ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
NỖI CÔ ĐƠN CỦA CON NGƢỜI ĐƢƠNG ĐẠI
TRONG VĂN CHƢƠNG PHAN VIỆT QUA HAI TÁC PHẨM
“TIẾNG NGƢỜI” VÀ “MỘT MÌNH Ở CHÂU ÂU”
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Học viên
Nguyễn Thị Hồng Vân
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn
này tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của các thầy cô
giáo cùng bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy các cô
trong khoa Văn học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – những
người đã giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý
báu trong thời gian tôi học tập ở đây. Đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu
sắc nhất đến thầy giáo - Tiến sĩ Phạm Xuân Thạch - người đã trực tiếp
hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi từ ngày đầu học tập cho đến khi tôi hoàn
thành luận văn này, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn
thành luận văn với một tinh thần khoa học, nghiêm túc, một thái độ thân
tình và tôn trọng.
Cuối cùng, tôi muốn dành lời cảm ơn thân thương nhất đến những
người thân yêu trong gia đình, những người bạn luôn bên cạnh ủng hộ động
viên kịp thời, những người đồng nghiệp nhiệt tình, giúp sức cho tôi trong suốt
thời gian tôi học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Nguyễn Thị Hồng Vân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3. Đối tƣợng,phạm vi và mục đích nghiên cứu 10
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 11
5. Cấu trúc luận văn 11
3.2.2 Cấu trúc văn bản nghệ thuật 95
3.3 Tổ chức không gian - thời gian 97
3.3.1 Thời gian hiện thực 98
3.3.2 Không gian thực - ảo đan quện 101
3.3.3 Không gian đa chiều và thời gian đa tuyến 104
3.4 Giọng điệu 107
Tiểu kết: 111
KẾT LUẬN 113 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học Việt Nam đương đại ngày nay luôn được đặt dưới góc nhìn
tổng thể, đa diện và mang tính hệ thống. Ở giai đoạn trước, văn học Việt Nam
còn phân chia rõ ràng thành các dòng văn học, mà cụ thể là văn học Việt Nam
trong nước và văn học Việt Nam ở hải ngoại thì giờ đây, ranh giới và đường
biên phân định các bộ phận văn học đó đã gần như không còn mà nó có sự
thống nhất cao. Nếu coi văn học Việt Nam là cái tổng thể, văn học hải ngoại
là cái bộ phận thì trong cái bộ phận có cái tổng thể và ngược lại trong cái tổng
thể lại có cái bộ phận. Có được điều này chính là nhờ vào quá trình hiện đại
hóa nền văn học, cùng xu hướng nhận chân lại các giá trị truyền thống đích
thực của văn học Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa, đa dạng hóa. Văn học
Việt Nam được nhìn nhận lại trong tính toàn vẹn, liên tục và bao quát hơn.
Trong đó, văn học Việt Nam đương đại đã làm một công việc hết sức có ý
nghĩa, đó là việc ghi nhận những đóng góp lớn, nhỏ của các nhà văn thuộc
dòng văn học di dân hải ngoại hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài
như Thuận, Nguyễn Văn Thọ, Phan Việt… Đây là một bộ phận văn học có
quan hệ khăng khít với bộ phận văn học Việt Nam trong nước nhưng do
những yếu tố về mặt chính trị, xã hội nào đó và ở những giai đoạn khác nhau
cùng rộng mở, không gian để sáng tác không chỉ giới hạn ở một quốc gia hay
vùng lãnh thổ nữa mà nó đã mang tính chất toàn cầu, tính chất của văn
chương không biên giới. Họ đi và về liên tục giữa hai miền đất nước mà
không bị những quy định ngặt nghèo về khoảng cách địa lý, không thời gian
hay quy định của luật pháp cản trở như những thế hệ nhà văn hải ngoại cũ. Do
đó, mối quan hệ của họ với quê hương nói chung, văn học Việt Nam nói riêng
không hề bị cắt đứt, họ luôn giữ một mạch ngầm với quê hương, đó chính là
những sáng tác văn học ở mọi thể loại mà thông qua đó họ sẽ theo dõi được
muôn mặt của đời sống xã hội Việt Nam. Từ đó, chúng ta thấy được cái nhìn,
sự quan sát và phản ánh hiện thực xã hội, con người Việt Nam của họ luôn 3
được đặt trong thế đa chiều, đa thanh, khách quan toàn diện với một tư duy
hiện đại. Đặc biệt, chính những nhà văn thuộc bộ phận văn học này là một
“mắt xích” quan trọng để đưa văn học Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt, con
người Việt nói chung giao thoa với những nền văn hóa mới nơi họ sống và
làm việc. Như thế, sự kết nối của họ với quê hương và nơi sống mới không hề
bị mất đi, mà hơn thế, chính họ đã thực hiện nhiệm vụ hội nhập văn hóa, văn
học, đưa văn học Việt Nam gần hơn với quỹ đạo của văn học thế giới.
