Chuyên đề đánh giá tác động bồi lắng, sạt lở - Pdf 22

Đánh giá tác động do bồi lắng, sạt lở, biến động lớn đường bờ và bãi bồi
MỤC LỤC
Trang
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I 4
THỰC TRẠNG BỒI LẮNG, SẠT LỞ GÂY BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ VÀ BÃI
BỒI 4
I.1. THỰC TRẠNG BỒI LẮNG, SẠT LỞ GÂY BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ VÀ BÃI
BỒI 4
I.1.1. Hiện trạng bãi bồi 4
I.1.2. Thực trạng biến động đường bờ biển 5
I.2. NGUYÊN NHÂN GÂY BỒI LẮNG, SẠT LỞ 7
I.2.1. Nguyên nhân ngoại sinh 7
I.2.2. Tác động của con người 9
CHƯƠNG II 11
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG DO BỒI LẮNG SẠT LỞ GÂY BIẾN ĐỘNG LỚN
ĐƯỜNG BỜ VÀ BÃI BỒI TỈNH SÓC TRĂNG 11
II.1. ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG ẢNH HƯỞNG DO BỒI LẮNG, SẠT LỞ
GÂY RA TẠI TỈNH SÓC TRĂNG TRONG THỜI GIAN QUA 11
II.1.1. Ảnh hưởng xói lở bờ tới môi trường sinh thái 11
II.1.2. Ảnh hưởng bồi lắng tới môi trường sinh thái 12
II.2. NHẬN ĐỊNH XU THẾ DIỄN BIẾN SẠT LỞ BỒI LẮNG LÒNG DẪN, DẢI
VEN BIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI 12
II.2.1. Gia tăng quá trình xói lở do ảnh hưởng của việc xây dựng các công trình trữ
nước phía thượng nguồn sông MêKông 12
II.2.2. Ảnh hưởng do quá trình biến đổi khí hậu (BĐKH) trên toàn cầu 13
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)
Đánh giá tác động do bồi lắng, sạt lở, biến động lớn đường bờ và bãi bồi

THỰC TRẠNG BỒI LẮNG, SẠT LỞ GÂY BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG
BỜ VÀ BÃI BỒI
I.1. THỰC TRẠNG BỒI LẮNG, SẠT LỞ GÂY BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ VÀ BÃI
BỒI
I.1.1. Hiện trạng bãi bồi
I.1.1.1. Sự hình thành bãi bồi
Với lưu lượng nước lớn, hàng năm hệ thống sông Cửu Long chuyển tải ra biển
một lượng bùn cát rất đáng kể qua 7 cửa, riêng đổ ra biển Sóc Trăng qua 2 cửa Trần Đề
và cửa Định An chiếm tới 30%. Những nghiên cứu chỉ ra rằng, hàng năm lắng đọng mùn
bã hữu cơ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long mang xuống là 40.000 tấn/ha. Song nếu như
các chất kịp phân hủy và giữ lại ở phía trên 50% thì phần còn lại sẽ được chuyển xuống
hạ lưu và vùng cửu sông (Largle – 1976). Bên cạnh đó chất dinh dưỡng trong vùng còn
được cung cấp tại chỗ do các bãi cỏ ngầm và vùng ngập mặn.
Theo các báo cáo quốc gia ô nhiễm biển từ đất liền, hàng năm sông Cửu Long tải
ra biển khoảng 160 triệu tấn bùn cát. Thực tế có thể còn lớn hơn, vì ngoài lượng bùn cát
di chuyển dưới dạng lơ lửng còn có thêm một lượng bùn cát đáng kể di chuyển dưới dạng
lăn trượt theo đáy. Theo số liệu đo đạc tại trạm quan trắc Pakse (Lào) trong vòng 30 năm
(1960 – 1989), hàng năm lượng bùn cát vận chuyển qua đây khoảng 170 – 180 triệu tấn
vật liệu trầm tích. Đây chính là nguồn vật liệu bồi tụ tạo thành bãi bồi ven biển tỉnh Sóc
Trăng. Nhìn chung, địa hình bãi bồi khá thoải và nằm bằng phẳng. Khu vực cửa sông có
địa hình khá phức tạp, thay đổi theo mùa do tương tác động lực sông biển, có nhiều cồn
và doi cát ngầm đan xen với luồng lạch.
I.1.1.2. Diện tích bãi bồi
Diện tích đất bãi bồi được xác định từ ranh giới đê biển đến ranh giới chân triều
(chân triều kiệt trung bình nhiều năm), xác định bởi cốt 0 hải đồ và nằm ngoài diện tích
tự nhiên của tỉnh.
Theo khái niệm trên, áp dụng phương pháp điều tra thực địa và các phương pháp
khác, diện tích đất bãi bồi của khu vực được xác định cụ thể như sau:
- Diện tích đang quản lý không nằm trong diện tích tự nhiên của tỉnh: 3.750 ha.
- Diện tích bãi bồi (tính từ đê biển đến – 3,0 m): 63.031 ha.

