công tác giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ hệ thống sản xuất ngành chăn nuôi - Pdf 32

Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến


Từ xưa đến nay, nước ta vốn là nước một nước nông nghiệp, khoảng
71,89% dân số sống tại nông thôn, cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào trồng
trọt và chăn nuôi. Trong những năm gần đây, do quá trình đô thị hóa - hiện đại hóa,
nên diện tích đất canh tác dần bị thu hẹp, năng suất cây trồng khó có những đột biến
nhảy vọt, vì vậy ngành chăn nuôi sẽ là hướng phát triển kinh tế hộ và được đẩy mạnh
trong những năm tới; phát triển chăn nuôi giúp cho việc xóa đói giảm nghèo, tạo việc
làm, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sống cho người nông dân. Tuy nhiên từ việc
phát triển cao độ này, đã làm phát sinh một vấn đề nan giải, thu hút sự quan tâm sâu
sắc của xã hội đó là sự ô nhiễm môi trường.
Ở Việt Nam nói chung và khu vực phía Nam nói riêng, khía cạnh môi
trường của ngành chăn nuôi chưa được quan tâm đúng mức. Trong quá trình phát
triển sản xuất chăn nuôi với qui mô ngày càng lớn như hiện nay, một lượng chất thải
sinh ra gây tác hại xấu đến môi trường. Theo tính toán của V. Klooster, 1996, thì
lượng NH
3
phát sinh từ chăn nuôi vào khí quyển vào khoảng 45 × 1012 gT N/năm,
nhiều hơn bất kỳ từ nguồn nào khác. Để sản xuất 1000 kg thịt heo thì đồng thời hàng
ngày sản sinh ra 84 kg nước tiểu, 39 kg phân, 11 kg TS, 3,1 kg BOD
5
, 0,24 NH
4
-N,
chưa kể ô nhiễm từ nước tắm và rửa chuồng.
Theo số liệu thống kê 01/10/2008, Việt Nam có gần 2,90 triệu con trâu;
6,34 triệu con bò; 26,701 triệu con lợn; 247,320 triệu con gia cầm; 1,48 triệu con dê,
cừu; 121 ngàn con ngựa. Với lượng gia súc này ước tính chất thải rắn của đàn vật
nuôi nước ta khoảng 80-90 triệu tấn, chất thải lỏng ước tính vài chục tỷ m
3

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra các thông số:
- Khả năng xử lý nước thải chăn nuôi của mô hình bãi lọc thực vật trồng cây
dầu mè, thể hiện qua việc khảo sát về lượng nước tưới, nồng độ nước thải chăn nuôi
thích hợp, thời gian lưu nước.
- Nghiên cứu khả năng sử dụng nước thải chăn nuôi như một nguồn dinh
dưỡng thông qua các khảo sát: phát triển chiều cao, tích lũy sinh khối của cây dầu
mè.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 2
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
$%#  !"#
- Tìm hiểu về thành phần, tính chất của nước thải, đời sống và khả năng phát
triên của cây dầu mè (Jatropha curcas L.), khả năng lọc nước của đất và các đề tài
nghiên cứu xử lý nước thải bằng thực vật tương tự khác.
- Chuẩn bị mô hình thí nghiệm: dựng mô hình và đo đạc các thông số vật lý,
hóa học của mô hình; tạo điều kiện thích nghi cho cây dầu mè, đo đạc các thông số
đầu vào của nước thải chăn nuôi.
- Vận hành mô hình:
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu khả năng xử lý nước của cây dầu mè thông qua các
khảo sát ngưỡng chịu đựng của cây, lượng nước tưới, nồng độ thích hợp và thời gian
lưu nước tối ưu , được kiểm tra qua: tốc độ bay hơi nước bề mặt,các biểu hiện của
cây trong môi trường nước thải, các chỉ tiêu tăng trưởng, phát triển của thực vật, các
chỉ tiêu COD, BOD
5
, SS, N, P.
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu khả năng sử dụng nước thải chăn nuôi làm nguồn
dinh dưỡng thông qua các khảo sát các chỉ tiêu tăng trưởng của cây, phát triển chiều
cao, tốc độ phát triển lá, tăng trưởng sinh khối của cây, khả năng tích lũy đạm trong
cơ thể của cây cũng như các thành phần của cây.
&'() *+* !"#

