MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Lời Mở Đầu 3
Chương 1: Cơ Sở Lý Luận Về Xuất _ Nhập Khẩu 5
1.Khái niệm xuất nhập khẩu hàng hóa 5
a.Khái niệm xuất khẩu hàng hóa 5
b.Khái niệm nhập khẩu hàng hóa 5
2.Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân 5
a.Vai trò của nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân 5
b. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân 7
3.Các yếu tố tác động đến xuất nhập khẩu hàng hóa 9
Chương 2: Thực Trạng Hoạt Động Xuất Khẩu Hàng Hóa Tai Việt Nam 13
1.Đánh giá chung về tình trạng xuất nhập khẩu ở Vệt nam 13
2. Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu ở Việt Nam 15
a. Cơ cấu hàng nhập khẩu ở Việt Nam 15
b.Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu 16
3.Thực trạng tình hình xuất nhập khẩu ở Việt Nam 16
a. Giá trị và tốc độ tang trưởng của xuất nhập khẩu 16
b.Các nhóm hàng xuất nhập khẩu chính 17
4. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng giảm xuất khẩu và tăn nhập siêu ở Việt Nam 26
Chương 3: Giải pháp để lấy lại thăng bằng cán cân thương mại 28
PHOTO QUANG TUẤN
ĐT: 0972.246.583 & 0166.922.4176
Gmail: ; Fabook: vttuan85
I. Đối với Nhà Nước 29
1. Bộ Công Thương 29
a. Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu 29
b. Các biện pháp hạn chế nhập khẩu 30
2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 31
3. Bộ Tài chính 33
4. Bộ Khoa học và Công nghệ 35
Phương pháp nghiên cứu: tập hợp và phân tích các tài liệu trong và ngoài
nước lien quan đến hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta.
Chương 1: Cơ Sở Lý Luận Về Xuất _ Nhập Khẩu
1. Khái niệm xuất nhập khẩu hàng hóa.
a. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa.
Xuất khẩu là việc cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở
dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt
động mua bán và trao đổi hàng hoá (Bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá
vô hình) trong nước. Khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hoá giữa các quốc
gia có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia
hoặc thị trường nội địa và khu chế xuất ở trong nước.
b. Khái niệm nhập khẩu hàng hóa.
Nhập khẩu của doanh nghiệp là hoạt động mua hàng hóa và dịch vụ từ nước
ngoài phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái xuất nhằm phục vụ mục đích thu
lợi nhuận. Hay nhập khẩu là việc mua hàng hóa từ các tổ chức kinh tế, các công ty
nước ngoài và tiến hành tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu tại thị trường nội địa hoặc
táI xuất khẩu với mục đích thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với tiêu dùng
2. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu đối với nền kinh tế
quốc dân.
a.Vai trò của nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân.
Bất kì quốc gia nào cũng không thể tự sản xuất để đáp ứng một cách đầy đủ
mọi nhu cầu trong nước, đặc biệt trong xu thế ngày nay, đời sống nhân dân ngày
càng nâng cao, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, thoát khỏi nền kinh tế
tự cung tự cấp, lạc hậu. Mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân dựa rất nhiều về
lợi thế so sánh, ở đó mỗi quốc gia sẽ đẩy mạnh sản xuất có lợi thế để phục vụ cho
nhu cầu trong nước và xuất khẩu đi các quốc gia khác. Trong thực tế không có
quốc gia nào là có lợi thế về tất cả các mặt hàng, các lĩnh vực, sự bổ sung hàng
hoá giữa các quốc gia đã đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. Những quốc gia
phát triển thường xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu rất nhiều và ngược lại những
nước kém phát triển thì kim nghạch nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu.
bộ như nước ta thì việc đẩy mạnh xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm cải thiện
đời sống, tăng thu ngoại tệ, thúc đẩy phát triển kinh tế là một chiến lược lâu dài.
Để thực hiện được chiến lược lâu dài đó chúng ta phải nhận thức rõ được ý nghĩa
của việc xuất khẩu hàng hoá:
+ Thông qua việc xuất khẩu những mặt hàng có thế mạnh chúng ta có thể
phát huy được lợi thế so sánh, sử dụng hợp lý các nguồn lực, trao đổi các thành
tưu khoa học công nghệ tiên tiến.
