Bi kịch tình yêu của một số nhân vật nữ trong chí phèo và vợ nhặt - Pdf 22

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN – ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN

TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề bài: Đề xuất một đề tài nghiên cứu khoa học ở trình độ khoa học sinh
viên. Xây dựng đề cương nghiên cứu chi tiết cho đề tài khoa học đó.
Tên tiểu luận:
BI KỊCH TÌNH YÊU CỦA MỘT SỐ NHÂN VẬT NỮ TRONG
TRUYỆN NGẮN CHÍ PHÈO (NAM CAO) VÀ VỢ NHẶT (KIM LÂN)
SV thực hiện : Dương Thị Linh
Lớp : Sư phạm Ngữ văn CLC K47
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Nhung,
PGS.TS Nguyễn Hằng Phương - người đã trực tiếp giảng dạy em môn
“Chuyên đề phương pháp nghiên cứu khoa học Ngữ văn” và cung cấp cho em
nhiều kiến thức cần thiết để hoàn thành bài tiểu luận này . Em cũng xin cảm
ơn tất cả các thầy cô đã giảng dạy em trong thời gian qua.
Xin cảm ơn sự cộng tác giúp đỡ, cung cấp tài liệu của các anh chị sinh
viên năm ba và năm tư khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
Vì thời gian cũng như kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi
những nhận xét chủ quan. Kính mong sự góp ý từ phía thầy cô và các bạn để
các sinh viên sau thực hiện tốt hơn.
Thái Nguyên, ngày 17 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Dương Thị Linh
2
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

tác phẩm đặc sắc, ở đây, chỉ xin đề cập đến “Chí Phèo” và “Vợ nhặt”, nên
việc nghiên cứu, soi xét của văn đàn gần như là toàn diện. Tuy nhiên, tôi nhận
thấy một nội dung gần như rất mới mẻ, rất “nông” mà chưa một độc giả hay
giới nghiên cứu nào “đào” đến. Vì vậy, tôi xin mạnh dạn đề xuất đề tài “Bi
kịch tình yêu của một số nhân vật nữ trong hai truyện ngắn Chí Phèo (Nam
Cao) và Vợ nhặt (Kim Lân)”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước tới nay, hai tác phẩm “Chí Phèo” và “Vợ nhặt” luôn được chú
trọng nghiên cứu trong trường phổ thông. Đồng thời, bạn đọc, giới nghiên cứu
cũng tốn không ít giấy mực về hai tác giả, tác phẩm này. Các tài liệu nghiên
cứu chỉ chú trọng phần nội dung cốt lõi: ví dụ như trong “Chí Phèo” là bi kịch
lưu manh hóa, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo; trong “Vợ
nhặt” là nạn đói và những kiếp người tuy đứng giữa bờ vực của cái chết vẫn
khao khát sống, vẫn hướng về tương lai v.v Tuy nhiên, theo khảo sát tôi
chưa thấy có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề “bi kịch của
người phụ nữ” trong hai tác phẩm đó.
Vậy nên, tôi mạnh dạn đi tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề trên. Có thể do
tài liệu tham khảo còn hạn chế, lịch sử vấn đề còn chưa được khai thác nên
trong quá trình tìm hiểu sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất
mong sự góp ý của thầy cô để bài tiểu luận thêm hoàn chỉnh.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về “bi kịch của một số nhân vật nữ” trong hai tác phẩm
“Chí Phèo” và “Vợ nhặt” một mặt đáp ứng nhu cầu tìm tòi, nghiên cứu thêm
những thông tin mới, lạ, đa chiều của học sinh về hai tác phẩm. Đem lại giá
4
trị thiết thực cho việc dạy và học ở trường phổ thông. Mặt khác, góp phần đào
sâu vào nội dung tư tưởng – những điều chưa hoặc ít được nói đến để qua đó,
khẳng định tài năng và giá trị của tác giả, tác phẩm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