• Các chỉ tiêu được phân tích tại : phòng thí nghiệm khoa môi trường và
công nghệ sinh học của trường đại học kỹ thuật công nghệ Thành Phố Hồ
Chí Minh.
67 8292:;<
1.7.1. 7 8292
Kết quả nghiên cứu sẽ xác đinh được khả năng xử lý của cây Jatropha đối với
môi trường nước thải chăn nuôi, các thông số này rất cần thiết để tính toán ra một bãi
lọc thực vật hoàn thiện để xử lý nước thải chăn nuôi.
1.7.2. 7 82;<
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 4
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
Ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt từ ngành chăn nuôi,
giúp ngành chăn nuôi ngày càng phát triển hơn.Ngoài ra bãi lọc thực vật sẽ tạo ra
một nguồn lợi lớn từ việc thu hoạch hạt cây Jaropha, tạo thêm việc làm cho người
dân, cải tạo vi khi hậu xung quanh bãi lọc thực vật.
=05->2
Việc sử dụng thực vật để xử lý, loại bỏ chất ô nhiễm đã được áp dụng rộng rãi
từ lâu, đây là một phương pháp, một công nghệ thân thiện với môi trường, không
hoặc ít dùng hóa chất, chi phí xử dụng thấp hơn rất nhiều so với các công nghệ
truyền thống. Tuy nhiên đề tài đưa ra một hướng mới là sử dụng cây Jatropha để xử
lý chất thải, cây có ưu điểm là có khẳng chịu hạn cao, thích nghi với môi trường
nước thải tốt và hơn hết là có tuổi thọ cao hơn các loài cây thủy sinh, cây thủy sinh
có tuổi thọ thấp nên khi chết đi sẽ tạo ra một nguồn ô nhiễm khác. Ngoài các tính
năng đó, cây Jatropha cung cấp một nguồn lợi lớn, cũng như cung cấp một nguồn
nguyên liệu sạch, hạn chế được việc khai thác dâu mỏ dưới lòng đất, gây ô nhiễm
cho môi trường.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 5
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến

ra mùi khó chịu, ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 6
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
c. '\
Phân là phần thức ăn không được gia súc hấp thu, bị bài tiết ra ngoài bao gồm:
các thức ăn mà cơ thể vật nuôi không thể không hấp thu được hay các chất không
được các men tiêu hoá hay các vi sinh tiêu hoá (như chất xơ, prôtêin, chất béo…),
các thức ăn bổ sung (thuốc kích thích tăng trưởng, dư lượng kháng sinh,…), các men
tiêu hoá sau khi sử dụng bị mất hoạt tính, các mô tróc ra từ niêm mạc ống tiêu hoá và
chất nhờn,.…Ngoài ra thành phần của phân còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và
tuỳ từng giai đoạn phát triển của gia súc, gia cầm mà nhu cầu dinh dưỡng có sự khác
nhau, vì vậy thành phần và khối lượng của phân cũng khác nhau.
Do đó, phân là chất thải rắn thường xuyên sinh ra trong trại chăn nuôi heo.
Trong phân gia súc, gia cầm chứa các chất dinh dưỡng có thể hỗ trợ cho trồng trọt và
làm tăng độ màu mỡ của đất.
GN  Lượng phân thải ra hằng ngày
Trọng lượng gia súc Lượng phân (kg/ngày)
Dưới 10 kg 0,5 – 1,0
Từ 15 đến 45 k g 1,0 – 3.0
Từ 45 đến 100 kg 3,0 – 5,0
Từ 100 trở lên 5,0 – 7,0
Nguồn: Hill và Toller, 1974
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 7
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
GN Thành phần hóa học của phân gia súc
Đặc tính Giá trị Đơn vị
pH 6,47 – 6,95
Vật chất khô 213 – 342 g/kg