+ Thông qua hoạt động xuất khẩu, tính cạnh tranh được nâng cao nên chất
lượng hàng hoá không ngừng được tăng lên, tạo điều kiện nâng cao năng lực sản
xuất thể hiện nội lực kinh tế của đất nước.
- Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn, nguồn ngoại tệ lớn góp phần quan trọng vào
việc cải thiện cán cân thanh toán.
-Xuất khẩu có tác dụng tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống cho người lao động.
Việt Nam là một nước có dân số đông, cơ cấu dân số thuộc loại dân số trẻ.
Số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số hơn 80 triệu người.
Hàng năm, số người trong độ tuổi lao động được bổ sung khoảng 1,5-2 triệu
người. Việc giải quyết việc làm cho số người này hoàn toàn không đơn giản. Hơn
nữa, số dân làm việc trong ngành nông nghiệp của nước ta rất lớn nên còn phải
tính đến số người thất nghiệp theo mùa vụ. Thực tế cho thấy vấn đề thất nghiệp là
một vấn đề nan giải mà Việt Nam cũng như nhiều nước khác cần phải giải quyết.
+ Xuất khẩu tạo nguồn vốn để nhập khẩu các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu
phục vụ đời sống hàng ngày, nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất lẫn
tinh thần.
+ Thông qua xuất khẩu, quy mô của các ngành sản xuất hàng xuất khẩu sẽ
được mở rộng, có thêm nhiều ngành nghề mới từ đó thu hút nhiều lao động vào
làm việc.
+ Xuất khẩu phát triển là tiền đề cho các quan hệ kinh tế đối ngoại khác như
du lịch, xuất khẩu sức lao động, tạo điều kiện đưa lực lượng lao động tham gia
vào quá trình phân công lao động quốc tế. Đây là nhân tố rất quan trọng giải quyết
Cơ sở hạ tầng tốt là một yếu tố không thể thiếu nhằm góp phần thúcđẩy hoạt
động xuất nhập khẩu. Cơ sở hạ tầng bao gồm: đường xá, bến bãi, hệ thống vận tải,
hệ thống thông tin, hệ thống ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất
nhập khẩu. Nếu các hoạt động này là hiện đại sẽ thúc đẩy hiệu quả xuất nhập
khẩu, ngược lại nó sẽ kìm hãm tiến trình xuất nhập khẩu.
Các chính sách và quy định của Nhà nước.
Thông qua việc đề ra các chính sách và quy định, Nhà nước thiết lập môi
trường pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp nên nó có
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu. Chúng ta có thể xem xét tác
động của các chính sách đó dưới các khía cạnh sau.
Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh tỷ lệ giữa giá trị của hai đồng tiền của hai
nước với nhau.
Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện
chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất nhập khẩu. Một tỷ giá hối đoái chính thức
được điều chỉnh theo quá trình lạm phát có liên quan gọi là tỷ giá hối đoái được
điều chỉnh theo quá trình lạm phát có liên quan hay là tỷ giá hối đoái được điều
chỉnh theo quá trình lạm phát có liên quan hay là tỷ giá hối đoái thực tế. Trong
quan hệ buôn bán ngoại thương, tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng, tác động lớn
tới hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái tăng hay giảm sẽ làm thay
đổi giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu, ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Có thể đưa ra ví dụ trong xuất khẩu như: Nếu
tỷ giá hối đoái chính thức là không đổi và tỷ giá hối đoái thực tế tăng lên thì các
nhà xuất khẩu các sản phẩm sơ chế, là người bán theo mức giá cả quốc tế nằm
ngoài tầm kiểm soát của họ sẽ bị thiệt. Họ phải chịu chi phí cao hơn do lạm phát
trong nước. Hàng xuất khẩu trở nên kém sinh lợi do ngoại tệ thu được phải bán
với tỷ giá hối đoái chính thức cố định không được tăng lên để bù lại chi phí sản
xuất cao hơn.
Thuế quan và quota.
Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng
Chương 2: Thực Trạng Hoạt Động Xuất Khẩu Hàng Hóa
Tai Việt Nam
1. Đánh giá chung về tình trạng xuất nhập khẩu ở Vệt nam.