1.1.2 Tác phẩm Chí Phèo
1.2 Vài nét khái quát về Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp
1.2.2 Tác phẩm Vợ nhặt
1.3 Những lí luận chung về bi kịch và bi kịch tình yêu
1.3.1 Khái niệm về bi kịch
1.3.2 Bi kịch tình yêu
Chương 2: Bi kịch tình yêu của một số nhân vật nữ trong hai
truyện ngắn “Chí Phèo” và “Vợ nhặt”.
2.1 Bi kịch của sự vỡ mộng
2.1.1 Nhân vật thị trong truyện ngắn Vợ nhặt
2.1.2 Nhân vật thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo
2.2 Bi kịch của tình yêu hạnh phúc giữa đời thường; giữa khát vọng
bản năng và hiện thực đời sống.
2.2.1 Nhân vật bà ba trong truyện ngắn Chí Phèo
2.2.2 Nhân vật chị vợ binh Chức trong truyện ngắn Chí Phèo
2.2.3 Nhân vật thị trong truyện ngắn Vợ nhặt
2.2.4 Nhân vật thị trong truyện ngắn Chí Phèo
2.3 Bi kịch tình yêu dang dở, cô đơn
2.3.1 Nhân vật bà cô thị Nở và nhân vật thị Nở trong truyện ngắn
Chí Phèo.
2.3.2 Nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Chí Phèo.
6
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Những vấn đề chung
1.1 Vài nét khái quát về Nam Cao và tác phẩm “Chí Phèo”
1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Nam Cao (1915- 1951) tên thật Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại
Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam - nay là xã Hòa Hậu,
huyện Lý Nhân, Hà Nam. Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút

1.2 Vài nét khái quát về Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Kim Lân quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn (nay là làng
Phù Lưu, phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh, năm 2008 thuộc
vùng Hà Nội. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết bậc tiểu
học rồi phải đi làm. Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm
của ông được đăng trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật.
Một số truyện (Vợ nhặt, Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Cô
Vịa ) mang tính chất tự truyện nhưng đã thể hiện được không khí tiêu điều,
ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông
dân thời kỳ đó.
Ông được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào những đề tài độc đáo như
tái hiện sinh hoạt văn hóa phong phú ở thôn quê (đánh vật, chọi gà, thả
chim ). Các truyện: Đôi chim thành, Con mã mái, Chó săn kể lại một cách
sinh động những thú chơi kể trên, qua đó biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn
của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám - những người sống cực
nhọc, khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, tài hoa.
Sau Cách Mạng tháng Tám, Kim Lân tiếp tục làm báo, viết văn. Ông
vẫn chuyên về truyện ngắn và vẫn viết về làng quê Việt Nam - mảng hiện
8
thực mà từ lâu ông đã hiểu biết sâu sắc. Những tác phẩm chính: Nên vợ nên
chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962).
Hà Minh Đức viết trong “Nhà văn nói về tác phẩm”: “Kim Lân là một
trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Kim Lân đã tạo được cách viết độc đáo. Phải nói rằng Kim Lân viết không
nhiều nhưng những sáng tác của ông đã gây ấn tượng với bạn đọc”.
Sinh thời ông sống tại Hà Nội. Nǎm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải
thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Ông từ trần năm 2007 tại Bệnh viện
Hữu Nghị Hà Nội, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh hen suyễn,
hưởng thọ 87 tuổi.