Nguồn: Hill và Toller, 1974
Thành phần nước tiểu chủ yếu là nước (chiếm trên 90% tổng khối lượng nước
tiểu). Ngoài ra, nước tiểu còn chứa một lượng lớn nitơ (phần lớn dưới dạng urê) và
phốtpho. Urê trong nước tiểu dễ phân huỷ trong điều kiện có oxy tạo thành khí
ammoniac. Do đó, khi động vật bài tiết ra bên ngoài chúng dễ dàng phân huỷ tạo
thành amoniac gây mùi hôi. Nhưng nếu sử dụng bón cho cây trồng thì đây là nguồn
phân bón giàu nitơ, phốt pho và kali.
GN & Thành phần hóa học của nước tiểu gia súc
Đặc tính Giá trị Đơn vị
Vật chất khô 30,9 – 35,9 g/kg
NH
4
-N 0,13 – 0,40 g/kg
N 4,90 – 6,63 g/kg
Tro 8,5 – 16,3 g/kg
Urê 123 –196 mol/l
Carbonates 0,11 – 0,19 g/kg
pH 6,77 – 8,19
Nguồn: Trương Thanh Cảnh & cộng tác viên, 1997-1998
b. (-N
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 9
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
Nước thải từ hoạt động chăn nuôi có nguồn gốc từ việc tắm rửa gia súc, vệ
sinh chuồng trại, máng ăn uống … và nước thải do vật nuôi bài tiết. Thành phần
nước thải có chứa các chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, nitơ, phốt pho và các thành phần
khác, đặc biệt là vi sinh vật gây bệnh. Thành phần hoá học của nước thải thay đổi
một cách nhanh chóng trong quá trình dự trữ. Trong quá trình đó, một lượng lớn các
chất khí được tạo ra bởi hoạt động của các vi sinh vật như là SO
2

Dầu mỡ 5 - 58 mg/l
SS 180 – 450 mg/l
NH
4
+
15 – 28,4 mg/l
E.coli 12,6.10
6
– 68,3.10
3
MPN/100ml
Trứng giun sán 28 - 280 Trứng/l
Hầu hết các cơ sở chăn nuôi chưa có hệ thống xử lý nước thải, nước thải được
thải bỏ trực tiếp ra sông rạch, ao, hồ …Hầu hết dễ phân huỷ thành acid amin, acid
béo, CO
2
, H
2
O, NH
3
, H
2
S… Sự phân hủy sinh học này chính là nguyên nhân gây ô
nhiễm mùi hôi tại các nông hộ chăn nuôivà cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm các
nguồn nước mặt, nước ngầm trong khu vực.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 11
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
2.1.1.4. 0*QMN9
Theo Trương Thanh Cảnh (1999), quá trình phân giải chất khí thải gia súc, gia

thích thị giác, làm giảm thị lực.
Nhóm 2 : Các khí gây ngạt
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 12
Andehyde vàAlcohol
H
2
O, CO
2
, hydrocacbon m chạ
Cacbohydra
H
2
O, CO
2
và CH
4
Axit béo
Andehyde và KetoneAlcohol
Lipit
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
Các chất khí gây ngạt đơn giản (CO
2
và CH
4
): những khí này trơ về mặt sinh
lý. Đối với thực vật, CO
2
có ảnh hưởng tốt, tăng cường khả năng quang hợp. Nồng
độ CH

a. Me#)
Trong thức ăn, một số chất chưa được đồng hóa và hấp thụ bài tiết ra ngoài
theo phân, nước tiểu cùng các sản phẩm trao đổi chất. Ngoài ra, các chất hữu cơ từ
nguồn khác như thức ăn thừa, ổ lót, xác chết gia súc không được xử lý. Sự phân huỷ
này trải qua nhiều giai đoạn, tạo ra các hợp chất như axitamin, axit béo, các khí gây
mùi hôi khó chịu và độc hại.
Ngoài ra, sự phân huỷ các chất béo trong nước còn làm thay đổi pH của nước,
gây điều kiện bất lợi cho hoạt động phân huỷ các chất ô nhiễm.
Một số hợp chất cacbohydrat, chất béo trong nước thải có phân tử lớn nên
không thể thấm qua màng vi sinh vật. Để chuyển hóa các phân tử này, trước tiên phải
có quá trình thuỷ phân các chất phức tạp thành các chất đơn giản (đường đơn, axit
amin, axit béo mạch ngắn). Quá trình này tạo các sản phẩm trung gian gây độc cho
thuỷ sinh vật.
b. )X'U*P
Khả năng hấp thụ nitơ, phosphor của gia súc tương đối thấp nên phần lớn bài
tiết ra ngoài. Do đó, hàm lượng nitơ, phosphor trong chất thải chăn nuôi tương đối
cao, nếu không xử lý sẽ gây hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, ảnh hưởng
đến hệ sinh thái nước, tuỳ theo thời gian và sự có mặt của oxy mà nitơ trong nước
tồn tại ở các dạng khác nhau : NH
4
+
, NO
2
-
, NO
3
-
.NH
3
là sản phẩm của sự chuyển hoá