1.2.Có thể nói, trong dòng văn học của người Việt Nam ở nước ngoài,
cùng với nhà văn Thuận, nhà văn Nguyễn Văn Thọ - là những nhà văn có
sáng tác đều đặn, được công chúng đánh giá cao thì nhà văn Phan Việt cũng
là nhà văn có sáng tác hiện diện ở Việt Nam một cách đầy đủ, liên tục và nhận
được đánh giá cao của công chúng Việt. Nói sáng tác của nhà văn Phan Việt
hiện diện một cách đầy đủ là vì toàn bộ những sáng tác của cô đều chỉ xuất
bản và giới thiệu với công chúng tại Việt Nam, giống như nhà văn Thuận.
Văn học hải ngoại, bản thân cũng chia thành nhiều hướng khác nhau; tuy
nhiên với tư cách là độc giả Việt, vì thế chúng tôi chỉ xem xét trên cơ sở
những gương mặt đã xuất hiện tác phẩm tại Việt Nam, có sự gắn bó chặt chẽ
tâm đến vấn đề con người như thân phận xa quê hương, sự hội nhập về văn
hóa, chuyện du lịch, ăn uống…nhưng ám ảnh hơn cả đó là chủ đề về nỗi cô
đơn của con người đương đại trong xã hội. Nhân vật cô đơn trong tác phẩm
của Phan Việt chứa đựng trong đó những chiều sâu ý nghĩa tư tưởng, và quan
niệm của nhà văn về con người về cuộc đời. Tìm hiều về cái cô đơn trong một
số sáng tác của nhà văn cũng Phan Việt chính là cách để người đọc thấu hiểu
hơn một phần đời sống, thân phận của những tha nhân trên đất khách quê
người. Nỗi cô đơn của con người - vấn đề được văn học quan tâm từ lâu với
tư cách là một chủ đề lớn, cùng với đó là thân phận của con người đất Việt xa
xứ - một vấn đề mang tính “thời sự” đã được nhà văn Phan Việt thể hiện một
cách gần gũi, chân thật chứa đựng những giá trị nhân bản, nhân văn sâu sắc.
Thứ ba, đọc và khảo sát hai tiểu thuyết mới Tiếng người và Một mình ở châu 5
Âu của nhà văn Phan Việt chúng tôi nhận thấy sự cách tân mới mẻ trong đó
với lối viết lạ trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, lựa chọn khai
thác mẫu nhân vật mới (nhân vật trí thức, trẻ, du học, tài năng, có học thức
thành đạt với địa vị cao trong xã hội - là những mẫu nhân vật còn ít được khai
thác); đến cốt truyện, cấu trúc văn bản kiểu lỏng lẻo, phân mảnh, lắp ghép cho
đến không thời gian nghệ thuật với kỹ thuật của dòng ý thức mới, ngôn ngữ
chắc gọn, mà vẫn giàu sức gợi, tả…Như thế, tiếp cận tác phẩm của nhà văn
Phan Việt chính là cách tiếp cận gần hơn với sự vận động, phát triển và đổi
mới của thể loại tiểu thuyết. Đặc biệt là tiểu thuyết Việt Nam đương đại và
chỉ ra những đóng góp mới vào công cuộc đổi mới nền văn học Việt Nam
đương đại của những nhà văn di dân hải ngoại.