Tại thị trường trong nước, khu vực doanh nghiệp đã suy yếu nhiều trong
thời gian qua do tình trạng lãi suất cao, nguồn vốn đầu tư nước ngoài suy giảm tạo
nên những sức ép mới lên tỷ giá và cán cân thanh toán. Tuy nhiên, những tác động
đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam là không quá lớn bởi hàng xuất khẩu của
Việt Nam chủ yếu là hàng thiết yếu. Do đó, cầu đối với loại hàng này không biến
động suy giảm mạnh do suy thoái kinh tế ở các nước lớn. Cùng với diễn biến phức
tạp khó lường trên thị trường tài chính thế giới, xu hướng chuyển biến tích cực
của kinh tế trong nước cũng sẽ là những yếu tố tác động mạnh nhất đến hoạt động
xuất, nhập khẩu trong những tháng cuối năm 2012. Trong đó, một số yếu tố rõ nét
nhất cụ thể như sau:
- Thị trường tiêu thụ, đầu ra cho hoạt động xuất khẩu vẫn gặp nhiều khó
khăn và trong ngắn hạn chưa thể phục hồi. Sức tiêu thụ ở nhiều thị trường lớn như
Hoa Kỳ, EU… giảm đáng kể đã và đang khiến nhiều doanh nghiệp thiếu đơn
hàng, nhất là dài hạn.
- Mặc dù hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vẫn đang có tính cạnh tranh cao
nhưng lợi thế này đang dần mất đi khi các quốc gia khác cũng đang cố gắng cạnh
tranh bằng việc cung cấp lao động giá rẻ hơn hoặc thông qua các biện pháp nâng
cao năng suất tích cực hơn
- Đối với nhập khẩu, khó khăn lớn nhất là sức tiêu thụ hàng hóa vẫn chưa có
dấu hiệu cải thiện rõ nét, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 7 tiếp tục giảm
0,29% - ghi nhận tháng giảm thứ 2 liên tiếp và là tháng giảm mạnh nhất từ đầu
năm 2009 đến nay. Trong khi đó, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7 đã giảm tốc,
chỉ tăng 6,1% trong tháng 6 – mức thấp nhất kể từ tháng 3 đến nay.
Tuy nhiên, hoạt động ngoại thương trong những tháng tới cũng được hỗ trợ
bởi một số yếu tố tích cực như sau:
- Trong bối cảnh suy giảm của kinh tế toàn cầu, lãnh đạo nhiều quốc gia lớn,
đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, liên tục đưa ra những biện pháp nới lỏng nhằm mục
linh kiện phụ tùng ô tô xe máy, điện thoại di động, các mặt hàng tiêu dùng
khác…): nhóm hàng này chiếm tỉ trong không cao trong cơ cấu hàng nhập khẩu
nhưng cao hơn nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu (năm 2011 chiếm 8,9%) và
đây là nhóm hàng góp phần nâng cao kim ngạch nhập siêu của Việt nam. Nhóm
hàng này đang có xu hướng tăng mạnh do nhu cầu nhập khẩu hàng tiêu dùng tang
cao.
b.Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu.
- Các mặt hàng lợi thế có sẵn( bao gồm gạo, café, cao su……… ):
nhóm hàng này chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam.
- Các mặt hàng tiềm năng( bao gồm: máy tính, thiết bị……… ) nhóm
hàng này mang lại lợi nhuận cao nhưng chưa được đầu tư mạnh nên chiếm tỉ trọng
thấp trong cơ cấu hàng xuất khẩu.
3. Thực trạng tình hình xuất nhập khẩu ở Việt Nam.
a. Giá trị và tốc độ tang trưởng của xuất nhập khẩu
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá hàng hoá xuất nhập
khẩu của Việt Nam trong tháng 9/2012 đạt 18,79 tỷ USD, giảm 8,6% so với tháng
trước; trong đó, xuất khẩu đạt 9,48 tỷ USD, giảm 8% và nhập khẩu là gần 9,31 tỷ
USD, giảm 9,2%.
Tính đến hết quý III/2012, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá
của cả nước đạt 166,96 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
xuất khẩu đạt 83,55 tỷ USD, tăng 18,6% và nhập khẩu là gần 83,41 tỷ USD, tăng
6,1%. Kết quả này đã đưa cán cân thương mại của Việt Nam trong 9 tháng năm
2012 thặng dư 143 triệu USD.
