu chứng này
là do thuốc trừ sâu và thuốc trừ cỏ. Các kếtquả phân tích cho thấy sự ảnh hưởng
rất rõ ràng của thuốc trừ cỏ đếnsức khỏe của nông dân trong khi lượng thuốc trừ
sâu ảnh hưởngkhông rõ ràng và khó xác định chính xác.
Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật không những cho người trực tiếp tiếp xúc,
sử dụng mà còn ảnh hưởng lên những người sửdụng các loại thực phẩm bị nhiểm
chất độc. Tuy con người có khảnăng khử các chất độc cao nhưng một khi đã sử
dụng trực tiếp cácloại thức ăn có chứa độc tố thường xuyên thì sẽ rất nguy hiểm,
dễ xảyra các bệnh ung thư mà sau này mới phát bệnh.
Tuy nhiên, sự nguy hại của nông dược đến sức khỏe con ngườikhông chỉ khi ăn
phải thực phẩm có chứa thuốc BVTV, mà nó có thểbắt đầu xảy ra từ giai đoạn
nhập khẩu, qua khâu vận chuyển, tíchtrữ, buôn bán, phân phối, mạng lưới tiêu thụ
và sau cùng đến tậnnông thôn (theo điều tra từ FAO, 1995). Các triệu chúng
nhiễm độcdo sử dụng và quản lý không an toàn nông dược đã xảy ra ở Đồng bằng
sông Cửu Long. Tuy nhiên, số trường hợp nhiễm độc thực tế còn cao hơn bởi vì
trong nhiều trường hợp nông dân đã không đến bệnhviện và các sở y tế.
Hơn nữa, các nhân viên y tế địa phương thường không hoàntoàn chuẩn đoán chính
xác các triệu chứng nhiễm độc do nông dược.Do đó khó mà biết chính xác có bao
nhiêu người chết do bị nhiễmđộc dược, có bao nhiêu người chết do ngộ độc thực
phẩm, và chết do các loại thuốc BVTV. Mặc dù có rất nhiều khuyến cáo từ Bộ
Nôngnghiệp và phát triển nông thôn, nhưng ở ĐBSCL đến nay vẫn chưacó nhiều

Diệt sâu và tuyến trùng, trừ rầy cho hoa
quả, thuốc lá, hoa màu. LD
50
= 300 -
400 mg/l
Sumithion (Fenitrothion)
Trừ sâu tiếp xúc, trừ nhện, diệt côn
trùng hại lúa, rau quả. Diệt muỗi gián
ruồi. LD
50
= 800 mg/kg
Kitazin (Iprobenphos) Trừ nấm đạo ôn (dạng nhũ dầu).
20
LD
50
= 490 mg/kg
Hinosan (Edifenphos)
Trừ nấm đạo ôn (dạng nhũ dầu).
LD
50
= 490 mg/kg
Hinosan (Edifenphos)
Trừ nấm cho cây trồng,
LD
50
= 100 - 260 mg/kg
Monocro – tophos (Hạn chế dùng ở
Việt Nam)
Diệt sâu mạnh (dùng ở dạng dung dịch).
Độc với oxy, chim, cá. LD

= 2800 mg/kg
Dimethoat (Bi - 58)
Diệt sâu, nhện, diệt ruồi ve, côn trùng.
LD
50
= 235 mg/kg
Glyphosate
Diệt cỏ không chọn lọc (dùng sau nảy
mầm). Diệt cỏ khó trị như cỏ cú, cỏ
tranh, cỏ chỉ. LD
50
= 1300 mg/kg
2. Nhóm clo hữu cơ
Dalapon
Diệt cỏ chọn lọc trừ cỏ tranh, cỏ gà
(thường dùng 2 – 5 kg/ha). Hạn chế
dùng ở Việt Nam LD
50
= 9330 mg/kg
Anvil (Hexaconazol)
Diệt nấm: trừ bệnh sương mai, mốc
phấn, ghẻ lở của dây leo, quả mọng,
rau. LD
50
= 2190 mg/kg
Fenclorim
Trừ cỏ (Herbicode safener). Dùng phối
hợp với nhiều loại khác như Pretilaclor.
LD
50