Từ tất cả những phân tích trên chúng tôi nhận thấy, việc thực hiện đề
tài luận văn Nỗi cô đơn của con người đương đại trong văn chương Phan Việt
qua hai tác phẩm Tiếng người và Một mình ở châu Âu là một đề tài hay, hấp
dẫn và cần thiết, là bước khởi đầu cho quá trình chiếm lĩnh những kinh
An ninh thế giới, số ra ngày 07/04/2008 đã có những đánh giá trong kỹ thuật
viết của nhà văn Phan Việt, về giọng điệu, về cách tư duy, về thái độ của nhà
văn khi nhìn nhận và phản ánh hiện thực, ông nói :"Phan Việt, từ buổi đầu
của Phù phiếm truyện đã là một giọng văn lạ. Ở chị không có cái làm dáng
cố tình, cũng không có những đoạn văn trữ tình óng mượt. Chính xác, mạch
lac, như khoa học nhưng không khô khan. Cuốn hút trong những câu chuyện
của Phan Việt là một lối tư duy tường minh, nhìn nhận cuộc sống bằng thái
độ nghiêm túc nhưng ko lên gân, không nghiệt ngã. Không có sự bi lụy trong
văn chương phan Việt". Tác giả Thủy Lê trong bài viết "nhà văn phan Việt,
bất hạnh không nghiễm nhiên là tài sản" đã có những đánh giá mang tính khái
quát về khả năng và tần xuất sáng tác văn chương của Phan Việt, đồng thời
khẳng định về ý thức trách nhiệm cầm bút của nhà văn, tác giả khẳng
định:"Dù công việc chuyên môn hoàn toàn nằm ngoài văn chương nhưng chị
đã cầm bút không ngừng nghỉ và có thể nói là một trong những tác giả nữ 7
đáng đọc nhất hiện nay của văn học Việt nam đương đại về kỹ năng viết, sự
trải nghiệm, tìm tòi, ý thức làm nghề chuyên nghiệp". Có thể nói, trong giai
đoạn đổi mới và hội nhập của văn học Việt Nam đương đại, Phan Việt nổi lên
như một "đài khí tượng", một cây bút có cá tính, trong cả tác phẩm và trong
cả những lập ngôn táo bạo gây ra nhiều dư luận xung quanh tựa đề - bất hạnh
là một tài sản được nhà văn đặt làm tiêu để cho bộ 3 cuốn sách: "Một mình ở
châu Âu, Xuyên Mỹ và Về nhà" trong đó 2 cuốn đã cho ra mắt bạn đọc trong
nước.
2.2. Nhận định về các sáng tác của Phan Việt qua khảo sát, tìm hiểu,
chúng tôi nhận thấy. Có một số lượng các bài viết về nhà văn Phan Việt trên
các trang web mà đa phần là những ý kiến, đánh giá bình phẩm đó đều dưới
góc độ cá nhân và tập trung vào một vài khía cạnh nghệ thuật trong tiểu
thuyết của cô. Trong đó, Nguyễn Đông Thức là nhà văn tiếp cận gần nhất với
danh T.N trên báo Văn nghệ quân đội số ra ngày, 13/03/2013 với bài viết
Châu Âu dưới con mắt Phan Việt, tác giả đã chỉ ra nét mới, sự trưởng thành
trong ngòi bút của nhà văn Phan Việt so với những tác phẩm trước, bài viết có
đoạn: "So với những tác phẩm trước đó của Phan Việt, ngòi bút chị trong Một
mình ở châu Âu dù vẫn tỉnh và lạnh, vẫn nhiều triết lý, nhưng có phần đằm
thắm hơn, da diết hơn" [34] điều này chứng tỏ Phan Việt không chỉ là một
nhà văn chịu khó tìm tòi, sáng tạo, cùng ý thức hoàn thiện bản thân mà cô còn
luôn ý thức làm nghề chuyên nghiệp. Có thể nói, hầu hết những bài viết trên
đây mới dừng lại ở mức độ đánh giá chung chung, đơn thuần về kỹ thuật viết
của nhà văn Phan Việt. Mỗi bài viết đều ghi nhận một cái nhìn có tính chất
khám phá, với những kiến giải khơi gợi, sắc sảo, tinh tế, do đó đây chính là
nguồn tư liệu quý báu cho người viết tìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc hơn về
tiểu thuyết của nhà văn Phan Việt.
Là một nhà văn còn tương đối mới, chưa được biết đến một cách rộng
rãi, các sáng tác của cô đều là sách mới xuất bản một vài năm trở lại đây, do
vậy, không phải ai cũng biết đến và tiếp cận được với văn chương của Phan 9
Việt. Vì thế, từ các công trình nghiên cứu, các bài báo cáo khoa học, cho đến
những đề tài khoa học nghiên cứu chuyên sâu về tiểu thuyết của nhà văn Phan
Việt, các bài báo cáo khoa học, luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiêp của
sinh viên, học viên các trường như: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Viện văn học, Trường viết văn Nguyễn Du, Trường Đai học Sư phạm Hà Nội
là hầu như chưa có nhiều. Có thể nói, luận văn của chúng tôi là đề tài
nghiên cứu đầu tiên, đặt nền móng cho những ai quan tâm, yêu thích và muốn
khám phá sâu hơn văn chương của Phan Việt.