mở rộng (cửa sông). Theo tài liệu về nạo vét năm 1981, thì tốc độ bồi lắng vào khoảng
350.000 m
3
/tháng tại tuyến luồng 81 - 83, năm 1983 tỷ lệ bồi lắng là 250.000 m
3
/tháng .
Tháng 5 năm 1997, đã tiến hành một đợt nạo vét mới dọc theo luồng số 94 - 96. Sự bồi
lắng diễn ra rất nhanh với tốc độ 0,40 m
3
/m
2
/tháng, đến tháng 8 năm 1997 luồng đã bị lấp
đầy hoàn toàn. Tháng 5/1998 đã tiến hành đào luồng số 98. Quan trắc cho thấy chỉ sau 2
tháng, tỷ lệ bồi lắng là 0,20 m
3
/m
2
/tháng .
I.1.2. Thực trạng biến động đường bờ biển
Đường bờ biển tỉnh Sóc Trăng dài khoảng 72 km tiếp giáp với đường bờ biển của
tỉnh Trà Vinh ở phía Bắc và đường bờ biển của tỉnh Bạc Liêu ở phía Nam. Có 3 cửa sông
lớn là cửa Định An, của Trần Đề của sông Hậu và cửa Mỹ Thanh của sông Mỹ Thanh đổ
ra biển. Đường bờ biển thuộc các huyện sau:
- Huyện Cù Lao Dung với 2 xã giáp biển là An Thạnh Nam và An Thạnh 3, cùng
với 3 xã khác gần biển là Đại Ân 1, Ân Thạnh 2, An Thạnh Đông.
- Huyện Long Phú với 2 xã giáp biển là Lịch Hội Thượng, Trung Bình cùng với xã
gần biển là Đại Ân 2.
- Huyện Vĩnh Châu với 6 xã là xã Lai Hòa, Vĩnh Tân, Vĩnh Phước, Vĩnh Châu,
Lạc Hòa, Vĩnh Hải và thị trấn Vĩnh Châu.
Theo kết quả phân tích ảnh viễn thám, bản đồ của các giai đoạn 1965, 1990, 2000,

