tìm hiểu về pháp luật phá sản ở việt nam - Pdf 22

Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
MỞ ĐẦU
Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong lại nền kinh tế thị trường mà
hậu quả cuả nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh doanh.
Phá sản không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng thanh toán với
các con nợ của nó mà con dẫn đến sự xung đột với lợi ích của tập thể người lao
động làm việc trật tự trị an tại một địa phương, vùng lãnh thổ nhất định nào đó.
Ban hành pháp luật phá sản là mong muốn của nhà làm luật sử dụng những thuộc
tính của pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong điều
kiện tồn tại Nhà nước như tính quy phạm, tính bắt buộc chung nhằm tác động
một cách hiệu quả nhất đến quan hệ giữa các chủ thể quan hệ phá sản, giải quyết
xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo đúng bản chất vốn có của nó. Ngoài ra,
việc giải quyết xung đột giải quyết này cũng không thể không tính đến những
nhiệm vụ cụ thể đặt ra trước các nhà làm luật ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ
phát triển kinh tế của mình.
Như vậy phá sản là hiện tượng bình thường và cần thiết của kinh tế thị trường,
còn pháp luật phá sản là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện tượng này
nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực và
khai thác những mặt tích cực của nó. Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước và
Toà án có thể can thiệp vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với
một cách nhìn hện đại, năng động và hết sức mềm dẻo.
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 1
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
NỘI DUNG
Phân tích điều 37 cho biết thấy “các khoản nợ” được hiểu là nghĩa vụ tài sản
của doanh nghiệp hình thành từ các hợp đồng dân sự, thương mại và lao động. Còn
các khoản nợ thuế, các nghĩa vụ tài sản khác như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, nghĩa vụ thanh toán các khoản phạt hành chính của doanh
nghiệp không được đề cập đến. vậy giải quyết các nghĩa vụ có tính chất tài sản này
của doanh nghiệp như thế nào khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản?

tạo điều kiện duy trì và phát triển thị trường vốn, bảo vệ chủ nợ là mục tiêu rất
quan trọng của Luật Phá sản. Khi nhà đầu tư tiềm năng thấy phần vốn đầu tư của
mình không an toàn, khó có thể đòi lại được vì những lí do phi thị trường thì nhà
đầu tư sẽ không yên tâm bỏ vốn kinh doanh, cho vay nợ Hậu quả tiếp theo là thị
trường vốn cung cấp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng.
Khó có thể hình dung được một nền kinh tế thị trường mà không có được một thị
trường vốn lành mạnh, phát triển. Ngoài ra pháp luật phá sản còn dùng để bảo vệ
lợi ích của chính bản thân các doanh nghiệp mắc nợ, bảo vệ lợi ích của bản thân
người lao động; đảm bảo trật tự an toàn xã hội, và giúp cơ cấu lại nên kinh tế.
Ví dụ : Công ty A thế chấp một tài sản trị giá 600 triệu đồng để vay ngân hàng
Y số tiền 350 triệu đồng. Nếu công ty A lâm vào tình trạng phá sản và đang tiến
hành thủ tục tuyên bố phá sản thì Ngân hàng Y là chủ nợ sẽ bằng tài sản của doanh
nghiệp mắc nợ hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản đảm bảo ít hơn khoản nợ
đó.
Ví dụ : Công ty X nợ Công ty Z 180 triệu đồng, trong khi đó tài sản của Công
ty X thế chấp để đảm bảo trả nợ là 150 triệu đồng.Như vậy nếu Công ty X lâm vào
tình trạng phá sản và đang tiến hành thủ tục tuyên bố phá sản thì Công ty Z bằng
tài sản của doanh nghiệp mắc nợ hoặc của người thứ ba.
2. Bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Ngành tòa án nhận định rằng: “Các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
không ít, nhưng yêu cầu tuyên bố phá sản tại tòa án thì ngày càng ít đi” (trích Báo
cáo tổng kết ngành tòa án năm 2001). Do nhiều vướng mắc cho nên Luật phá sản
chưa thực sự trở thành một công cụ pháp lý quan trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 3
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
pháp của giới chủ nợ, thúc đẩy hoạt động kinh doanh có hiệu quả bằng biện pháp
phục hồi/tái tổ chức doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán, có lúc còn là tiềm
ẩn phát sinh tội phạm hình sự lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Có nhiều vấn đề cần bổ
sung, sửa đổi nhằm mục đích làm cho luật phá sản trở thành đạo luật quan trọng