2.3 Riêng về đề tài nỗi cô đơn của con người trong văn chương Phan
Việt, chúng tôi nhận thấy cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên
biệt và mang tính hệ thống. Đa phần các ý kiến mới xoay xung quanh vấn đề
phương thức biểu hiện nỗi cô đơn của con người đương đại. Đặc biệt nhấn
mạnh vào cảm thức cô đơn của con người và nghệ thuật biểu đạt nỗi cô đơn
trong văn chương Phan Việt.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn tập trung nghiên cứu hai tác phẩm chính là Tiếng người và
Một mình ở châu Âu của nhà văn Pham Việt. Được xuất bản bằng Tiếng Việt
và do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành.
- Ngoài ra, người viết sẽ tiến hành so sánh, đối chiếu với một số những
tác phẩm có cùng chủ đề, và các nhà văn cùng bộ phận văn học di dân hải
ngoại để làm sáng tỏ đóng góp của nhà văn Phan Việt.
*Mục đích nghiên cứu:
Khi tiến hành nghiên cứu về nỗi cô đơn của con người đương đại trong
văn chương Phan Việt, chúng tôi nhận thấy: chủ đề về nỗi cô đơn trong dòng
văn học Việt Nam không mới và không phải đến Phan Việt mới được đề cập,
đây là một vấn đề cũ, nhưng chúng tôi đã chọn phương pháp “bình cũ mà
rượu mới”. Người viết đã chọn cho bài viết một đối tượng hoàn toàn mới đó
là chủ đề về nỗi cô đơn trong tiểu thuyết của nhà văn thuộc dòng văn học di 11
dân hải ngoại, bước đầu tiếp cận dòng văn học di dân hải ngoại như một
mạch nguồn chung của văn học Việt Nam đương đại.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài:“Nỗi cô đơn của con người đương đại trong văn
chương Phan Việt qua hai tác phẩm Tiếng người và Một mình ở châu Âu”
luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chính để soi chiếu toàn diện hai
tiểu thuyết Tiếng người và Một mình ở châu Âu đó là phương pháp Thi pháp
học, kết hợp với nguyên tắc cấu trúc - hệ thống và một số thao tác nghiên cứu
như thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp…Trong đó:
Phương pháp Thi pháp học giúp chúng tôi tiếp cận tác phẩm một cách
giới tồn tại xung quanh mình, không chịu những tác động của xã hội hay
những yếu tố ngoại cảnh nào.
Trong cuốn Dẫn giải ý tưởng văn chương của Henri BeNac, thuật ngữ
cô đơn dùng để chỉ “hoặc là một nơi hiu quạnh, hoặc những tác động của nơi
ấy. Nghĩa là trạng thái của con người sống một mình hay của người cảm thấy
duy chỉ có một mình với chính mình trong khung cảnh nào đó người ấy thấy
mình ở đấy (Khung cảnh thiên nhiên, căn buồng, xã hội của những con
người)”[11,tr796]. Diễn giải nội hàm khái niệm cô đơn trên có thể thấy, khái
niệm cô đơn mang trong nó biên độ tương đối rộng. Nó mang tính bao quát
nhiều chiều trong những khoảng không - thời gian khác nhau, hoàn cảnh khác
nhau. Con người có thể gặp phải hoàn cảnh cô đơn khi sống một mình, khi ở
nơi hiu quanh, dưới những tác động từ ngoại cảnh vào thế giới nội cảm của
con người, gần với cách nói của đại thi hào Nguyễn Du “Người buồn cảnh có
vui đâu bao giờ” khi ấy con người dễ gặp phải những nỗi cô đơn, buồn chán.
Cái cô đơn tồn tại trong con người là bởi vì họ cảm thấy quá nhỏ bé trước
thiên nhiên, quá ư chật chội, bế tắc, tù túng quẩn quanh trong căn buồng nhỏ,
hoặc trước sự hỗn độn, biến động với những xoay vần chóng vánh của xã hội
mà con người không thể hài hòa, tương thích và bắt kịp…Tất cả những điều 13
kiện hoàn cảnh này đều khiến con người cảm thấy cô đơn, hoang mang, và
càng hoang mang thì mức độ biểu hiện cái cô đơn của con người càng lớn.