Biểu đồ 1: Diễn biến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và cán cân thương
mại của Việt Nam trong 9 tháng của giai đoạn 2006-2010 và 2011-2012
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 9 tháng qua là 89,54 tỷ USD, tăng 30,5% và
chiếm 53,6% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Trong đó, xuất khẩu đạt
45,95 tỷ USD, tăng 37,3% và nhập khẩu là 43,59 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ
thống nhất: 1,04 tỷ USD, tăng hơn 4 lần; Nga: 520 triệu USD, tăng 43,6%; Hồng
Kông: 383 triệu USD, tăng 30,1% so với cùng kỳ năm 2011.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: Trị giá xuất khẩu trong tháng
9/2012 đạt 582 triệu USD, qua đó nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này
3 quý/2012 lên 5,35 tỷ USD, tăng 76,8% so với cùng kỳ năm 2011 (tương đương
tăng 2,32 tỷ USD về số tuyệt đối).
Trung Quốc là đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam
trong 9 tháng qua với 1,28 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần; tiếp theo là EU: 971 triệu
USD, tăng 89,6%; Hoa Kỳ: 631 triệu USD, tăng 66,9% và Malaixia: 596 triệu
USD, tăng gấp hơn 10 lần so với cùng kỳ năm trước.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng: Trong tháng 9/2012, xuất khẩu
457 triệu USD, nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng lên 4,15
tỷ USD, tăng 35,8% (tương ứng tăng 1,1 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2011.
Trong đó, xuất khẩu sang Nhật Bản: 911 triệu USD, tăng 31,1%; sang Hoa
Kỳ: 743 triệu USD, tăng 86,5%; sang EU: 508 triệu USD, tăng 64,6%; sang Trung
Quốc: 254 triệu USD, tăng 22,6% và Hồng Kông: 228 triệu USD, tăng 26,8% so
với cùng kỳ năm trước.
Phương tiện vận tải & phụ tùng: trong tháng xuất khẩu 320 triệu USD,
giảm 20,9% so với tháng trước, nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9
tháng qua lên 3,37 tỷ USD, tăng 37,8% so với 3 quý/2011 (tương đương tăng 924
triệu USD).
Nhật Bản là đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong 9
tháng qua với 1,25 tỷ USD, tiếp theo là Hàn Quốc: 478 triệu USD và Hoa Kỳ: 475
triệu USD.
Gạo: Lượng gạo xuất khẩu của cả nước trong tháng 9 là 673 nghìn tấn, giảm
17,4%, trị giá đạt 303 triệu USD, giảm 17% so với tháng trước. Như vậy, tính đến
hết quý III/2012, lượng xuất khẩu nhóm hàng này là 6,23 triệu tấn, tăng 5% và trị
giá đạt 2,82 tỷ USD, giảm 5% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 3 quý qua, Trung Quốc là đối tác lớn nhất nhập khẩu gạo của Việt
Nam với 1,71 triệu tấn, tăng gấp 5 lần so với cùng kỳ năm 2011. Tiếp theo là
Than đá: lượng xuất khẩu trong tháng là 1,19 triệu tấn, giảm 2,8% so với
tháng trước. Tính đến hết quý 3/2012, lượng xuất khẩu than đá của cả nước là
10,26 triệu tấn, giảm 19,8% với trị giá là 887 triệu USD, giảm 27,2% so với cùng
kỳ năm 2011.
Trong 9 tháng qua, lượng xuất khẩu than đá của Việt Nam sang các thị
trường chính đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc tiếp tục là đối tác
lớn nhất nhập khẩu than đá của Việt Nam với 7,81 triệu tấn, giảm 21,5% và chiếm
tới hơn ¾ tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước, tiếp theo là thị trường
Hàn Quốc: 932 nghìn tấn, giảm 20,4% và Nhật Bản: 833 nghìn tấn, giảm 17,7% so
với cùng kỳ năm trước…
Gỗ & sản phẩm gỗ: Xuất khẩu trong tháng đạt 390 triệu USD, giảm 5,1% so
với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu trong 9 tháng lên 3,38 tỷ USD,
tăng 19,3% so với cùng kỳ năm 2011.
