Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM
MỤC LỤC
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
GVHD: Trần Thị Yến Lớp: CDTD12TH
Mục lục:
A.MỞ BÀI
B.NỘI DUNG
I. Khái quát chung về hợp đồng vô hiệu
1, Khái niệm
thương mại
4
Và đặc biệt bài này chúng em muốn đề cập đến vấn đề chính là hợp đồng
với đề tài cụ thể là: “Hợp đồng vô hiệu và cách thức xử lí hợp đồng vô hiệu”.
Thực tế đây là một đề tài mang tính chất phức tạp, mặt khác do trình độ
còn hạn chế nên bài viết này chúng em chỉ nêu lên một số vấn đề cơ bản về hợp
đồng vô hiệu và cách thức xử lí. Bài viết được hoàn thành dưới sự hướng dẫn
tận tình của cô giáo và sự giúp đỡ của một số tài liệu bổ ích.
Em xin chân thành cảm ơn!
5
B.NỘI DUNG:
I. Khái quát chung về hợp đồng vô hiệu:
1, Khái quát chung về hợp đồng:
Bill Gates trong một lần phỏng vấn các ứng viên thi tuyển vào Microsoft
đã đặt câu hỏi: “Theo các bạn đâu là yếu tố duy trì sự ổn định và thành công của
các doanh nghiệp ngày nay?”. Một ứng viên đã trả lời: “Đó là tính chặt chẽ của
hợp đồng”. Nhiều người khi đó đã nghi ngờ sự nghiêm túc của câu trả lời này,
chỉ duy nhất Bill Gates là không nghi ngờ như vậy, ông đã cho ứng viên này
điểm tối đa.
Trên thương trường, bất cứ hoạt động kinh doanh nào của bạn với đối tác
bên ngoài cũng đều được thể hiện thông qua hợp đồng. Đây chính là ràng buộc
pháp lí về nghĩa vụ của các bên trong kinh doanh. Nhiều công ty, tập đoàn lớn
trên thế giới đã tổ chức bộ phận pháp lí riêng để xem xét đáng giá và tư vấn cho
mình trước khi kí kết hợp đồng. Nhiều chuyên gia kinh tế từng đặt câu hỏi:
“Đâu là yếu tố quan trong nhất cua một vụ làm ăn?”. Phần lớn các câu trả lời
nhận được là: “Tính chặt chẽ và hình thức của hợp đồng”.
1. Khái niệm:
6
Trước hết chúng ta cần làm rõ khái niệm hợp đồng kinh tế vô hiệu là gì?
Hợp đồng kinh tế vô hiệu là hợp đồng không làm phát sinh hiệu lực pháp lí kể
pháp hay trái đạo đức xã hội. Tóm lại chỉ có thể xác nhận hợp đồng vô hiệu
trong các trường hợp sau:
- Vô hiệu vì sự thỏa thuận bị tì tích( nhầm lẫn, đe dọa, lừa dối).
- Vô hiệu vì vô năng lực hành vi.
- Vô hiệu vì khiếm khuyết về hình thức.
Sự xác nhận hợp đồng có thể là minh thị hay mặc nhiên. Xác nhận minh
thị được thực hiện bằng văn bản trong đó ghi rõ nội dung của hợp đồng vô hiệu,
nguyên nhân của sự vô hiệu và ý muốn khước từ quyền hủy bỏ hợp đồng. Mặc
nhiên khi các đương sự đã tự ý thi hành hợp đồng hoặc khi bên giao kết được
yêu cầu thi hành hợp đồng mà không phản đối gì. Sự xác nhận không những
xóa dấu vết các tì tích của hợp đồng tương lai mà còn có hiệu lực từ ngày kí kết.