cao của sáng tạo thi ca, nó là một loại hình đậm chất triết luận, nó phản ánh
các vấn đề đặt ra trong đời sống. Vẻ đẹp trong bi kịch là vẻ đẹp của những tư
tưởng nhân văn mà con người rút ra từ kinh nghiệm cay đắng của cuộc sống.
Ở bi kịch những gì mong manh, vụn vặt đều bị gạt bỏ chỉ còn đọng lại là
những khát vọng mãnh liệt nhất, chân thực nhất nhưng cũng trí tuệ nhất. Ở bi
kịch cái chân, thiện hoà hợp kì diệu với cái đẹp và cái trác tuyệt. Ở bi kịch
niềm vui và nỗi buồn, hy vọng và thất vọng, sung sướng và đau khổ, thành
công và thất bại cứ vận chặt lấy nhau, tương phản, đối lập nhau nhưng thống
nhất nhiệm vụ : khẳng định sức sống mãnh liệt và bất tử của con người, khẳng
định thắng lợi tất yếu của tiến bộ xã hội, dù phải trải qua nhiều thử thách
1.3.2 Bi kịch tình yêu
Từ khái niệm lí luận chung về bi kịch, tôi mạnh dạn đóng góp quan
niệm của mình về bi kịch tình yêu: là sự mâu thuẫn, đối lập giữa khát vọng
yêu đương cá nhân và hiện thực đời sống. Cá nhân không thực hiện được khát
vọng, mong muốn, lí tưởng trong tình yêu mà rơi vào hoàn cảnh bi đát, đau
thương; hay cá nhân khát khao hạnh phúc, khát khao tình yêu nhưng tình yêu,
hạnh phúc không trọn vẹn, con người vẫn rơi vào cảnh ngộ buồn đau, cô đơn.
10
Chương 2: Bi kịch tình yêu của một số nhân vật nữ trong hai tác
phẩm “Vợ nhặt” và “Chí Phèo”.
2.1 Bi kịch của sự vỡ mộng.
2.1.1 Nhân vật thị trong tác phẩm “Vợ nhặt”
Nói về nhân vật thị - người vợ nhặt trong tác phẩm cùng tên của nhà
văn Kim Lân. Xuất hiện trong tác phẩm, người vợ nhặt chỉ là một con số
không tròn trĩnh : không tên tuổi, không quê hương, không gia đình, không
nghề nghiệp… Từ đầu đến cuối tác phẩm chị chỉ được gọi bằng “thị”- một
cách gọi phiếm định giành cho chị và tất cả những người phụ nữ có cảnh ngộ
và số phận đáng thương và tội nghiệp như chị.
Không những vậy, chân dung của người phụ nữ ấy hiện ra ngay từ đầu
là những nét không mấy dễ nhìn : đó là hình ảnh của người đàn bà gầy vêu

nhân văn.
2.1.2 Nhân vật thị Nở trong tác phẩm “Chí Phèo”
Cùng chung cái bi kịch vỡ mộng trong tình yêu, nhân vật thị Nở trong
“Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao cũng đã hi vọng để rồi thất vọng.
Đó là con người xấu nhất làng Vũ Đại, xấu đến ma chê quỷ hờn, khuôn
mặt của Thị được được miêu tả như căn hầm nhốt quỷ dữ trong bóng đêm, mà
đã được Nam Cao mô tả bằng những câu văn đầy tính tạo hình như thế này:
"Cái mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi mà bề
ngang hơn bề dài, thế mà hai má nó lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu hai má
nó phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn Cái mũi thì vừa
ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành đã thế thị còn dở hơi
và thị lại nghèo và thị lại là dòng giống của một nhà có mả hủi "
Thế nên, người ta tránh thị như tránh một con vật rất tởm
Cả thị và thị Nở đều chịu cái bi kịch bất công của tạo hóa; nếu thị là
con số không tròn trĩnh, không đáng giá, rẻ rúng thì thị Nở có mà như không
có gì vì cái tính dở hơi của chị ta.
12
Thị Nở đến với Chí Phèo như một điều hiển nhiên, “đôi lứa xứng đôi”,
có lẽ trên đời này, cái hi vọng duy nhất cho tình yêu của thị Nở là Chí Phèo.
Họ yêu nhau hết năm ngày, cái năm ngày ngắn ngủi với tình yêu của cả một
đời thị Nở. Phải nói Nam Cao thực sự rất tài tình khi xây dựng nên tình huống
mang tính bước ngoặt trong tâm lí của cả hai nhân vật Chí Phèo và thị Nở:
“Đến hôm thứ sau, thì thị bỗng nhớ rằng thị có một người cô ở đời. Người cô
ấy nội ngày mai sẽ về. Thị nghĩ bụng hãy đừng yêu để hỏi cô thị đã”. Và rồi
thị đã quyết định về. Suy nghĩ trong thị lúc bấy giờ có lẽ chỉ duy nhất là mong
bà cô mình đồng ý, chấp thuận mối tình duyên của mình và Chí Phèo. Cả
cuộc đời thị Nở trước đó, chưa một lần được yêu và chưa được ai yêu dù chỉ
một lần, thị gặp Chí Phèo là một cái duyên trời cho, là một hạnh phúc hiếm
có. Và cũng có lẽ, đây là cơ hội cuối cùng, hi vọng cuối cùng để thị được
sống trong tình yêu, trong hạnh phúc lứa đôi như bao người phụ nữ bình

