Phân tích hoạt động kinh doanh tại NHCT Kiên Giang - Pdf 22

Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Với xu thế hội nhập và cạnh tranh như hiện nay, các Ngân hàng Thương mại
(NHTM) đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn tín dụng cho các
ngành nghề trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội ngày càng cao. Để có
nguồn vốn đủ đáp ứng cho nhu cầu ngày càng phát triển, các tổ chức tín dụng
(TCTD) cần hoạt động kinh doanh có hiệu quả, đồng thời cũng phải đạt được mục
tiêu kinh tế cho bản thân các TCTD đó. Như vậy hiệu quả kinh doanh của các
TCTD không chỉ đơn thuần là hiệu quả về kinh tế mà còn là hiệu quả về mặt xã
hội, khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế vùng và đất nước.
Trong tiến trình phát triển kinh tế, cùng với hệ thống ngân hàng cả nước,
Ngân hàng Công thương Kiên Giang (NHCT KG) cũng góp phần vào việc cung
ứng vốn cho tỉnh nhà nhằm hỗ trợ các ngành kinh tế trong tỉnh phát triển. Tuy
nhiên, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng cũng ngày càng sôi nổi hơn. Vì vậy, các
nhà quản lý cần có phương hướng và biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh, đồng thời hạn chế rủi ro trong quá trình kinh doanh. Cũng như các
Ngân hàng khác, NHCT Kiên Giang cũng cần phân tích hiệu quả hoạt động kinh
doanh nhằm giúp doanh nghiệp tự đánh giá mình về thế mạnh, thế yếu để củng cố,
phát huy, khắc phục, cải tiến quản lý. Kết quả phân tích là cơ sở để đưa ra những
quyết định quản trị đúng đắn, giúp dự báo, đề phòng và hạn chế rủi ro bất định.
Kết quả kinh doanh là mục tiêu của mọi hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp trong từng thời kỳ kinh doanh hoàn thành hay không hoàn thành kế hoạch
đều phải xem xét đánh giá, phân tích nhằm tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích kết quả
kinh doanh giúp nhà lãnh đạo có được các thông tin cần thiết để ra những quyết
định sửa chữa điều chỉnh kịp thời nhằm đạt mục tiêu mong muốn trong quá trình
điều hành các quá trình sản xuất kinh doanh. Đây cũng chính là lý do tôi quyết
định chọn đề tài: “Phân tích hoạt động kinh doanh tại NHCT Kiên Giang” để
nghiên cứu.
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình1

viên.
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình2
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH
1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh
Phân tích hoạt động kinh doanh là đi sâu nghiên cứu quá trình và kết quả hoạt
động kinh doanh theo yêu cầu của quản lý kinh doanh, căn cứ vào các tài liệu hạch
toán và các thông tin kinh tế khác, bằng những phương pháp nghiên cứu thích hợp,
phân giải mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế nhằm làm rõ chất lượng của
hoạt động kinh doanh, nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các
giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp.
2. Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh
Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả hoạt động
kinh doanh với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình và kết quả đó,
được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế.
3. Mục tiêu của phân tích hoạt động kinh doanh
- Là làm sao cho các con số trên các tài liệu hạch toán “biết nói” để người sử
dụng chúng hiểu được tình hình và kết quả kinh doanh
- Phân tích hoạt động kinh doanh căn cứ vào các tài liệu của hạch toán nghiên
cứu đánh giá, từ đó đưa ra các nhận xét, trên cơ sở nhận xét đúng đắn thì mới đưa
ra giải pháp đúng đắn
- Vận dụng các phương pháp phân tích thích hợp để đưa ra kết luận sâu sắc sẽ là
cơ sở để phát hiện và khai thác các khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh
doanh, đồng thời cũng là căn cứ để đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn,
biện pháp quan trọng trong việc phòng ngừa các rủi ro trong kinh doanh.
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình3