Cô đơn được xem là một trạng thái tồn tại sẵn có trong mỗi con người -
đó là một nỗi cô đơn bản thể. Cũng như những trạng thái cảm xúc khác của
con người như: hỉ, nộ, ái, ố… Cô đơn cũng như một trạng thái tâm lý mang
trong mình những đặc trưng, giá trị riêng có, để khu biệt giữa cô đơn với
những trạng thái khác.
Trong mục từ cô đơn, thứ nhất Henri Banac đã chỉ ra hai đặc trưng cơ
bản của sự cô đơn, đó là “sự cô đơn về thể xác gây nên” [11.tr797] và “sự cô
cảm thần bí, tôn giáo”[11;tr799]. Cuối cùng là “sự nảy nở mạnh mẽ của cái
tôi: sự giải phóng khỏi những khuôn sáo truyền thống, khỏi địa ngục của
những người khác, sự ích kỉ, khám phá mình”[11;tr799]. Rõ ràng ta thấy, cô
đơn đem đến những giá trị quan trọng và cần thiết cho đời sống của con
người, mà bất cứ ai, đều muốn tìm cho mình một sự cô đơn nhất định để
hưởng thụ những giá trị nội tại mà cô đơn đem đến.
Song, đi kèm với sự êm dịu bí ẩn - bởi cô đơn tạo ra, giống như một
thứ thuốc có khả năng “gây tê” giúp cho con người nhanh chóng quên đi trạng
thái về sự đau khổ thì ở mặt bên kia là “những nguy cơ của sự cô đơn xuất
hiện khi con người ta phải chịu sự cô đơn và khi sự cô đơn không được người
ta tìm kiếm hay khi một tâm hồn còn chưa “đủ lớn, đủ mạnh” mà lại muốn
nếm trải sự cô đơn” [11;tr800]. Có nghĩa là, nếu cô đơn được coi là một đức
hạnh, mang đến cho con người con người những cảm giác như sự êm dịu, sự
giải thoát, sự thanh thản, sự nghỉ ngơi…thì ngược trở lại, để được cô đơn và
nếu muốn được nếm trải, tận hưởng bầu không khí cô đơn ấy thì đòi hỏi con
người phải có một bản lĩnh nhất định, phải “đủ lớn” và “đủ mạnh”, đạt đến
một trình độ nhất định mà ở đó hội tụ đầy đủ những yếu tố cần và đủ để tạo ra
sự cô đơn cho mình. Nói như thế có nghĩa chính cái cô đơn đã giúp nuôi
dưỡng năng lực về mặt đức hạnh, về mặt tinh thần, năng lực sống cá nhân và
sự trưởng thành về mọi phương diện của con người. Cô đơn rõ ràng mang giá 15
trị như một thứ tài sản của con người. Mặt khác, con người mặc dù không
muốn sự cô đơn nhưng người ta vẫn phải tìm kiếm sự cô đơn hoặc bị cô đơn,
trường hợp đó xảy ra với những kẻ yếu đuối, quen sống dựa dẫm vào cộng
đồng, tập thể mà họ bắt buộc bị cô đơn thì khi đó cô đơn có thể gây ra những
mặt tiêu cực mà ở mặt thứ nhất đó chính là “sự buồn chán”[11;tr800]; mặt
thứ hai là “trạng thái bị bỏ rơi, đơn chiếc khiến cho tâm hồn hoảng sợ vì
người ta không còn được tiếp xúc với hơi ấm của con người”[11;tr800]; mặt
đông đảo nhà văn các giới và nhiều thế hệ. Trải qua một chặng đường dài với
những bước thăng trầm, kể cả bước lùi, chủ đề cô đơn trong văn học Việt
Nam vẫn luôn trở thành một chủ đề quen thuộc mang giá trị nhân văn độc đáo.
Có thể thấy, từ chủ nghĩa lãng mạn trở đi của văn học Phương Tây, vấn
đề cô đơn của con người đã được đề cập một cách tương đối rõ nét. Cô đơn
được xem như một phẩm chất đáng quý của con người. Với văn học Phương
Tây cô đơn được coi là một đức hạnh. Con người cô đơn nghĩa là con người
thoát ra khỏi cuộc sống cộng đồng, thoát khỏi được tính cộng đồng, xã hội.