a. f(g >2

?
Khí H
2
S là sản phẩm của quá trình phân huỷ chất hữu cơ có mùi rất khó chịu,
gây độc rất cao. Chúng có thể gây cho cơ thể ức chế toàn thân, tăng vận động của
đường hô hấp. Do dễ hoà tan trong nước nên H
2
S có thể thấm vào niêm mạc mắt
mũi, niêm mạc đường hô hấp gây kích thích và dị ứng.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 15
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
GN / Ảnh hưởng của H2S đến sức khoẻ người
Đối tượng Nồng độ tiếp xúc Tác hại hay triệu chứng
Với người
10 ppm Ngứa mắt.
20 ppm trở lên trong
hơn 20 phút
Ngứa mắt, mũi, họng.
50-100 ppm Nôn mửa, ỉa chảy.
200 ppm/giờ Chóng váng thần kinh suy nhược, dễ gây viêm phổi.
300 ppm/30phút Nôn mửa trong trạng thái hưng phấn bất tỉnh.
Trên 600 ppm Mau chóng tử vong.
Nguồn : Barker và cộng tác viên, 1996
Theo đường hô hấp vào máu, H
2
S được giải phóng lên não gây phù hoặc phá
hoại các tế bào thần kinh, làm tê liệt trung khu hô hấp, trung khu vận mạch, tác động

MSSV: 106108015 Trang 16
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
Trong chăn nuôi heo, lượng nước tiểu sinh ra hằng ngày rất nhiều với thành
phần khí NH
3
là chủ yếu. Chất khí này có nồng độ cao kích thích mạnh niêm mạc,
mắt, mũi, đường hô hấp dễ dị ứng tăng tiết dịch, hay gây bỏng do phản ứng kiểm hoá
kèm theo toả nhiệt, gây co thắt khí quản và gây ho. Nếu nồng độ khí NH
3
cao gây
huỷ hoại đường hô hấp, NH
3
từ phổi vào máu, lên não gây nhứt đầu và có thể dẫn
đến hôn mê. Trong máu NH
3
bị oxy hoá thành tạo thành NO
2
-
làm hồng cầu trong
máu chuyển động hỗn loạn, ức chế chức năng vận chuyển oxy đến các cơ quan của
hồng cầu và gây bệnh xanh xao ở trẻ nhỏ, trường hợp nặng có thể gây thiếu oxy ở
não dẫn đến nhứt đầu, mệt mỏi, hôn mê thậm chí có thể gây tử vong.
GN 6. Ảnh hưởng của NH
3
lên người
Đối Tượng Nồng Độ Tiếp Xúc Tác Hại Hay Triệu Chứng
Với người
6ppm đến 20 ppm trở lên Ngứa mắt, khó chịu ở đường hô hấp.
100 ppm trong 1 giờ Ngứa ở bề mặt niêm mạc.
400 ppm trong 1 giờ Ngứa ở mặt, mũi và cổ họng.

do phun thuốc khử trùng chuồng trại hay nơi chứa phân. Các sản phẩm tạo mùi là do
quá trình lên men chiếm số lượng lớn, một số sản phẩm ở dạng vết. Có nhiều sản
phẩm tạo mùi, trong số đó khí ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và động vật các
khí cacbonic, monocacbon oxit, metan, ammoniac, hydrosulfual, indol, Schatole và
phenol. Các chất khí này thường là sản phẩm của quá trình phân huỷ kỵ khí phân, đã
qua phân huỷ bởi vi sinh vật không sử dụng oxy. Cho nên chúng ảnh hưởng rất mạnh
đến khứu giác của con người. Những người dân đã sống xung quanh có khả năng
mắc các chứng bệnh về đường hô hấp rất cao.
f. f(g >2_
Bụi từ thức ăn, lông thú hay phân là những hạt mang vi sinh vật gây bệnh, hấp
phụ các khí độc, các chất hoá học đi vào đường hô hấp và gây dị ứng, gây xáo trộn
hô hấp.
2.1.2.3. IP(1 M
Trong chất thải gia súc, gia cầm có rất nhiều chất dinh dưỡng nếu bón vào đất
sẽ làm tăng độ phì nhiêu cho đất. Tuy nhiên do chứa nhiều chất hữu cơ, hợp chất
nitơ, phosphor. Nếu thải vào đất không hợp lý hoặc sử dụng phân tươi để bón cho
cây trồng, cây sử dụng không hết sẽ có tác dụng ngược lại. Lượng lớn nito, phospho
sẽ gây hiện tượng phú dưỡng hoá thành nitrat làm cho cây trồng. Lượng vi sinh vật
chuyển hoá nito và phosphor sẽ làm hạn chế số chủng loại vi sinh vật khác trong đất,
gây mất cân bằng hệ sinh thái đất hiện tại trong trung tâm. Thêm vào đó, trong đất có
nitrat cao khi trời mưa xuống sẽ thấm theo mạch nước ngầm gây ô nhiễm nước
ngầm.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 18
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
0Y K#2:\bQ#5j(Jatropha curcas.L)
 ]3P*\Z.
Giới: Plantae
Ngành : Magnoliophyta
Lớp: Magnoliopsida