gửi vào khách hàng gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo
trước cho Ngân hàng và Ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu đó của khách hàng.
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình4
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
Khi gửi tiền, khách hàng được hưởng lãi suất, góp phần tăng lợi nhuận cho
khách hàng nhưng khi có nhu cầu sử dụng thì họ lại chủ động rút ra. Mặt khác
khách hàng còn được phép sử dụng tiền gửi để phục vụ cho việc thanh toán không
dùng tiền mặt qua Ngân hàng.
Tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn không ổn định, khách hàng có thể gửi vào
và rút ra bất kỳ lúc nào song giữa việc gửi tiền và rút tiền có sự chênh lệch về thời
gian và số lượng nên các loại tài khoản này luôn có số dư, Ngân hàng có thể huy
động số dư đó làm nguồn vốn tín dụng cho vay.
b.Tiền gửi có kỳ hạn:
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi vào có sự thỏa thuận
về thời gian rút ra giữa Ngân hàng và khách hàng.
Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã thỏa thuận.
Tuy nhiên, trên thực tế do yếu tố cạnh tranh, để thu hút tiền gửi các Ngân hàng
thường cho phép khách hàng được rút tiền trước thời hạn nhưng không được
hưởng lãi suất, hoặc chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp hơn hoặc phải chịu một
mức phí đối với khoản tiền gửi tiết kiệm rút trước thời hạn theo quy định của tổ
chức nhận tiền gửi tiết kiệm (theo Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13
tháng 9 năm 2004).
Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định. Ngân hàng có thể sử dụng
loại tiền này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh. Vì vậy, để khuyến
khích khách hàng gửi tiền, các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau
như: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng… với mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ
hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
1.1.2. Tiền gửi của dân cư:
Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của dân cư gửi tại Ngân
hàng. Tiền gửi dân cư bao gồm:

Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm tiền gửi nhất định để cho vay, số
còn lại làm quỹ dự trữ đảm bảo thanh toán cho khách hàng.
- Ngân hàng chỉ được thực hiện các khoản giao dịch trên tài khoản của
khách hàng khi có lệnh của chủ tài khoản hoặc có sự uỷ nhiệm của chủ tài khoản.
Ngoại trừ trường hợp khách hàng vi phạm luật chi trả và theo quy định của cơ
quan có thẩm quyền về thực hiện các nghiệp vụ thanh toán thì khi đó Ngân hàng
mới có quyền tự động trích các tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các
khoản thanh toán có liên quan.
- Ngân hàng phải đảm bảo an toàn và bí mật cho chủ tài khoản
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình6
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
- Ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của
khách hàng, các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng quy định. Ngân hàng
phải kiểm tra con dấu và chữ ký của khách hàng, nếu không phù hợp thì Ngân
hàng có thể từ chối thanh toán.
- Khi có các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản của khách hàng thì Ngân
hàng phải kịp thời gửi giấy báo có cho khách hàng. Cuối tháng, Ngân hàng phải
gửi bản sao tài khoản hoặc giấy báo số dư cho khách hàng.
2. Nghiệp vụ tín dụng:
2.1. Khái niệm tín dụng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh
tế-xã hội. Ngày nay, tín dụng được hiểu theo những định nghĩa sau:
1/ Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện
vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời
gian nhất định.
2/ Tín dụng là phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa
các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hóa.
3/ Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (trái chủ-người cho
vay) cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán… dựa vào lời hứa thanh toán lại
trong tương lai của bên kia (thụ trái- người đi vay).

thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.
2.5. Lãi suất tín dụng:
Lãi suất huy động vốn: Là loại lãi suất mà các tổ chức tín dụng sử dụng để
huy động vốn cho các mục tiêu hoạt động kinh doanh của mình như: lãi suất tiền
gửi không kỳ hạn, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn.
Bảng 01: LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHCT KIÊN GIANG
NĂM 2005
Chỉ tiêu
Trả lãi sau
Trả lãi trước
Trả lãi định kỳ
VND (%/tháng)
VND
(%/tháng)
USD
(%/năm)
Không kỳ hạn 0,25 1,25 -
Kỳ hạn 1 tháng 0,45 3,25 -
Kỳ hạn 2 tháng 0,55 3,50 0,54
Kỳ hạn 3 tháng 0,64 3,20 0,62
Kỳ hạn 6 tháng 0,65 4,00 0,63
Kỳ hạn 9 tháng 0,69 4,10 0,66
Kỳ hạn 12 tháng 0,70 4,50 0,67
Kỳ hạn 24 tháng 0,74 4,55 - 0,72
Kỳ hạn 36 tháng 0,76 4,60 - 0,73
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình8
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
Kỳ hạn 60 tháng 0,77 4,80 - 0,74
Lãi suất cho vay: là tỷ lệ % giữa số lợi tức thu được trong kỳ so với số vốn cho
vay phát ra trong thời kỳ nhất định, thông thường lãi suất tính cho năm, quý,

