phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh hà thành - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
***
PHẠM TIẾN THÀNH
PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
CHI NHÁNH HÀ THÀNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2014 P
H

M

T
I

N

T
H
À
N
H
H

T

L

P

C
H
1
8
B

T

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Phạm Tiến Thành
i
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
B GI O D C V O T OỘ Á Ụ À ĐÀ Ạ 1
B GI O D C V O T OỘ Á Ụ À ĐÀ Ạ 2
ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
CBCNV Cán bộ công nhân viên
Chi nhánh Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành
CHLB Nga Cộng hoà Liên bang Nga
CVTD Cho vay tiêu dùng
MHB Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long
NHBL Ngân hàng bán lẻ
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHQ Nợ quá hạn
OCB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông
Seabank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á
TCTD Tổ chức tín dụng
Techcombank Ngân hàng Kỹ thương

nghiệp 80
1.5. Tạo lập nền tảng khách hàng bền vững và đa dạng hóa 81
1.6. Nâng cao hiệu quả kinh doanh đối ngoại, chủ động cho quá trình hội nhập81
1.7. Đột phá trong ứng dụng cng nghệ ngân hàng 81
Biu 2.11: Cho vay mua ụ tụ Error: Reference source not found
iv
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong thời đại quốc tế hóa và toàn cầu hóa hiện nay các Ngân hàng
thương mại có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, nhất là
sau khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới WTO.
Công cuộc đổi mới đã tạo cơ hội cho sự phát triển rất nhiều hoạt động kinh tế,
nổi bật phải kể đến lĩnh vực tài chính ngân hàng, với sự bùng nổ các NHTM
cổ phần trong nước và các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian
qua. Các ngân hàng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ chính các
ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính như: các công ty bảo hiểm, công ty
chứng khoán…. Do đó thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào
năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực
hiện các dịch vụ đó một cách hiệu quả và bán chúng với một mức giá cạnh
tranh. Sức mạnh của cạnh tranh làm thay đổi dịch vụ mà ngân hàng cung ứng,
thay đổi vai trò của các NHTM trong hệ thống tài chính, từ đó dẫn đến thay
đổi cơ cấu của các NHTM. Như vậy, để tăng tính cạnh tranh của các NHTM
cần phải phát triển một cách toàn diện hoạt động của ngân hàng cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu. Bên cạnh việc phát triển những dịch vụ mới như tư vấn tài
chính, bảo hiểm, các ngân hàng còn phát triển dịch vụ cũ theo hướng mới, đặc
biệt là cho vay tiêu dùng.
Trước đây, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay với cá nhân và
hộ gia đình vì ngân hàng cho rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có
quy mô rất nhỏ nhưng rủi ro vỡ nợ tương đối cao, do đó làm cho chúng trở
nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế kỷ 20, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều

quả hoạt động tín dụng và sức cạnh tranh của các NHTM, đồng thời đưa ra
2
một số giải pháp để thực hiện phát triển sản phẩm cho vay này tại Chi nhánh
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành. Để đạt được mục tiêu đó, luận
văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng là đòi hỏi tất yếu
trong quá trình hội nhập và phát triển của các NHTM. Hệ thống hóa và xác
định rõ những nội dung kiến thức cần được trang bị để có thể phát triển CVTD.
- Đánh giá thực trạng việc phát triển cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành trong thời gian qua. Những kết quả
đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân.
- Trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp thiết thực nhằm đẩy mạnh việc phát
triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh Hà Thành trong những năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn lấy hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành làm đối tượng nghiên cứu trực
tiếp. Từ đó, đề xuất các giải pháp thực hiện việc phát triển cho vay tiêu dùng
trong giai đoạn tới.
Các nghiệp vụ cho vay tiêu dùng được trình bày trong luận văn là các
sản phẩm hiện có của các NHTM cũng như các sản phẩm mới được đề xuất
áp dụng trong tương lai.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu CVTD tại Chi nhánh NH
ĐT&PT Hà Thành trong giai đoạn 2009 đến 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp biện
chứng và lôgic trong khái quát tổng quan và phân tích luận giải vấn đề, đồng
thời cũng sử dụng phương pháp phân tích thống kê, phương pháp phân tích
hoạt động kinh tế, lí thuyết hệ thống… để phân tích lý luận và luận giải thực
tiễn liên quan.
3

nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. NHTM là cầu nối
giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan
thiếu. Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc
biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn,
và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của NHTM. Hoạt động của
NHTM phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại
hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
5
Theo Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/10/1998 được
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 2
thông qua ngày 12/12/1997 đã quy định:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính
chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương
mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân
hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.
“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP định nghĩa về Ngân hàng thương mại:
“Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu
lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác
của pháp luật”.
Từ những cách định nghĩa khác nhau trên về Ngân hàng, có thể rút ra:
- Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính làm cầu nối giữa
những người tiết kiệm và đầu tư.
- Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh
vực đặc biệt- đó là tiền tệ, tín dụng và thanh toán. Vì vậy có thể nói các ngân
hàng thương mại là những doanh nghiệp đặc biệt. Thể hiện ở số vốn điều lệ,