Trong đó, xuất sang Hoa Kỳ đạt 1,29 tỷ USD, tăng 28,8%; sang Trung Quốc:
548 triệu USD, tăng 6,6%; sang Nhật Bản: 498 triệu USD, tăng 18,8% và sang EU:
445 triệu USD, tăng 9,4%.
Máy ảnh, máy quay phim & linh kiện: Trong tháng xuất khẩu 189 triệu
USD, tăng 5,1% so với tháng trước, nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này
trong 9 tháng/2012 lên gần 1,1 tỷ USD, tăng gần 2 lần so với cùng kỳ năm trước.
Hồng Kông là đối tác chính nhập khẩu máy ảnh, máy quay phim và linh kiện
của Việt Nam trong 9 tháng qua với 999 triệu USD, chiếm 92% tổng kim ngạch
xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Một số nhóm hàng nhập khẩu chính
Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng: kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng
này trong tháng là 1,24 tỷ USD, giảm 17,7% so với tháng trước. Tính đến hết
tháng 9/2012, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này vượt ngưỡng 12 tỷ USD, tăng 4,4%
so với cùng kỳ năm 2011; trong đó khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài nhập khẩu 6,34 tỷ USD, tăng 35% và khối các doanh nghiệp trong
nước nhập khẩu 5,7 tỷ USD, giảm 15%.
Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu từ các thị trường: Trung Quốc:
tháng là gần 1,2 tỷ USD, giảm 1% so với tháng trước, nâng tổng trị giá nhập khẩu
nhóm hàng này trong 9 tháng/2012 lên 9,28 tỷ USD, tăng 80,8% so với cùng kỳ
năm 2011;
Nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc: 2,3 tỷ USD,
tăng 46%; Hàn Quốc: 2,3 tỷ USD, tăng 81,3%; Nhật Bản: 1,2 tỷ USD, tăng 55,2%;
Hoa Kỳ: 806 triệu USD, tăng gấp gần 3 lần; Singapore: 738 triệu USD, tăng gấp
2lần; Malaixia: 402 triệu USD, tăng 28,8%; Đài Loan: 383 triệu USD, tăng 55,4%;
… so với cùng kỳ năm 2011.
Điện thoại các loại và linh kiện: kim ngạch nhập khẩu trong tháng đạt 435
triệu USD, giảm 14,6% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 9/2012, cả nước
nhập khẩu 3,45 tỷ USD, tăng 92,2% so với 9 tháng/2011.
Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng qua chủ yếu từ các thị
trường: Trung Quốc: 2,36 tỷ USD, tăng 109% và chiếm 68% kim ngạch nhập khẩu
của cả nước; Hàn Quốc: 872 triệu USD, tăng 69%.
Sắt thép các loại: lượng nhập khẩu trong tháng 9/2012 là gần 610 nghìn tấn,
trị giá 451 triệu USD, tăng 7,9% về lượng và giảm 1,5% về trị giá so với tháng
trước.
Tính đến hết tháng 9/2012, tổng lượng nhập khẩu sắt thép của Việt Nam là
5,58 triệu tấn, tăng 3,0%, kim ngạch nhập khẩu là gần 4,49 tỷ USD, giảm 4,8%.
Trong đó, lượng phôi thép nhập khẩu là 334 nghìn tấn, trị giá đạt 215 triệu USD,
giảm 53% về lượng và giảm 54% về trị giá so với cùng kỳ năm 2011.
Phế liệu sắt thép: trong 9 tháng qua, cả nước nhập khẩu hơn 1 tỷ USD phế
liệu sắt thép, tăng 24,1% với lượng nhập khẩu tương ứng đạt 2,36 triệu tấn, tăng
27,5% so với 9 tháng/2011.
Các thị trường chính cung cấp phế liệu sắt thép cho Việt Nam như: Hoa Kỳ:
367 nghìn tấn, giảm 14,6%; Ôxtrâylia: 353 nghìn tấn, tăng gấp 2,7 lần; Nhật Bản:
159 nghìn tấn, tăng gấp gần 6 lần; Chi Lê: 100 nghìn tấn, tăng 15,6%;… so với
cùng kỳ năm 2011.
Kim loại thường khác: lượng nhập khẩu trong tháng 9/2012 là gần 61 nghìn
tấn, trị giá 211 triệu USD, tăng 5,1% về lượng và tăng 3,6% về trị giá so với tháng