III/ Phí bảo lãnh
- Tính trên số tiền được bảo lãnh: 2%/năm
- Mức thu phí bảo lãnh tối thiểu : 100.000 đồng
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình9
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
IV/ Phí khác
- Phí phạt chậm trả lãi tiền vay: 0,5%/tháng x số tiền chậm trả lãi x số ngày chậm
trả lãi
- Phí gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ: 0,1%/tháng x số tiền gia hạn, điều chỉnh
- Phí vay trả trong ngày là: 0,1% trên số tiền trả
- Phí cam kết sử dụng vốn: 0,3% trên số tiền chưa rút vốn
3. Rủi ro tín dụng:
3.1. Khái niệm rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện
được các nghiệp vụ tài chính đối với Ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng
là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên
nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng
một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động và có
thể làm cho Ngân hàng bị phá sản.
Đây là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề
nhất. Thông thường ở các nước, nghiệp vụ tín dụng mang lại 2/3 thu nhập cho
Ngân hàng. Còn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, thu nhập từ hoạt động tín
dụng mang lại thường chiếm 70% - 90% tổng thu nhập. Nhưng đồng thời trong
lĩnh vực này cũng chứa đựng nhiều rủi ro bởi các khoản tiền cho vay bao giờ cũng
có xác suất vỡ nợ cao so với những khoản đầu tư khác.
3.2. Thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra:
3.2.1. Đối với ngân hàng:
Rủi ro tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng như thiếu tiền chi trả cho khách hàng, vì phần lớn nguồn vốn hoạt động của
ngân hàng là nguồn vốn huy động, mà khi ngân hàng không thu hồi được nợ gốc

người lãnh đạo đơn vị giảm thấp; Khả năng tài chính của doanh nghiệp bị giảm do
lỗ trong kinh doanh; Sử dụng vốn sai mục đích; Thị trường cung cấp vật tư bị đột
biến; Bị cạnh tranh và mất thị trường tiêu thụ; Sự thay đổi trong chính sách của
Nhà nước; Những tai nạn bất ngờ.
3.3.2. Những nguyên nhân khách quan:
+ Tình hình kinh tế trong nước:
Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động rất nhạy cảm với những biến
động của nền kinh tế - xã hội.
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình11
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
Trong giai đoạn kinh tế suy thoái thường xuất hiện những doanh nghiệp thua lỗ
và phá sản, từ đó có các khoản tiền vay ngân hàng không trả được. Điều này làm
cho nợ quá hạn trong ngân hàng tăng lên nhanh chóng.
Trong giai đoạn nền kinh tế có lạm phát cao và ngày càng gia tăng cũng có thể
dẫn đến rủi ro tín dụng, bởi vì trong giai đoạn này người gửi tiền có tâm lý lo sợ
rằng đồng tiền của mình bị mất giá khi gửi ngân hàng, cho nên họ muốn rút tiền ra
khỏi ngân hàng. Trong khi đó những người đi vay thì lại muốn gia tăng nhu cầu
vay vốn và muốn kéo dài thời hạn vay. Điều này cũng là ảnh hưởng trực tiếp đến
nguồn vốn hoạt động của ngân hàng cũng như những khoản đầu tư của ngân hàng
không có hiệu quả. Nguy cơ này có thể làm hoạt động cho vay của ngân hàng bị
phá sản.
+ Tình hình thế giới:
Trong thời kỳ ngày nay, mỗi quốc gia là một tế bào của nền kinh tế chung thế
giới. Hoạt động kinh tế các nước đều có tác động ảnh hưởng lẫn nhau vì xu hướng
toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới. Nhiều tập đoàn công ty có xu hướng mở
rộng kinh doanh ra nước ngoài. Sự hình thành các khu vực kinh tế và các khu mậu
dịch tự do như NAFTA, AFTA… cho chúng ta thấy sự ảnh hưởng không nhỏ của
các nước trong khu vực cũng như trên thế giới đối với mỗi nước thành viên.
Chính vì vậy, khi có những biến cố và tình hình kinh tế, chính trị, quân sự xảy
ra ở bất kỳ nước nào thì cũng có thể tác động mạnh đến các nước khác trên thế