xếp đặt vì mục đích không lành mạnh như là trốn tránh nghĩa vụ đối với chủ nợ,
đôi khi còn có tính chất hình sự. Do đó để ngăn chặn các trường hợp phá sản để
quy dịnh trình tự và điều kiện nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản, xác định nghĩa
vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục tài sản… Chúng tôi
thấy rằng luật phá sản doanh nghiệp hiện hành không kiểm soát được tình trạng
trốn tránh nghĩa vụ trả nợ của các doanh nghiệp con nợ, gây thiệt hại cho các
doanh nghiệp chủ nợ thậm trí khi đã có bản án của Tòa án. Chúng tôi xin lấy một
ví dụ điển hình: đó là trường hợp của Công ty lien doanh ô tô Việt Nam – Daewoo
( công ty VIDAMCO) bán xe ô tô cho 1 công ty trách nhiệm hữu hạn ( công ty
thương mại Quốc Hiếu, trụ sở tại 122 Triệu Việt Vương) để kinh doanh taxi, đến
hạn bên mua không trả nợ được thế là công ty VIDAMCO khởi kiện. trong khi tòa
án đang giải quyết vụ kiện tranh chấp kinh tế thì chủ sở hữu Công ty Quốc Hiếu đã
rút hết vốn để thành lập một doanh nghiệp mới song song với việc giải quyết tại
tòa án. Khi có bản án của Tòa án năm 2001, cơ quant hi hành án vào cuộc. Sau một
thời gian thi hành án, công ty VIDAMCO nhận được văn bản của Phòng thi hành
án Hà Nội trả lại đơn yêu cầu thi hành án vì đơn vị phải thi hành án đã lâm vào tình
trạng phá sản ( không có tài sản, tiền mặt và bản thân không hoạt động). Tuy biết
rõ công ty này không hề phá sản nhưng công ty VIDAMCO không thể làm gì được
hơn và cũng chẳng yêu cầu tòa án giải quyết phá sản vì biết rằng sẽ chẳng có kết
quả gì lại mất thêm lệ phí giải quyết phá sản, mất thêm thời gian. Bởi theo quy
định của luật phá sản hiện hành tuy doanh nghiệp đã hoàn toàn mất khả năng thanh
toán, chẳng có lấy một tài sản nào, thế nhưng Hội nghị chủ nợ vẫn phải họp và
thông qua phương án, phân chia giá trị tài sản doanh nghiệp( điểm 6 điều 37 Luật
phá sản ). Quy định này quả là hình thức và không giải quyết được gì cho các chủ
nợ. Theo chúng tôi đối với những trường hợp này thì tòa án có thể tuyên bố phá
sản luôn theo yêu cầu của Hội nghị chủ nợ để khỏi mất thêm thời gian.
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 5
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
Với quy định như vậy sẽ tránh được các hành vi tẩu tán tài sản của doanh

Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
làm, nay công ty phá sản chúng tôi phải nghĩ việc thì được hưởng chế độ như thế
nào?
Thứ nhất: Chế độ người lao động được hưởng khi công ty phá sản
Thủ tục phá sản: Thẩm quyền tuyên bố công ty phá sản do toà án.
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục than lý đối với doanh nghiệp,
thì việc phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp, theo thứ tự sau đây:
a) Phí tài sản;
b) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật
và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã kí
kết;
c) Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ
theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để than toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều
được thanh toán đủ được số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán
các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần các khoản nợ của mình
theo tỷ lệ tương ứng
Trợ cấp: Theo quy định Điều 42 Luật lao động: áp dụng đối với người lao động
làm việc thường xuyên cứ một năm việc trợ cấp ½ tháng lương.
4. Góp phần cơ cấu lại nền kinh tế thị trường
Pháp luật là một hiện tượng tự nhiên của nền kinh tế thị trường.Mặc dù có
đời sống ngắn rất khác nhau, nhưng nhìn chung các doanh nghiệp thường có một
sống của doanh nghiệp phụ thuộc vào thành tích kinh doanh và môi trường hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp đó. Mặt khác, trong hoạt động kinh doanh, việc
các doanh nghiệp nợ và chiếm dụng vốn lẫn nhau là rất phổ biến. Vậy giải quyết
như thế nào khi có doanh nghiệp đã rơi vào giai đoạn suy thoái hoặc gặp những
vấn đề nghiêm trọng về tài chính, mà kết là không thể thanh toán được các khoản
nợ thương mại.
Pháp luật phá sản doanh nghiệp ra đời nhằm điều chỉnh các vấn đề phát sinh
trong trường hợp này. Theo đó, một doanh nghiệp được coi là lâm vào tình trạng
phá sản khi thực chất đã mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và nếu

khắc nghiệt của thương trường.
5. Đảm bảo trật tự,kỷ cương xã hội
Luật phá sản doanh nghiệp được chia ra nhăm bảo vệ lợi ích cho mọi thành
phần tham gia doanh nghiệp tránh được tình trạng hỗn lộn của nền kinh tế khi một
GVHD: TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
Trang: 8
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
hay nhiều doanh nghiệplâm vào tình trạng phá sản bên cạnh đó phá sản không
hoàn toàn là tiêu cực trên một khía cạnh nào đó, nó thậm chí là một hành động tích
cực đối với nền kinh tế giúp thúc đẩy hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn.
• Răn đe các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả( không được quá mạo hiểm liều lĩnh)
• Xoá bỏ doanh nghiệp làm ăn thô lỗ
• Tạo điều kiện cho môi trường kinh doanh mới lành mạnh hơn cho các nhà đầu tư
hoạt động và những ảnh hưởng gián tiếp khác
C. KẾT BÀI
Trong nền kinh tế thị trường, phá sản doanh nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã
hội tồn tại khách quan.
Phá sản luôn là hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, nó hiện hữu như
một sản phẩm của quá trình cạnh tranh, chọn lọc và đào thải tự nhiên của nền kinh
tế thị trường, bất kể đó là nền kinh tế thị trường phát triển ở các nước trên thế giới
hay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, phá sản là khái niệm dùng để chỉ doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với dấu hiệu đặc trưng nhất là mất khả năng
thanh toán nợ đến hạn. Tuy nhiên, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chưa
hẳn đã bị phá sản. Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ được coi là bị phá
sản khi đã tiến hành thủ tục phá sản.
Phá sản - thủ tục phục hồi doanh nghiệp hoặc thanh lý nợ đặc biệt. Luật phá sản
gồm 95 điều, trong đó có 12 điều (Điều 1 đến Điều 12) về những quy định chung
và một điều về điều khoản thi hành còn lại 82 điều (từ Điều 13 đến Điều 94) ghi
nhận các vấn đề liên quan đến thu tục phục hồi doanh nghiệp và thủ tuc thanh lý nợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status