phương diện nào đó vẫn bị người ta xem là tàn nhẫn, tàn nhẫn với “cái thằng
đã ăn nằm với mình”. Ngẫm ra, mới thấy thị thật đáng thương!
2.2 Bi kịch của tình yêu, hạnh phúc giữa đời thường, giữa khát
vọng bản năng và hiện thực đời sống.
2.2.1 Nhân vật bà ba trong tác phẩm Chí Phèo
Cũng trong “Chí Phèo”, nhân vật bà ba – được Nam Cao xây dựng là
một nhân vật phụ, nhưng chính nhân vật này là nguyên nhân dẫn đến bước
ngoặt thay đổi cả cuộc đời, cả con người nhân vật chính – Chí Phèo.
Nhân vật bà ba được Nam Cao giành rất ít câu chữ trong tác phẩm, bà
ta chỉ được vẽ lên qua một số chi tiết gián tiếp: “bà ba nhà ông lí còn trẻ lắm
mà lại cứ hay ốm lửng bắt hắn bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì ấy”; “hắn
nhớ đến bà ba – cái con quỷ cái hay bắt hắn bóp chân mà lại cứ bắt bóp lên
trên, trên nữa. Nó chỉ nghĩ đến sao cho thỏa chứ nó có yêu hắn đâu Bà bảo
14
hắn rằng: Mày thực thà quá, con trai gì hai mươi tuổi mà như ông già Bà lơ
lẳng bảo: chẳng nhẽ tao gọi mày vào chỉ để bóp chân thế này thôi ư?”.
Người ta chỉ biết đến bà ba như một người đàn bà lẳng lơ, đĩ thõa, đã
gây nên số phận nghiệt ngã của Chí Phèo thế nhưng soi vào tâm lí con
người, nào ai biết đâu “bà” ba vẫn còn trẻ và đẹp lắm! Bà trẻ đẹp như vậy, tại
sao lại chấp nhận chung sống với cái tên “khọm già” kia? Điều này, có lẽ ai
cũng hiểu, cũng biết về quyền lực và địa vị trong làng Vũ Đại của Bá Kiến
cùng “máu dê” của ông ta. Bá Kiến có tiếng sợ vợ, sống trong cái dinh cơ nhà
Bá Kiến, bà ba dường như “làm chủ” tất cả. Cuộc sống vật chất không nói
đến làm gì, thế nhưng nhìn ở phương diện tinh thần, ở góc độ tình yêu, có thể
khẳng định rằng bà không hề có một tình yêu thực sự. Bà ba cũng là một
người phụ nữ, cũng mong muốn có được tình yêu, hạnh phúc lứa đôi như bao
người phụ nũ bình thường khát, bà khao khát sống theo cái bản năng của một
con người. Việc làm của bà, hành động trên của bà tất cả cũng chỉ phản ánh
nhu cầu bản năng rất thực tế mà thôi! Bà ba đáng thương hơn đáng trách. Xét
về phương diện tình yêu, cuộc đời bà ba cũng là một bi kịch. Khát khao bản

bi kịch, rất xót xa.
2.2.3 Nhân vật thị trong “Vợ nhặt”
Như đã nói, cuộc đời lấy đi tất cả mọi thứ mà thị có thế có được. Cuộc
đời chị là một con số không tròn trĩnh, không hơn không kém. Khổ thay hơn
nữa, chị lại sống trong cái cảnh đói thê đói thảm năm ấy. Vậy nên, “con số
không” ấy cùng với cái cảnh đói rách thảm thương ấy đã biến thị trở thành
một thứ vô giá trị, không đáng một hào một xu Trước bờ vự của sự sống và
cái chết, trước biển cả mênh mông ấy chị đã bám lấy một cái phao như một
qui luật tất yếu – “cái phao” ấy chính là Tràng. Thị đến với Tràng không phải
vì tình yêu, thị trao gửi tấm thân mình cho Tràng cũng chẳng phải lòng
thương mến. Mà thương thay, vì cái ăn, cái đói. Như vậy, cái đói, cái nghèo,
cái khổ - cuộc đời – đã cướp đi ở thị cái quyền được yêu chính đáng, cái
quyền lựa chọn hạnh phúc cá nhân. Đó quả là một số phận bi kịch. Có ở đâu,
16
có con người nào, số phận nào lại nhỏ nhoi, vô giá trị như vậy không? Đã
từng có người phụ nữ nào nhận lời tỏ tình qua bốn bát bánh đúc như thế
chưa? Đã có người con gái nào đi lấy chống mà chịu cảnh cô đơn lẻ chiếc,
một bóng một mình trong e dè, ngượng ngại như thị chưa? Cuộc đời vẽ ra
nhiều mảnh đời trong đó có thật nhiều bức tranh không được tươi màu như
thị, có lẽ thị là một số phận bi kịch điển hình trong cái đói năm 1945 ấy cả về
phương diện vật chất lẫn tinh thần.
2.2.4 Nhân vật thị Nở trong “Chí Phèo”
Thị Nở trước khi gặp Chí Phèo, cuộc đời cô có lẽ không có gì đáng để
gọi là vui vẻ, là hạnh phúc. Con người ta được vui vẻ, hạnh phúc khi được
sống trong tình yêu - ở đây là tình yêu đôi lứa. Thế nhưng, thị chưa từng yêu
một ai và càng chưa được ai yêu.
Dân gian vẫn có câu:
Làm hoa cho người ta hái
Làm gái cho người ta trêu
Ôi! Thế mới biết ra cuộc đời tình yêu của thị Nở đau khổ, bi kịch biết