Diệt cỏ, diệt côn trùng trừ sâu (nhũ dầu
25%). LD
50
= 251 mg/kg
Fenvalerate
Trừ sâu phổ rộng cho nhiều loại cây
trồng. LD
50
= 451 mg/kg
Dẫn xuất acid phenoxy acetic Fusilade
(Fluazofopbutyl)
Thường dùng dạng ester butyl để diệt cỏ
cho đỗ tương,bông, lạc
(0,25 - 0,5 kg/ha)
MCPA
(2- metyl- 4 -cloro phenoxy acetic acid)
Diệt cỏ chọn lọc (cỏ 2 lá mầm, cỏ rộng,
cỏ lác, 0,5 – 1 kg/ha).
LD
50
= 700 mg/kg
MCPB
Diệt cỏ, thường dùng phối hợp với
thiobencarb. LD50 = 4700 mg/kg
6. Hợp chất cơ kim loại
Maneb
Trừ nấm cho cà chua, khoai tây, bắp cải,
đậu, nho (dạng bột rắc, bột thấm nước).
LD
50

chất dinh dưỡng cần thiết và phân bón có tác dụng gián tiếp được sử dụng để cải
thiện tính chất đất
IV.1.2. Sử dụng phân bón và môi trường sống con người
Sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu bệnh là chìa khóa của sự thành
công trong cách mạng xanh và đảm bảo nhu cầu về lương thực. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây nhiều người đã lo ngại về ảnh hưởng của phân bón đến môi
trường và sức khỏe con người. Điều lo ngại này không chỉ trong những nước phát
triển mà ngày càng trở nên vấn đề quan trọng ở các nước đang phát triển. Thật
vậy, khi người nông dân áp dụng những công nghệ hiện đại thì rất nhiều các vấn
đề môi trường nảy sinh:
- Gây độc hại cho nguồn nước, cho đất bởi thuốc trừ sâu và nitrat (NO
3
-
) và
do đó, tác động xấu đến sức khỏe con người, các động vật hoang dại và làm suy
thoái các hệ sinh thái.
- Gây độc hại cho lương thực, thực phẩm, thức ăn cho gia súc bởi dữ lượng
thuốc sâu, hàm lượng nitrat và các chất kích thích sinh trưởng.
- Gây tổn hại cho các nông trại và các nguồn tài nguyên thiên nhiên do
thuốc trừ sâu, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, tới cộng đồng.
-Gây độc hại cho bầu khí quyển bởi các khí amôniac (NH
3
): nitơ oxít,
methan và nhiều chất khác sinh ra từ quá trình đốt, làm giảm tầng ozon, làm trái
đất nóng lên, và gây ô nhiễm bầu khí quyển.
- Sử dụng quá mức các tài nguyên thiên nhiên gây suy thoái nước ngầm,
mất dần các loài động vật và các nguồn lương thực tự nhiên, làm mất khả năng
hấp phụ phế thải của chúng, dẫn tới lụt lội và mặn hóa.
23
- Xu thế tiêu chuẩn hóa và chuyên môn hóa trong nông nghiệp bằng cách

không độc, nhưng khi nó bị khử thành nitrit (NO
2
-
) trong cơ
thể trở nên rất độc.
Methaemoglobinaemia: Hội chứng trẻ xanh thường xảy ra khi đứa trẻ dưới
1 tuổi. Các vi khuẩn trong dạ dày khử NO
3
-
thành NO
2
-
và khi NO
2
-
xâm nhập vào
máu, nó phản ứng với hemoglobin chứa Fe
2+
là phần tử làm chức năng vận chuyển
oxy đi khắp cơ thể. Một oxyheloglobin bình thường chứa ion Fe
2+
sẽ biến đổi
thành methaemoglobin chứa ion Fe
3+
có rất ít năng lực vận chuyển oxy của máu và
do đó, gây nên sự tắc nghẽn hóa học. Tre sơ sinh thường rất nhạy bén với bệnh
này, bởi vì hemoglobin bào thai có ái lực với NO
2
-
mạnh hơn hemoglobin thông

-
trong nước. Mối liên quan
này được giải thích là nitrit sinh ra từ nitrat, phản ứng với một loại amin thứ sinh
xuất hiện khi phân hủy mỡ hoặc protein ở bên trong dạ dày và tạo ra hợp chất N-
nitroso ( là hợp chất gây ung thư) có công thức:
IV.1.3.3 NO
3
-
trong nước và một số nông sản
Để đối phó những vẫn với những vấn đề về sức khỏe và môi trường, Cộng
đồng Châu Âu đã quy định nồng độ tối đa là 50mg/l, nghĩa là tương đương với
11.3mg N-NO
3
-
/lit, ở Mỹ là 44mg/l. Những nghiên cứu cho thấy hội chứng trẻ
xanh chỉ xuất hiện khi nồng độ NO
3
-
trong nước từ 283-1200g/m
3
, còn ở nước Anh
thì khi nồng độ NO
3
-
> 100g/m
3
. Trong số lương thực, thực phẩm, nước uống được
con người dùng hàng ngày thì rau các loại là nguồn NO
3
-

lượng NO
3
-
25

Trích đoạn Cấu trúc hĩa học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status