đến mũi cửa Định An thuộc xã An Thạnh 3, chiều dài khoảng gần 18 km, với tốc độ bồi
tụ lớn nhất khoảng 70 – 80 km/năm ở phía mũi cửa Trần Đề. Quá trình này diễn ra mạnh
nhất trong giai đoạn 1965 – 1990 – 2000. Còn trong giai đoạn 2000 – 2008 vẫn diễn ra
quá trình bồi tụ, nhưng không mạnh bằng giai đoạn trước và quy mô cũng không lớn
bằng, chủ yếu chỉ có ở phía 2 đầu cù lao, mỗi phía dài khoảng 4 km. So với tuyến đê
biển, vùng đất bồi đã cách xa có chỗ đến hơn 1 km.
Đoạn bờ phía Bắc sông Cồn Tròn tại ấp Nguyên Tăng thuộc xã Đại Ân 1, cũng ghi
nhận được quá trình bồi tụ với chiều dài khoảng 4,5 km. Quá trình này chỉ diễn ra trong
giai đoạn 1965 – 1990 - 2000. Riêng ngã ba chỗ giao nhau của 2 cửa sông Cồn Tròn và
Vàm Hồ lớn có bãi nổi được hình thành trong giai đoạn 1990 – 2000 - 2008.
b. Đường bờ biển và bờ sông được bồi tụ thuộc huyện Long phú có 2 đoạn
- Đoạn bờ được bồi tụ từ ấp Nhà Thờ thuộc xã Trung Bình xuống đến mũi cửa Mỹ
Thanh thuộc xã Lịch Hội Thượng, dài khoảng 8 km. Trong đó, được bồi tụ trong giai
đoạn 1965 – 1990 chỉ khoảng 0,8 km ở 2 phía cửa kênh Ông Khánh thuộc ấp Nhà Thờ.
Đoạn bờ được bồi dài nhất trong giai đoạn 1990 – 2000 - 2008, với tốc độ bồi lớn nhất
khoảng 60 - 70 m/năm.
- Đoạn bờ sông Hậu thuộc ấp Đầu Giồng, xã Trung Bình dài khoảng 1,5 km được
bồi trong giai đoạn 1990 – 2000 với tốc độ bồi lớn nhất chỉ khoảng 10 – 15 m/năm. Đoạn
mới bồi trong giai đoạn 2000 – 2008 dài khoảng 0,5 km.
c. Đường bờ biển được bồi tụ thuộc huyện Vĩnh Châu có 2 đoạn
- Đoạn dài nhất từ trên cửa kênh Hồ Bể gần ấp Huỳnh Kỳ xã Vĩnh Hải xuôi xuống
phía dưới, đến ấp Cà Lăng A Biển thuộc xã Vĩnh Châu, dài khoảng gần 20 km. Trong đó
bồi giai đoạn 1965 – 1990 có đoạn từ ấp Huỳnh Kỳ đến ấp Âu Thọ B xã Vĩnh Hải, dài
khoảng 9 km, với tốc độ bồi tụ lớn nhất gần 60 m/năm. Còn lại là bồi trong giai đoạn
TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)
6
Đánh giá tác động do bồi lắng, sạt lở, biến động lớn đường bờ và bãi bồi
1990 – 2000, trong đó đoạn 2 bên cửa kênh Hồ Bề kéo dài từ ấp Huỳnh Kỳ ra cửa kênh
dài khoảng 2,5 km, với tốc độ bồi tụ lớn nhất ra phía biển khoảng 70 m/năm. Đoạn bồi
tiếp theo trong giai đoạn này thuộc ấp Trà Sết xã Vĩnh Hải đến ấp Cà Lăng A Biển thuộc

thấp, bằng phẳng bị chia cắt bởi các cửa sông, kênh rạch và có nhiều thực vật ngập mặn.
Bề mặt địa hình vùng bờ thường chỉ cao hơn mực nước biển trung bình 1,2 – 1,6m. Hầu
như toàn bộ vùng bờ được cấu tạo bởi lớp phù sa cổ với thành phần chủ yếu là bùn sét
màu nâu, bùn sét màu nâu chứa cát có lẫn vụn vỏ xác thực vật (dạng lớp kép). Nhiều nơi
vùng bờ được cấu tạo bởi lớp phù sa mới.
Các thành tạo trầm tích phù sa cổ khi được lớp thảm thực vật phủ dày, trong điều
kiện môi trường ẩm ướt cao thì độ dẻo và độ kết dính tốt, còn những nơi thảm thực vật
thưa thớt hoặc không cò thảm thực vật che phủ, khi bị phơi nắng thiếu nước thường
xuyên, chúng mất nước dần, co rút lại, hậu quả là bị nứt nẻ, trở nên khô xốp và khi thấm
nước trở lại chúng bị bở rời, tơi vụn ra. Khi đó chỉ cần động lực rất nhỏ (sóng gió), chúng
TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)
7
Đánh giá tác động do bồi lắng, sạt lở, biến động lớn đường bờ và bãi bồi
đã bị nước làm dịch chuyển và mang đi. Đây là một điều kiện thuận lợi để quá trình xói
lở bờ trong vùng diễn ra mạnh mẽ.
Cùng với cấu tạo vùng bờ, hướng đường bờ cũng là yếu tố quan trọng để quá trình
bồi tụ hoặc xói lở bờ diễn ra. Kết quả khảo sát, phân tích cho thấy, tại các khu vực có
đường bờ mở thuần túy (phía Nam cửa Trần Đề) quá trình xói lở xảy ra với cường độ
mạnh, những nơi có đường bờ được che kín phần nào đó thì hoặc diễn ra quá trình bồi tụ
- xói lở xen kẽ hoặc chỉ diễn ra quá trình bồi tụ.
b. Sóng
Sóng có thể do gió hay do tàu thuyền đi lại trên sông gây ra. Sóng do gió gây ra
sạt lở bờ thường xảy ra ở các vùng cửa sông, nới có đà gió dài. Chế độ sóng tại khu vực
nghiên cứu hình thành 2 mùa rõ rệt:
- Mùa đông sóng có hướng định hành là Đông Bắc chiếm khoảng 75 – 85%, độ
cao sóng trung bình khoảng 2 – 3,5m. Sóng lớn có tần suất xuất hiện nhiều nhất vào
tháng 11, với độ cao sóng cực đại có thể lên đến 5 – 6m.
- Mùa hè sóng chủ yếu có hướng Tây Nam hoặc Tây. Độ cao sóng trung bình
khoảng 2 – 3m. Sóng hướng Tây Nam có tần suất xuất hiện cực đại vào tháng 8 – 9, với
độ cao cực đại 4 – 5m. Thời gian lặng sóng hoặc sóng yếu trong năm chỉ xấp xỉ 2%.