với Chí, đến ngày thứ sáu, sực nhớ mình còn người cô và “nghĩ bụng : hãy
dừng yêu để hỏi cô thị đã” thì nhân vật bà cô này mới hiện lên qua một ít suy
nghĩ và hai lời thoại. Tất cả chỉ có vậy.
Tuy chỉ là nhân vật rất phụ nhưng có thể nói, nhân vật bà cô này lại là
một tình tiết bất ngờ, vô cùng quan trọng làm xoay chuyển toàn bộ câu
chuyện cũng như cuộc đời nhân vật Chí Phèo. Chỉ một câu nói tàn nhẫn “Đã
nhịn được đến bằng tuổi này thì nhịn hẳn, ai lại đi lấy thằng Chí Phèo !” đã
đụng chạm đến tận cùng đến lòng tự ái của một người đàn bà đã quá ba mươi,
“ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn” và dở
hơi, ế chồng. Chính câu nói cay độc vô ấy đã đoạn tuyệt một cách đau đớn
một tình yêu vừa mới chớm, đã lạnh lùng cắt đứt sợi dây liên lạc cuối cùng
giữa Chí với loài người. Bát cháo hành “mới thơm làm sao” chưa kịp đưa Chí
từ thế giới loài quỷ quay về xã hội con người thì một câu nói cay nghiệt ấy coi
18
như là dấu chấm hết cho mọi quá trình tái sinh trong Chí, đẩy Chí xuống tận
cùng vực thẳm khổ đau và cái chết dữ dội.
Trước hết nhân vật này rất tiêu biểu cho câu thành ngữ của dân gian
“giặc bên ngô không bằng bà cô không chồng” (Còn có dị bản “giặc bên ngô
không bằng bà cô bên chồng”). Bà cô Thị Nở đã ngoài năm mươi, hơn nửa
cuộc đời mà vẫn không tìm được một tấm chồng. Trong mắt của người đàn bà
khốn khổ ấy, chuyện chồng con của “con cháu gái ba mươi tuổi mà chưa trót
đời” “sao mà đĩ thế ! Thật đốn mạt… Nhục nhã ơi là nhục nhã”. Thái độ giãy
nảy lên, những lời cay độc, “xỉa xói vào mặt con cháu gái” đã có hiệu quả
ngay lập tức. Bởi bà cô này luôn thấy tự ái, uất ức, thậm chí cả khi Chí chết đi
rồi, bà vẫn không tha cho cháu mình mà còn “chỉ vào mặt cháu mà đay
nghiến”. Rõ ràng, thái độ, lời nói của nhân vật rất tiêu biểu cho những nét
tính cách của những người phụ nữ lớn tuổi lận đận trong chuyện tình
duyên. Xét cho cùng, nó mang nỗi ẩn ức tính nữ cả về tâm lí lẫn sinh lí mà
biểu hiện rõ nhất là thái độ “không ăn được thì đạp đổ”, “trâu buộc ghét trâu
ăn”. Bà cô không chồng trong truyện, xét ở phương diện nào đó, có thể xem