tháng 4 - 5 tạo thành nhiều chùm có màu vàng nhạt, hình chuông. Hoa đực có 10 nhị
trong đó 5 nhị dính vào phần chân đế, 5 nhị kết lại thành bó. Hoa cái rời rạc với bầu
nhụy hình elip, chia làm 3 ô, với 3 núm nhụy phân nhánh. Quả có dạng nang, kích
thước 2,5 -4 cm về chiều ngang và đường kính. Quả chia thành 3 ngăn, hạt nằm trong
các ngăn này. Hạt cây thuôn màu đen kích thước 2x1 cm.
d$ Quả và hạt của cây Jatropha
Dầu mè thụ phấn nhờ côn trùng. Dehgan và Webster (1979) cho rằng, Dầu mè
được thụ phấn nhờ vào bướm ban đêm và “cây ngọt, rất thơm về ban đêm, hoa có
màu lục nhạt, bao phấn có thể lắc lư, bộ phận sinh thực nhô ra, rất nhiều mật hoa và
không có bộ phận chứa mật thu hút có thể nhìn thấy”. Nếu trồng trong nhà kính,
không có côn trùng, hạt khó đậu quả, nếu không thụ phấn nhân tạo. Rất hiếm có
trường hợp hoa lưỡng tính có thể tự thụ phấn. Heller (1999) đã quan sát nhiều lần sâu
bọ tới và thụ phấn cho hoa. Ở Senegal, Heller cũng đã phát hiện, nhị hoa mở muộn
hơn nhụy hoa trên cùng một nhóm hoa, nhờ cơ chế này đã thúc đẩy quá trình thụ
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 20
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
phấn chéo. Sau khi thụ phấn, một quả hình bầu dục có 3 ô được hình thành. Vỏ quả
màu xanh cho tới khi hạt chín ở bên trong. Hạt thường có chiều dài 2 cm, rộng 1cm,
có màu rất nhỏ. Wiehr (1930) và Droit (1932) đã mô tả chi tiết vi phẩu hạt. Singh
(1970) đã mô tả vi phẩu của quả. Gupta (1985) đã nghiên cứu tỉ mỉ về giải phẩu các
bộ phận của cây. Dầu mè là một loài lưỡng bội với công thức bộ gene là 2n=22
nhiễm sắc thể.
2.2.3.2. ?+
Cây dầu mè có thể phát triển trong các điều kiện khí hậu khô cằn. Điều kiện
thích hợp nhất cho cây phát triển là mưa ít (200mm) nhưng cây có thể sống được ở
nơi có lượng mưa từ 520 - 2000mm. Khi gặp hạn hán, cây thích ứng bằng cách rụng
hầu hết lá để làm giảm sự thoát hơi nước. Nhiệt độ thích hợp cho cây là 18-28,5
0
C .Ngoài ra, cây còn chịu được đất sỏi sạn, đất nghèo kiệt, độ dốc tới 30 - 400, chịu