Sự vô hiệu của hợp đồng khi đã được tòa án tuyên bố có hậu quả nặng nề:
toàn thể hợp đồng bị hủy bỏ, tất cả các nghĩa vụ do hợp đồng tạo ra đều được
hủy bỏ bât luận là nghĩa vụ của trái chủ hay trái hội. Tuy nhiên trên thực tế hợp
đồng có thể gồm nhiều điều khoản, trong đó có vài điều khoản vô hiệu các điều
khoản còn lại hợp lệ. Vấn đề đặt ra là trong trường hợp này hợp đồng có hoàn
toàn vô hiệu hay không? Vấn đề này Điều 135 BLDS năm 2005 quy định: “giao
dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần của giao dịch vô hiệu nhưng không
8
ảnh hưởng đến hiệu lực phần còn lại của giao dịch”. Như vậy, hợp đông chỉ bị
tiêu hủy hoàn toàn nếu toàn thể hợp đồng bị vô hiệu hoặc điều khoản hay hợp
đồng bất hợp pháp bị tòa án xem là có tính tất yếu và quyết định đối với ý chí
của các bên giao kết. Trong những trường hợp khác, chỉ riêng điều khoản bất
hợp pháp bị tiêu hủy còn các phần khác của hợp đồng vẫn có hiệu lực.
Hợp đồng bị hủy bỏ vì lí do vô hiệu bị coi là không hề có hiệu lực, hợp
đồng không có hiệu lực trong tương lai cũng như trong quá khứ. Điều 137
BLDS 2005 quy định: “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kí kết từ thời điểm xác lập”.
2.Các nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu:
Các nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu có thể phân thành hai loại: các
vẫn có hiệu lực trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của
BLDS. Trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với
người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu( Điều 129 BLDS).
- Khi giao dịch do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện: trường hợp này
theo yêu cầu của của người đại diện người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô
hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đai diện của
họ xác lập thực hiện (Điều 130 BLDS).
10
- Khi giao dịch bị lưa dối, đe dọa: lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý
của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ
thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nếu đã xác lập giao
dịch đó. Đe dọa giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba
làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm tài sản của mình hoặc của cha, mẹ,
vợ, chồng, con của mình.Trường hợp này, bên bị lừa dối, đe dọa có quyền yêu
cầu Tòa án Tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu (Điều 132 BLDS).
- Khi giao dịch do bị nhầm lẫn: khi một bên có lỗi do vô ý làm cho bên kia
nhầm lẫn về nội dung của giao dịch. Bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia
thay đổi nội dung của giao dịch đó. Nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị
nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trường hợp một
bên do có lỗi cố ý nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì bị giải quyết theo quy
định nhầm lẫn đe dọa (Điều 132 BLDS).
- Khi giao dịch do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi
của mình: người có năng lực hành vi dân sự: nhưng đã xác lập giao dịch vào
đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi củ mình thì có quyền
yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu (Điều 133 BLDS).
- Khi giao dịch không tuân thủ về quy đinh hình thức: trường hợp pháp
luật quy định hình thức giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các
bên không tuân theo Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác quyết định,
với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ
luật này.
-Trong trường hợp tài sản là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký
quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba
ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba
ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người
mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu
tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án,
quyết định bị huỷ, sửa.
Giao dịch hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh thay đổi, chấm dứt
quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập khi hợp đồng bị coi là vô
hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau
những gì đã nhận. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường( Điều 137 BLDS)
13
C.KẾT LUẬN
Sự xuất hiện của nhiều thành phần kinh tế, với sự đa dạng về quy mô kinh
doanh, hình thức hoạt động, hình thức sở hữu. Trong giai đoạn chuyển đổi sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm cho quan hệ
kinh tế thay đổi về cơ bản. Cùng với sự phát triển một bước của các quan hệ
kinh tế, hệ thống pháp luật cũng đã có những bước phát triển nhất định.
Các bộ luật đã góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh
tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể kinh tế cũng như bảo đảm trật tự an toàn pháp luật của của đất
nước.
Hiện nay, Bộ luật Dân sự 2005 thay thế cho Bộ luật Dân sự 1995 và Pháp
lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 được ghi nhận là một văn bản pháp luật có giá
trị pháp lý cao gồm các quy định về hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và cách thức
xử lý các hợp đồng vô hiệu.
Hợp đồng bị vô hiệu và việc xử lý hợp đồng vô hiệu rất phức tạp và để lại