cho một khách hàng vay quá 15% vốn tự có của ngân hàng, thiếu tài sản thế chấp,
cầm cố, cho vay khống…
+ Phân tích đánh giá khách hàng sai, quyết định cho vay thiếu thông tin sát
thực.
+ Cán bộ ngân hàng vi phạm đạo đức kinh doanh.
3.4. Biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng:
3.4.1. Phân tích khách hàng:
Đây là biện pháp tích cực nhất nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro. Bởi có đánh
giá đúng khách hàng thì mới biết được khả năng hoàn trả nợ của họ. Đánh giá
khách hàng thường chú trọng đến những mặt sau:
- Tình hình tài chính của khách hàng
- Tư cách, năng lực và trình độ hiểu biết của người đứng đầu doanh nghiệp
- Đánh giá tính khả thi của phương án vay vốn
3.4.2. Phân tích tín dụng:
- Phân tích chất lượng và hiệu quả tín dụng
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình13
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
- Phân tích khả năng mở rộng quy mô tín dụng
- Thực hiện các đảm bảo tín dụng
- Trình độ của cán bộ tín dụng
3.4.3. Phân tán rủi ro:
+ NHTM không nên dồn vốn vào một hoặc một số ít khách hàng, cho dù khách
hàng đó kinh doanh có hiệu quả. Bởi vì nếu khách hàng đó gặp khó khăn trong
kinh doanh thì ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của NHTM. Vì vậy, NHTM cần
phải tôn trọng giới hạn an toàn. Ở Việt Nam căn cứ vào quy chế cho vay của
NHNN ban hành 31/12/2001 quy định: “dư nợ đối với một khách hàng không
được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng”.
+ Cho vay hợp vốn: Cho vay hợp vốn hay còn gọi là đồng tài trợ là quá trình
cho vay, bảo lãnh của một nhóm ngân hàng cho một dự án, do một NHTM làm
đầu mối phối hợp với các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả trong

phòng rủi ro có quy định: “Tổ chức tín dụng phải dự phòng rủi ro trong hoạt động
ngân hàng. Khoản dự phòng rủi ro này phải được hạch tốn vào chi phí hoạt động.
Việc phân loại tài sản “có”, mức trích, phương pháp lập khoản dự phòng và sử
dụng khoản dự phòng để xử lý các rủi ro do Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước
cùng Bộ tài chính quy định”.
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường để giảm bớt rủi ro trong hoạt động ngân
hàng thì tất yếu phải thành lập quỹ dự phòng rủi ro. Song tùy theo mỗi nước mà
quỹ này được tổ chức theo những hình thức và tên gọi khác nhau.
III. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG:
1. Các chỉ tiêu về cơ cấu vốn:
• Vốn huy động / Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này nhằm đánh giá khả năng huy động vốn của Ngân hàng
• Vốn vay / Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này phản ánh sự hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương và các TCTD khác
• Tỉ lệ phần trăm từng loại tiền gửi =
động huyvốn Tổng
gửi tiền loại từng dư Số
x
100%
Chỉ số này xác định cơ cấu vốn huy động của Ngân hàng. Mỗi loại tiền gửi có
những u cầu khác nhau về chi phí, thanh khoản. Do đó, việc xác định rõ cơ cấu
vốn huy động sẽ giúp Ngân hàng hạn chế những rủi ro có thể gặp phải và tối thiểu
hóa chi phí đầu vào cho Ngân hàng.
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hồ Bình15
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Cơng Thương Kiên Giang
2. Các chỉ tiêu phân tích hoạt động sử dụng vốn:
• Dư nợ ngắn (trung, dài) hạn / Tổng dư nợ
Chỉ số này dùng xác định cơ cấu tín dụng theo thời hạn. Từ đó giúp nhà phân
tích đánh giá được cơ cấu đầu tư như vậy có hợp lý hay chưa và có giải pháp điều