là 12- deoxy- 16- hydroxyphorbol-4’-[12’,14’ –butadienyl]-6’-[16’,18’,20’-
nonatrienyl] – bicyclo[ 3.1.0] hexane – (13-O) – 2’- [carboxylate]-(16-O)-3’-[8’
butenoic-10’] ate (DPHB) (Hirota và các cộng sự, 1988). Phần bán alcol của hợp
chất khác được tìm thấy là 12 –deoxy- 16- hydroxylphorbol (Adolf và cộng sự, 1984;
Biehl, 1987). Phần axit được dự kiến là một axits dicacboxylic không no bao gồm
một vòng epoxit (Biehl, 1987). Cấu trúc của hai hợp chất chính vẫn chưa hoàn toàn
sáng tỏ.
Glaser (1991) tập trung phân tích định lượng của phorbo este trong nhân Dầu
mè giống như các nghiên cứu của Wink và các cộng sự (1997) và Makkar và các
cộng sự (1997).
Các phorboleste trong dầu là chất độc có thể kích thích u bướu và gây viêm,
đòi hỏi phải được khử độc dầu khi được sử dụng trong công nghiệp và ngay cả khi
có khả năng có sự tiếp xúc trực tiếp của con người với dầu. Gross và các cộng sự
(1997) đưa ra một phương pháp khử độc dầu bằng cách sử dụng etanol để chiết các
phorbol este. Phương pháp này tiêu tốn lượng dung môi lớn, đòi hỏi hoàn thiện về
quy trình kỹ thuật để hạ giá thành khi khử độc trên quy mô lớn.
Thành phần gây độc trong khô dầu là curcin. Curcin là độc tố thực vật
(toxalbumin –albumin độc) được tìm thấy chủ yếu trong hạt, cũng có trong quả và
nhựa. Bản chất hóa học của curcin là các protein tạp có độc tính cao, tương tự độc tố
vi khuẩn về cấu trúc và các chức năng sinh lý. Độc tố thực vật bền với nhiệt và có thể
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 22
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
nhận biết bằng phản ứng tạo kết tủa với kháng thể có trong huyết thanh (Kingsbery,
1984). Curcin không thể xâm nhập qua thành tế bào. Curcin tìm thấy trong cây dầu
mè giống như ricin là độc tố thực vật được tìm thấy trong hạt thầu dầu.
Nghiên cứu về liều gây độc của curcin đưa vào cơ thể, các triệu chứng nhiễm
bắt đầu xuất hiện, nhanh hơn nhiều so với crotin (chất phân lập từ hạt cây Ba đậu
(Croton tiglium) cũng thuộc học thầu dầu). Đối với các động vật nhai lại còn nhỏ,
khi cho ăn với liều 0,5 -10/kg/ngày, con vật sẽ chết sau 1 ngày hoặc cho tới 2 tuần.

2.2.4.1. 0P 9m
a. 0.P2 #R #b!Z`#UNn#MQ#oUoZU
Phát hiện quan trọng nhất từ Jatropha là lấy hạt làm nguyên liệu sản xuất dầu
diesel sinh học. Hạt Jatropha có hàm lượng dầu trên 30%, từ hạt ép ra dầu thô, từ
dầu thô tinh luyện được diesel sinh học và glyxerin. Mặc dầu diesel sinh học được
sản xuất từ nhiều loại nguyên liệu: cải dầu, hướng dương, đậu tương, dầu cọ, mỡ
động vật…, nhưng sản xuất từ Jatropha vẫn có giá thành rẻ nhất, chất lượng tốt,
tương đương với dầu diesel hóa thạch truyền thống.
Nếu 1 ha Jatropha đạt năng suất 8-10 tấn hạt/ha/năm có thể sản xuất được 3
tấn diesel sinh học. Loại dầu này sẽ thay thế được 1 phần dầu diesel truyền thống
đang cạn kiệt, giảm thiểu được lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, là loại dầu cháy
hết và không có lưu huỳnh, là dầu sạch, thân thiện với môi trường.
b. GpZ5*\e#):"OO#I
Sau khi ép dầu, bã khô có thể được sử dụng làm phân hữu cơ rất tốt để bón
cho các loại cây trồng, nhất là cho vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp
sạch, vừa góp phần sản xuất sản phẩm sạch, vừa nâng cao độ phì của đất.
Trong thành phần hạt Jatropha có độc tố curcin, có thể gây tử vong cho người
và gây hại cho vật nuôi.Nếu khử hết độc tố thì bã khô dầu Jatropha trở thành một
loại thức ăn giàu đạm cho các loài gia súc, gia cầm, tạo ra nguồn thức ăn chăn nuôi
quý, góp phần giải quyết nhu cầu thức ăn công nghiệp sẽ thiếu hụt trầm trọng đối với
ngành chăn nuôi nước nhà trong tương lai gần.
c.  #R(qZ`#
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 24
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
Trong thành phần cây Jatropha, đã chiết xuất được những hợp chất chủ yếu
như tecpen, flavon, coumarin, lipit, sterol và alkaloit. Nhiều bộ phận của cây này có
thể chữa bệnh như lá, vỏ cây, hạt và rễ. Rễ trị tiêu viêm, cầm máu, trị ngứa; dầu của
hạt có thể nhuận tràng; dịch nhựa trắng tiết ra từ vết thương của cành có thể trị viêm
lợi, làm lành vết thương, chữa trị bệnh trĩ và mụn cơm; nước sắc từ lá dùng để chữa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status