cứ nối tiếp chồng chéo lên người phụ nữ nhỏ bé, tội nghiệp này. Chao ôi, ông
trời hay Nam Cao đây – thật khéo hóa tạo bất hạnh cho con người ấy.
2.3.2 Nhân vật bà cụ Tứ trong “Vợ nhặt” – Kim Lân
Bà cụ Tứ là người mẹ nghèo khổ thương con như muôn ngàn người mẹ
Viện Nam khác. Nhưng người mẹ ấy được đặt trong một tình cảnh hết sức éo
le. Đó là việc Tràng, con trai của bà, giữa lúc nạn đói hoành hành lại lấy vợ.
Nhưng dường như chính nghịch cảnh này càng làm nổi rõ ánh sáng tâm hồn ở
người mẹ đáng thương.
Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện từ giữa truyện, lúc anh Tràng
đưa vợ về, song từ đấy, dù rất ít nói, bà vẫn là người thu hút nhiều nhất tâm trí
của người đọc. Bởi trong lòng người mẹ ấy, cảm trăm mối tơ vò, chuyện nay,
chuyện xưa đan xen lẫn lộn, niềm vui, nỗi buồn, sự cay đắng tủi cực lẫn xót
thương vây lấy. Nói với con trai, con dâu nhưng lòng bà cụ Tứ thật ngổn
20
ngang. Bà đăm đăm nhìn ra sông. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Mùi đốt
đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào két lẹt. Bà lão thở
dài ra một hơi. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ
đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau,
cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?
Một thoáng thôi nhưng trong tâm trí bà cụ Tứ hình ảnh “ông lão” đã
mờ mờ xuất hiện đủ bấy nhiêu thôi, người đọc cũng có thể cảm nhận được
cái tâm của bà lúc này, bà nghĩ đến các con – một mặt là trăn trở, suy tư, lo
lắng; mặt khác lại vui mừng phấn khởi vì con trai đã lập thành gia thất. Thế
coi như một đời người mẹ đã làm tròn bổn phận của mình, đã mãn nguyện
lắm rồi. Hình ảnh người chồng quá cố xuất hiện trong tâm trí bà cụ là một chi
tiết với tôi là ấn tượng và cảm động, bà nghĩ đến chống như một niềm an ủi,
như muốn nói với chồng bà “Ông à! Cuối cùng thì tôi cũng đã làm tròn bổn
phận của một người mẹ và cũng là một người cha thay ông. Con trai chúng ta
đã có vợ rồi, nhưng thật buồn ngày vui của hai đứa lại vắng ông”. Nghĩ đến
cái ý nghĩ đó – mặc dù là chủ quan của tôi – chẳng ai là người cầm được nước

những tư tưởng, những vấn đề mang hơi thở của thời đại. Cho nên, dù có qua
bao lớp bụi thời gian, thì tên tuổi hai nhà văn cùng những “đứa con tinh
thần” của mình sẽ đứng vững trên văn đàn. Giá trị của hai tác phẩm cùng tên
tuổi nhùa văn như đã biết đã được thời gian kiểm chứng.
Việc nghiên cứu vấn đề “bi kịch tình yêu của một số nhân vật nữ”
trong hai tác phẩm trên lại càng chứng minh tính thời đại, tình mới mẻ của
hai tác phẩm cùng giá trị của nó. Hai tác phẩm như mạch nguồn cho các bạn
trẻ yêu văn học vậy, càng đi sâu, càng tìm hiểu ta càng chiêm nghiệm được
những vấn đề sâu sắc mà các nhà văn muốn gửi gắm, truyền tải.
22
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Dân (2014), Phương pháp luận nghiên cứu văn học,
Nxb Khoa học Xã hội,H.
2. Phạm Viết Vượng (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học,
NXB. ĐHQG Hà Nội.
3. Phương Lựu, (Chủ biên) – Trần Đình Sử - Nguyễn Xuân Nam – Lê
Ngọc Trà – La Khắc Hòa – Thành Thế Thái Bình (2006 – tái bản), Lí luận
văn học, Nxb. GD, H.
4. Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học – Xã hội – Nhân văn, H.
5. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng Chủ biên), Từ
điển thuật ngữ tiếng Việt, Nxb, GD, H.
6. Trần Đăng Suyền (Chủ biên), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại
(tập 1) (từ đầu thế kỉ XX đến 1945), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2010 (in
lần thứ ba).
7. Một số trang web:
http://www.vanhocvietnam.net
http://vienvanhoc.org.vn
http://tienve.org
http://google
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status