sông trên đó đưa lại, khi đó bồi lắng lòng dẫn xảy ra.
b. Sự liên kết giữa hạt bùn cát với các Ion trong nước biển nguyên nhân gây bồi lắng
lòng dẫn đoạn sông bị nhiễm mặn
Quá trình trung hòa, dính kết các hạt bùn cát từ thượng nguồn đưa về với các Ion
dương, âm trong nước biển (Na
+

CL
-
) sẽ tạo thành các hạt có kích thước lớn hơn, có tốc
độ lắng chìm cao hơn và vì thế khả năng lắng đọng có cơ hội diễn ra. Bùn, cát giống như
một loại keo, quanh hạt keo trong tầng hấp phụ được bao bởi hai lớp điện tử âm và
dương, khi hạt bùn cát đi vào môi trường nước mặn, trong nước mặn có các thành phần
Na
+
Cl
-
, hạt bùn cát sẽ trở thành hạt nhân hút các Ion trong nước mặn, kết quả bùn cát
được dính cục, gia tăng đường kính và vì thế mà lắng đọng xuống đáy.
c. Bồi lắng ở đoạn sông cong
Trên các đoạn sông cong vận tốc dòng chảy phía bờ lõm rất lớn gây ra xói lở bờ
nhưng ngược lại phía bờ lồi vận tốc dòng chảy rất nhỏ , vì thế bờ lồi thượng bị lắng đọng.
Bên cạnh đó tại các đoạn sông cong thường xảy ra hiện tượng dòng chảy vòng, dòng
chảy này có tác dụng đào xói đất bờ phía bờ lõm rồi vận chuyển ra phía bờ lồi.
d. Bồi lắng vùng cửa sông ra biển
Ở bất kỳ cửa sông ra biển nào, sự giao thoa giữa các yếu tố sông biển thường để
lại sản phẩm của các cuộc tranh chấp đó là các bãi cát, ngưỡng cát dưới dạng các bar
chắn cửa. Các bar chắn cửa ảnh hưởng lớn đến thoát lũ và giao thông thủy.
Ở khu vực Sóc Trăng hầu hết các cửa sông đều xảy ra hiện tượng bồi lắng nhất là
cửa Trần Đề, cửa Định An, cửa Mỹ Thanh. Hoạt động bồi tụ thường diễn ra trong đợt có