phíchi Tổng
mục khoảntừng cho phíchi Số
x
100%
Chỉ số này giúp nhà phân tích có thể biết được kết cấu các khoản chi để có thể
hạn chế các khoản chi bất hợp lý, tăng cường các khoản chi có lợi cho hoạt động
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hồ Bình16
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
kinh doanh nhằm thực hiện tốt chiến lược mà hội đồng quản trị ngân hàng đã đề
ra.
c/ Phân tích lợi nhuận:
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá chất lượng kinh doanh của
NHTM. Lợi nhuận có thể hữu hình như: tiền, tài sản… và vô hình như uy tín của
Ngân hàng đối với khách hàng, hoặc phần trăm thị phần ngân hàng chiếm được.
Các chỉ số:
* ROA = Lợi nhuận ròng /Tổng tài sản (%)
Chỉ số này cho thấy khả năng bao quát của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập
từ tài sản. Nói cách khác, ROA giúp cho nhà phân tích xác định hiệu quả kinh
doanh của một đồng tài sản. ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân
hàng tốt.
* Tổng chi phí / Tổng thu nhập
Chỉ số này tính toán khả năng bù đắp chi phí của một đồng thu nhập. Đây cũng
là chỉ số đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Thông thường chỉ số này
phải nhỏ hơn 1, nếu nó lớn hơn 1 chứng tỏ ngân hàng hoạt động kém hiệu quả,
đang có nguy cơ phá sản trong tương lai.
Tóm lại:
Những cơ sở lý luận nêu trên về các nghiệp vụ cơ bản, nguyên tắc hoạt động
của Ngân hàng và các chỉ tiêu đánh giá nhằm làm cho hoạt động phân tích đạt hiệu
quả tốt trên cơ sở vững chắc. Bên cạnh việc phân tích dựa trên các chỉ tiêu kinh
doanh chúng ta cần có cái nhìn khái quát về Ngân hàng để nắm được đâu là thuận

đặt tại Thành phố Rạch Giá còn có 6 phòng giao dịch trực thuộc nằm ở các vùng
kinh tế trọng điểm của tỉnh. Hiện nay, NHCT đã và đang triển khai chương trình
“Hiện đại hóa Ngân hàng” trong phạm vi cả nước. Đây là chương trình hiện đại,
tiên tiến nhất, mang lại nhiều tiện ích và sản phẩm ngân hàng mới như: gửi tiền
một nơi, rút tiền nhiều nơi, chuyển tiền nhanh tức thời; giao dịch trực tuyến trên
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình18
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
toàn quốc, Internet Banking (Vấn tin tài khoản, giao dịch chuyển khoản trên
Internet). Đội ngũ cán bộ, nhân viên nghiệp vụ giỏi, phương tiện, kỹ thuật và công
nghệ hiện đại phục vụ mọi yêu cầu của khách hàng.
II. VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG:
1. Vai trò:
+ Góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh đồng thời cũng thực hiện tốt
chính sách của Nhà nước tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của đất nước.
+ Đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn cho các ngành nghề như: nông, lâm, ngư
nghiệp; thương mại; dịch vụ; xây dựng và công nghiệp.
2. Chức năng:
Ngân hàng Công thương có chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ
Ngân hàng đối với các thành phần kinh tế, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp,
giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp và dịch vụ (điều 2 Quyết định 402-CT
ngày 14 - 11 - 1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng - nay là Thủ tướng Chính
phủ - về thành lập Ngân hàng Công thương Việt Nam).
Là một Ngân hàng quốc doanh, nguồn vốn chủ yếu là lấy từ ngân sách Nhà
nước nhưng để phát huy vai trò chủ động trong nền kinh tế thị trường, NHCT vẫn
có tính chất của một NHTM. Chẳng hạn trong hoạt động của mình NHCT được
thực hiện các nghiệp vụ như huy động vốn, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ
có giá, kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế và các hoạt động ngân quỹ.....
III. CƠ CẤU TỔ CHỨC:
1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức:
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình19