Đến văn học hiện đại, từ thế kỉ thứ XIX trở đi thì với văn học tư sản, cô đơn
không còn là một đức hạnh mà cô đơn trở thành một nỗi đau khổ. Nhưng đến
văn học thế kỉ XX, cô đơn lại được quan niệm như một phần thưởng. Con
người hạnh phúc thì mới được cô đơn. Bởi, trong xã hội hiện đaị mang tính
cộng đồng cao thì tất cả đời sống riêng tư của con người đều bị phô bày ra
trước công chúng. Đời sống cá thể của con người bị mất đi, quyền riêng tư
của con người bị tiêu trừ, và như thế con người không còn được sống trong
thế giới riêng của mình nữa mà theo cách nói của A.Camus đươc ông viết
trong diễn từ Nobel năm1958, ông quan niệm rằng nếu xưa kia cô đơn là chốn
lưu đầy thì bây giờ cô đơn là một đức hạnh và con người chỉ những ai may
mắn mới được cô đơn. Trở lại với quan niệm cô đơn trong văn học Việt Nam,
ta có thể khẳng định, không phải chỉ đến văn học hiện đại sau này mới xuất
hiện chủ đề cô đơn mà nó đã xuất hiện sớm ngay từ thời văn học trung đại. Sự
xuất hiện của chủ đề cô đơn chính là một biểu hiện của con người cá nhân. 17
Con người thời kỳ này, thực chất đang ở giai đoạn đầu tìm đến với trạng thái
cô đơn, họ chịu những ảnh hưởng sâu sắc về ý thức hệ, tư tưởng cộng đồng.
Bởi, mối quan tâm hàng đầu lúc này của văn học là chính trị, hình tượng con
người công dân, con người cộng đồng, con người gắn bó với những cuộc
chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc và công cuộc xây dựng đất nước. Văn
của Khái Hưng, hay Chương, Tuyết trong Đời mưa gió tiểu thuyết viết chung
của Nhất Linh và Khái Hưng là những nhân vật điển hình về nỗi cô đơn của
tiểu thuyết thời kỳ này. Họ là thế hệ con người mới, được tiếp xúc với văn
hóa mới từ phương Tây, họ có cái nhìn mới mẻ về con nguòi và cuộc sống.
Họ có lý tưởng, có ước mơ hoài bão nhưng xã hội không chấp nhận họ, quay
lưng lại với họ, đẩy họ rơi vào tình thế cô đơn nhưng thái độ ứng xử của họ
với cô đơn là họ sẵn sàng chấp nhận sự cô đơn đó. Họ căm thù cái xã hội kim
tiền và những giá trị vật chất tầm thường của con người thời bấy giờ.
Đến văn chương của Nguyễn Tuân thì cái cô đơn của con người lại đi
kèm với sự đức hạnh của những kẻ cao nhã, cái ngông của bản thân đối lập
với xã hội tư sản, ô trọc, những con người đó đã mạnh mẽ đấu tranh thoát
khỏi lễ giáo phong kiến, để khẳng định vai trò của mình, khẳng định quyền tự
do, cá nhân của mình. Mỗi nhân vật là một cá tính, một ý thức riêng, đã mạnh
dạn khẳng định cái tôi của mình, và vì thế, hệ thống nhân vật trong cả tiểu
thuyết của Nguyễn Tuân lẫn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn với kiểu nhân
vật cô đơn thực sự phong phú, đa dạng về hình thức, tính cách lẫn hoàn cảnh.
Nhưng đến với Thơ Mới, với văn học hiện thực phê phán giai đoạn này
thì cô đơn tiếp tục là một bị kịch đối với con người. Có thể thấy rất rõ nỗi cô
đơn trở thành bi kịch trong một loạt các sáng tác của Xuân Diệu, Huy Cận,
Thế Lữ, đặc biệt khi Hoài Thanh viết về cái tôi trong Thơ Mới. Ông chỉ ra
rằng “cái tôi” và sự cô đơn của con người chính là điểm khác biệt lớn nhất
giữa thơ cũ và thơ mới. Ông viết: “xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân.
Chỉ có đoàn thể, lớn thì là quốc gia, nhỏ thì là gia đình. Còn cá nhân, cái bản 19
sắc của cá nhân chìm đắm trong gia đình, trong quốc gia như giọt nước trong
biển cả”[12;tr53].
Cô đơn không chỉ có trong Thơ mới mà trong văn học hiện thực phê
phán Việt Nam giai đoạn này cũng tồn tại cái cô đơn như một bi kịch đau