ạt, bừa bãi làm thay đổi dòng chảy và gây ra sạt lở đường bờ, ảnh hưởng đến đời sống
của người dân nơi đây.
TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)
10
Đánh giá tác động do bồi lắng, sạt lở, biến động lớn đường bờ và bãi bồi
CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG DO BỒI LẮNG SẠT LỞ GÂY BIẾN
ĐỘNG LỚN ĐƯỜNG BỜ VÀ BÃI BỒI TỈNH SÓC TRĂNG
II.1. ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG ẢNH HƯỞNG DO BỒI LẮNG, SẠT LỞ
GÂY RA TẠI TỈNH SÓC TRĂNG TRONG THỜI GIAN QUA
II.1.1. Ảnh hưởng xói lở bờ tới môi trường sinh thái
II.1.1.1. Xói lở bờ ảnh hưởng đến da dạng sinh học
Như các nhà khoa học đã kết luận hệ sinh thái ven biển Sóc Trăng khá đa dạng, có
tiềm năng thiên nhiên phong phú với 3 hệ sinh thái khác nhau, đặc biệt là vùng hạ lưu
sông Hậu. Với diện tích rừng hơn 10.000 ha; trong đó bao gồm nhiều quần thể động, thực
vật và thủy hải sản phong phú như: Quần thể khỉ đuôi dài (Macaca fasclularis) hơn 300
cá thể; Rái cá Lông Mượt (Lutra perspicillata) 500 cá thể; Dơi ngựa lớn (Pteropus
-vampyrus) khoảng 15.000 cá thể và các loài chim nước, hệ động vật lưỡng cư, bò
sát.v.v Riêng thảm thực vật rừng được khảo sát trong năm 1996 cho thấy cũng đa dạng
và phong phú không kém với khoảng 20 loài thực vật thuộc 16 họ được ghi nhận. Các
loài phổ biến nhất là Bần Chua (Sonneratia caseolaris), Dừa nước (Nipa frutican), Mắm
trắng (Avicennia alba), Mắm đen (Avicennia offieinalis), Mắm biển (Avicennia maina),
Đước (Rhizophora apiculata)
Tuy nhiên, diện tích rừng ngập mặn tỉnh Sóc Trăng ngày một suy giảm dẫn đến sự
suy giảm về đa dạng sinh học. Tại khu vực đuôi cồn Cù Lao Dung, quần thể dơi ngựa lớn
theo thống kê mới nhất giờ còn không tới 1.000 con do môi trường sinh sống của chúng
đã bị thay đổi nhiều cùng với sự săn bắt của con người. Loài rái cá lông mượt trước đây
sống rất nhiều tại vùng này giờ cũng gần như biến mất. Các cây như dừa nước, cây mắm,
cây đước hiện đang được khôi phục dần.
Công tác phục hồi rừng ở Sóc Trăng đã diễn ra từ năm 1991, vốn khôi phục rừng

sẽ làm:
- Gia tăng diện tích đất sản xuất;
- Cản trở giao thông thủy;
- Giảm năng lực, hiệu quả của các công trình thủy lợi;
- Gây ô nhiễm môi trường, góp phần gây nên dịch bệnh, gây nên thảm họa rất lớn
nếu như bồi lắng xảy ra tại các cửa sông, làm giảm khả năng tiêu thoát nước cho khu vực.
II.1.2.1. Bồi lắng lòng dẫn gia tăng diện tích đất đai ruộng vườn
Bồi lắng xảy ra ở Sóc Trăng chủ yếu tại các khu vực như thuộc huyện Cù Lao
Dung đoạn bờ biển từ cửa Vàm Hồ Lớn chạy xuôi dọc sông Hậu đến cửa Trần Đề, đoạn
bờ biển thuộc huyện Long Phú, đoạn sông Hậu thuộc ấp Đầu Giồng và đoạn bờ biện
thuộc huyện Vĩnh Châu với tốc độ bồi tụ khá lớn từ 10 – 70m/năm. Hiện tượng bồi tụ tại
khu vực đã làm tăng thêm diện tích đất đáng kể phục vụ phát triển trồng trọt và nuôi
trồng thủy sản trong nông nghiệp.
II.1.2.2. Bồi lắng lòng dẫn làm giảm khả năng cấp và tiêu thoát nước, gây ô nhiễm
môi trường
Bồi lắng lòng dẫn, cửa sông, kênh sẽ làm giảm mặt cắt lòng dẫn, giảm khả năng
cấp và tiêu thoát nước, nhất là các cửa sông Mỹ Thanh bồi lắng sẽ khiến cho lòng dẫn bị
hẹp cản trở đến dòng chảy, dẫn đến gia tăng mức độ ô nhiễm nước trong sông rạch nội
đồng và ven biển. Phần lớn diện tích nuôi trồng thủy sản (chủ yếu là nuôi tôm) ở Sóc
Trăng tập trung ở các huyện Long Phú, Vĩnh Châu và Cù Lao Dung khi môi trường bị ô
nhiễm sẽ ảnh hưởng nặng nề đến năng suất sản xuất, do con tôm rất nhạy cảm với môi
trường.
II.2. NHẬN ĐỊNH XU THẾ DIỄN BIẾN SẠT LỞ BỒI LẮNG LÒNG DẪN, DẢI
VEN BIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI
II.2.1. Gia tăng quá trình xói lở do ảnh hưởng của việc xây dựng các công trình trữ
nước phía thượng nguồn sông MêKông
Trong thời gian vừa qua, phía thượng nguồn sông MêKông là các nước
Campuchia, Lào và Trung Quốc, đặc biệt là Trung Quốc vừa hoàn thành xong việc xây
dựng đập lưu trữ nước tưới trong địa phận của mình đã làm suy giảm khối lượng nước
sông Mê Kông phía hạ lưu trong đó có Việt Nam.