3/ Thực hiện công tác liên quan đến thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử liên
ngân hàng
4/ Quản lý thông tin và khai thác thông tin
5/ Thực hiện chức năng kiểm soát các giao dịch trong và ngoài quầy theo thẩm
quyền, kiểm soát lưu trữ chứng từ, tổng hợp liệt kê giao dịch trong ngày, đối
chiếu, lập báo cáo và phân tích báo cáo cuối ngày của giao dịch viên, làm các báo
cáo, đóng nhật ký theo quy định
6/ Đảm bảo an toàn bí mật các số liệu có liên quan theo quyết định của ngân
hàng
7/Tổ chức hạch toán đầy đủ, kịp thời, chính xác và trung thực mọi nghiệp vụ
phát sinh vào các tài khoản thích hợp, tham mưu cho Ban Giám đốc trong việc
thực hiện chế độ tài chính, kế toán, đúng với quy định của Nhà nước, của ngành
Ngân hàng.
8/ Lập kế hoạch chi thu tài chính, kế hoạch mua sắm tài sản, vốn xây dựng cơ
bản… hàng quý, năm phù hợp với yêu cầu kinh doanh của Chi nhánh, trình Ban
Giám đốc xét duyệt.
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình20
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
9/ Tính và trích nộp thuế, bảo hiểm xã hội theo quy định. Là đầu mối trong
quan hệ với cơ quan thuế, tài chính.
10/ Thực hiện tốt công tác thanh toán liên hàng nội bộ giữa các chi nhánh
NHCT và tham gia thanh toán bù trừ. Tổ chức quản lý và sử dụng ký hiệu mật
thanh toán liên hàng đảm bảo cho việc thanh toán an toàn, đúng chế độ, không để
sai sót, cơ sở và bị lợi dụng.
11/ Phối hợp với các phòng có liên quan phân tích đánh giá kết quả hoạt động
kinh doanh của chi nhánh để trình Ban lãnh đạo chi nhánh quyết định mức trích
lập Quỹ dự phòng rủi ro theo các hướng dẫn của NHCT VN
12/ Phối hợp với phòng Tổ chức hành chính, xây dựng nội qui quản lý, sử dụng
trang thiết bị tại chi nhánh
13/ Tổ chức học tập nâng cao trình độ của cán bộ phòng

2/ Tổ chức huy động vốn của dân cư (Bằng VND và ngoại tệ) theo quy định của
NHNN và NHCT
3/ Tiếp thị, hỗ trợ khách hàng, phát triển các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng
đến các khách hàng
4/ Thẩm định và xác định hạn mức tín dụng (bao gồm: cho vay, tài trợ thương
mại, bảo lãnh, thấu chi) cho 1 khách hàng trong phạm vi được ủy quyền của chi
nhánh, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; Quản lý các hạn mức đã đưa ra theo
từng khách hàng
5/ Thực hiện nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh và xử lý giao dịch
6/ Nắm cập nhật phân tích toàn diện về thông tin khách hàng theo quy định
7/ Quản lý các khoản vay, cho vay, bảo lãnh; Quản lý tài sản đảm bảo
8/ Theo dõi phân tích, quản lý thường xuyên hoạt động kinh tế, khả năng tài
chính của khách hàng vay vốn, xin bảo lãnh để phục vụ công tác cho vay, bảo lãnh
có hiệu quả
9/ Điều hành và quản lý lao động, tài sản, tiền vốn huy động tại các Quỹ tiết
kiệm, Điểm giao dịch
10/Thực hiện nghiệp vụ về Bảo hiểm nhân thọ và các loại bảo hiểm khác theo
hướng dẫn của NHCT Việt Nam
11/ Báo cáo, phân tích tổng hợp kế hoạch… theo khách hàng, nhóm khách hàng
theo sản phẩm dịch vụ, đề xuất định hướng đầu tư tín dụng trong từng thời kỳ
12/ Theo dõi việc trích lập dự phòng rủi ro theo quy định
13/ Làm các báo cáo theo chức năng nhiệm vụ của phòng, lưu trữ hồ sơ số liệu
theo quy định
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình22
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
14/ Làm công tác khác khi được Giám đốc giao
2.5. Phòng tổ chức hành chính:
1/ Thực hiện quy chế của Nhà nước và của Ngân hàng Công thương có liên
quan đến chính sách cán bộ về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế….
2/ Thực hiện quản lý lao động, tuyển dụng lao động, điều động, sắp xếp cán bộ