chuyển về phía nam và mùa bão dịch chuyển vào các tháng cuối năm. Lượng mưa giảm
trong mùa khô (VII - VIII) và tăng trong mùa mưa (IV - XI); mưa lớn thường xuyên hơn
gây lũ đặc biệt lớn và xảy ra thường xuyên hơn ở miền Trung và Nam. Hạn hán xảy ra
hàng năm ở hầu hết các khu vực của cả nước. Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng
0,10
0
C/thập kỷ; trong một số tháng mùa hè, nhiệt độ tăng khoảng 0,1 - 0,30
0
C/ thập kỷ.
Nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nền nông nghiệp và nguồn nước.
Mực nước biển có khả năng dâng cao 1m vào cuối thế kỷ, lúc đó Việt Nam sẽ mất hơn
12% diện tích đất đai, nơi cư trú của 23% số dân.
Theo dự báo phân bố dòng chảy, vào các tháng mùa mưa của sông Mekong, sẽ
tăng 41% ở đầu nguồn và 19% ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL); vào các
tháng mùa khô, dòng chảy giảm 24% ở thượng nguồn và 29% ở vùng ĐBSCL, mực nước
lũ có thể đạt cao trình +13,24 xấp xỉ cao trình đỉnh đê hiện nay +13,40. Điều đó nghĩa là,
khả năng lũ trong mùa mưa và cạn kiệt trong mùa khô đều trở nên khắc nghiệt hơn; sẽ có
khoảng 8,4 triệu người Việt Nam thiếu nước ngọt vào năm 2050 (theo dự báo của ADB).
Trong các vùng lãnh thổ của Việt Nam, đồng bằng sông Cửu Long có địa hình
thấp, nhiều nơi cao trình chỉ đạt từ 20 – 30 cm, đường bờ biển dài nên được đánh giá là
khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và nghiêm trọng nhất. Theo kịch bản nước biển dâng 1
m thì Sóc Trăng sẽ là 1 trong 10 tỉnh đứng đầu về thiệt hại với diện tích bị ngập khoảng
1.425 km
2
, chiếm đến 43,7% diện tích cả tỉnh. Việc này sẽ tác động đến hơn 450.000
người, tương đương 35% tổng dân số của tỉnh.
Mực nước biển dâng lên cùng với cường độ của bão tố sẽ làm thay đổi thành phần
của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước, làm suy thoái và đe dọa sự sống còn
TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)
13

bãi bồi ven biển tỉnh Sóc Trăng - Tổng cục biển và hải đảo – năm 2009.
2. Báo cáo tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất bãi bồi ven biển tỉnh Sóc Trăng giai
đoạn 2010 - 2020 và định hướng đến 2030 - Tổng cục biển và hải đảo – năm
2009.
3. Báo cáo thuyết minh tổng hợp “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch
sử dụng đất 5 năm ký đầu (2011-2015) – UBND tỉnh Sóc Trăng – năm 2010.
4. Báo cáo Quy hoạch bố trí dân cư nông thôn tỉnh Sóc Trăng, giai đoạn 2006 -
2010 và định hướng đến năm 2015 - Sở NN&PTNT - Năm 2007.
5. Báo cáo tình hình thực hiện công tác quản lý và bảo vệ môi trường năm 2009 -
Sở TNMT - Năm 2009.
6. Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2009 và kế hoạch nhiệm vụ
công tác năm 2010 ngành Tài nguyên và Môi trường Sóc Trăng - Sở TNMT -
Năm 2009.
7. Dự án rà soát bổ sung điều chỉnh quy hoạch cấp nước sạch và VSMT nông thôn
tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2008 - 2010 và định hướng đến năm 2020 - Sở
NN&PTNT - Năm 2009.
8. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 tỉnh Sóc Trăng - UBND
tỉnh - Năm 2009
TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status