của Ngân hàng cấp trên. Có bảng cân đối kế toán riêng, thực hiện chế độ báo cáo
theo quy định của Giám đốc NHCT tỉnh.
3/ Thực hiện công tác tiền tệ-kho quỹ, đảm bảo an toàn thu chi tiền mặt và
quản lý các loại chứng từ ấn chỉ có giá theo quy định của Ngân hàng cấp trên.
4/ Quản lý an toàn tài sản, tranh thiết bị, phương tiện làm việc theo chế độ hiện
hành.
5/ Trước quý kế toán ít nhất 20 ngày phải lập cân đối vốn kinh doanh, kế hoạch
thu chi tài chánh, mua sắm tài sản gửi các phòng nghiệp vụ tại chi nhánh để tổng
hợp.
6/ Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế và chủ trương phát triển kinh tế của
cấp ủy, chính quyền địa phương để xây dựng kế hoạch huy động vốn, kế hoạch
đầu tư đúng hướng, phù hợp chế độ thể lệ tín dụng hiện hành. Nghiên cứu tham
mưu cho Giám đốc những vấn đề thuộc về chiến lược khách hàng nhằm thu hút
được nhiều khách hàng gửi tiền và vay tiền. Từng bước thực hiện các nghiệp vụ
kinh doanh đa dạng khác: ngoại hối, vàng bạc, cầm đồ, thuê mua… tiến tới hoạt
động kinh doanh có lãi.
7/ Phối hợp với phòng kiểm soát tổ chức tự kiểm tra nghiệp vụ huy động vốn
sử dụng vốn. Đề xuất những biện pháp xử lý kịp thời để ngăn ngừa những hiện
tượng tiêu cực.
8/ Tổ chức bảo vệ an toàn trụ sở làm việc của Phòng giao dịch. Bảo quản sử
dụng an toàn vũ khí được trang bị cho công tác bảo vệ cơ quan. Tổ chức công tác
phòng chống cháy nổ, chống đột nhập.
IV. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH:
Trong thời gian qua tình hình kinh tế có những chuyển biến phức tạp, giá cả các
mặt hàng đều leo thang đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của
các ngân hàng. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các tổ chức tín
dụng trên địa bàn cũng là mối quan tâm của ban lãnh đạo Ngân hàng Công
Thương Kiên Giang. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh của NHCT KG vẫn tiếp tục
duy trì ổn định. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng qua ba năm: 2003,
2004, 2005 có được thể hiện qua bảng sau:

đáng mừng cho hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên tốc độ tăng chi phí là cao hơn
tốc độ tăng thu nhập. Tỉ lệ tăng thu nhập của năm 2005 so với năm 2004 là 74,5%
trong khi đó tỉ lệ tăng chi phí là 87,6%. Chính điều này đã làm cho tốc độ tăng thu
nhập ròng của năm 2005 không mạnh. Nguyên nhân của sự tăng chi phí là do ngân
hàng tăng chi phí cho hoạt động huy động vốn nhằm thu hút khách hàng như tiết
kiệm dự thưởng, kỳ phiếu dự thưởng.... Đồng thời cũng do ngân hàng tăng cường
cơ sở vật chất cho các hoạt động dịch vụ và công tác thanh toán như hệ thống máy
tính, máy rút tiền tự động..., gia tăng lãi suất tiền gửi để phù hợp với tình hình
chung.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng không những đem lại lợi nhuận
cho ngân hàng mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà, đóng góp
cho ngân sách Nhà nước và góp phần vào hiệu quả hoạt động của hệ thống Ngân
hàng trong cả nước.
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình25

Trích đoạn Phân tích thu nhập: Phân tích chi phí: Phân tích các chỉ số đo lường lợi nhuận: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH MỘT SỐ BIỆN PHÁP: 1.Về huy động vốn:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status