và ngoài nước bằng cách chủ động phát hành kỳ phiếu hay trái phiếu ngân
hàng. Ngoài ra, NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư;
chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái
7
phiếu công, hoặc vay vốn từ các NHTM khác, vay nước ngoài, vay Ngân
hàng Trung ương dưới hình thức tái chiết khấu.
b. Hoạt động sử dụng vốn
Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sẽ sử dụng vốn đó để
cho vay, đầu tư và thực hiện hoạt động ngân quỹ. Hoạt động ngân quỹ của
ngân hàng là nhằm bảo đảm khả năng chi trả hoặc thanh toán thường xuyên
cho khách hàng. Thông qua việc đầu tư trở lại cho nền kinh tế, ngân hàng sẽ
hỗ trợ cho nhu cầu chi tiêu hàng hoá, dịch vụ, xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật làm tăng năng suất lao động, nâng cao mức sống xã hội. Trong nghiệp
vụ sử dụng vốn, cho vay là hoạt động chủ yếu của Ngân hàng và cũng là
nguồn mang lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Bên cạnh đó, đầu tư cũng
là hoạt động mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, theo đó, ngân hàng sẽ sử
dụng nguồn vốn của mình để đầu tư vào các chứng khoán mà ngân hàng lựa
chọn. Các hình thức cho vay và đầu tư hết sức đa dạng, tuỳ theo các tiêu thức
mà người ta phân chia chúng thành nhiều loại khác nhau.
c. Hoạt động thanh toán
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động thanh toán
qua ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng. Chức năng làm trung gian
thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán của NHTM có nghĩa là ngân
hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài
khoản. Khi các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an
toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện
lợi, nhất là đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn, ở mọi địa phương mà
nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ như
chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản…)
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu

cho vay của NHTM. Theo định nghĩa trong Giáo trình Tín dụng Ngân Hàng
của Học viện Ngân hàng:
Hoạt động cho vay của NHTM là quan hệ vay trả bằng tiền tệ giữa một
bên là ngân hàng (bên cho vay) với một bên là doanh nghiệp, tổ chức, hay
các cá nhân trong xã hội (bên đi vay); theo đó, ngân hàng chuyển giao một
lượng tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định như thoả
thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân
hàng khi đến hạn thanh toán.
Như vậy, hoạt động cho vay của ngân hàng đó là quan hệ vay mượn có
hoàn trả gốc và lãi sau một khoảng thời gian nhất định, là quan hệ chuyển
nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, trong quan hệ này hai bên bình đẳng và
cùng có lợi. Cho vay nói chung là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi
vay, nhưng khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng thì thường
chỉ bao hàm nghĩa cho vay. Cho vay là hoạt động đem lại thu nhập chủ yếu
cho ngân hàng truyền thống. Lãi suất thu được từ cho vay sẽ dùng để bù đắp
chi phí tiền gửi, chi phí dữ trữ bắt buộc, chi phí kinh doanh, chi phí quản lý,
chi phí thuế và các khoản chi phí khác. Với vai trò quan trọng như vậy,
NHTM có rất nhiều hình thức cho vay khác nhau để đáp ứng nhu cầu của các
tổ chức kinh tế và các cá nhân nhằm thu được lợi nhuận mong muốn.
10
1.1.2.2. Phân loại cho vay của ngân hàng thương mại
Có nhiều cách phân loại cho vay khác nhau tuỳ theo các tiêu chí dựa
trên yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là
một số cách phân loại:
a. Căn cứ theo thời gian, gồm 3 loại
- Cho vay ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống
- Cho vay trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm
- Cho vay dài hạn: Trên 5 năm
Thời hạn cho vay thường được xác định cụ thể và ghi trong hợp đồng tín
dụng, là thời hạn trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một khoản

tài chính quan trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng
gia đình, xe cộ và nhu cầu khác Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu
giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng
Ngoài các hình thức chủ yếu trên còn có các hình thức cho vay khác
tuỳ vào điều kiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đặc điểm của khách
hàng vay như theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp ), theo đối tượng tín
dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định)
1.1.2.3. Quy trình cho vay của ngân hàng thương mại
Quy trình cho vay là trình tự tổ chức thực hiện các nội dung cơ bản của
kỹ thuật nghiệp vụ cho vay của ngân hàng từ khi phát sinh đến khi thu hồi đầy
đủ một món vay. Việc áp dụng quy trình cho vay tốt sẽ giúp ngân hàng thực
hiện được một khoản vay có chất lượng và đạt hiệu quả như mong muốn.
Quy trình cho vay gồm các bước như sau :
- Hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và lập hồ sơ vay vốn;
- Điều tra, thu thập, tổng hợp các thông tin về khách hàng và phương án
vay vốn;
12
- Phân tích thẩm định khách hàng và phương án vay vốn;
- Quyết định cho vay;
- Kiểm tra và hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và hồ sơ tài sản bảo đảm (hồ
sơ tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh);
- Phát tiền vay;
- Giám sát khách hàng sử dụng vốn vay;
- Thu hồi nợ và gia hạn nợ;
- Xử lý rủi ro xảy ra;
- Thanh lý hợp đồng tín dụng.
1.2. Cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng (CVTD) là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu
cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một

của các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. Lãi suất
CVTD cao còn do các khoản CVTD thường có rủi ro cao trong danh mục cho
vay của ngân hàng.
Lãi suất CVTD thường được cố định, không linh hoạt như các khoản
cho vay kinh doanh khác, căn cứ trên lãi suất huy động đầu vào. Đây là yếu tố
tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng khi lãi suất huy động tăng, nhưng các khoản cho
vay tiêu dùng thường được định giá rất cao. Lãi suất CVTD cao như vậy là do
các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí lớn và rủi ro cao trong danh mục cho
vay của ngân hàng. Mỗi hợp đồng vay vốn tiêu dùng thường có giá trị nhỏ hơn
nhiều so với giá trị các hợp đồng vay khác, vì vậy chi phí tổ chức cho vay cao.
Cho vay tiêu dùng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế
tăng trưởng mạnh, mọi người tin tưởng rằng trong tương lai mình sẽ có nhiều
tiền hơn nên nhu cầu tiêu dùng cũng sẽ lớn hơn do vậy việc cho vay phát triển.
Ngược lại, thời kỳ kinh tế suy thoái, người dân sẽ có xu hướng tiết kiệm hơn là
14
tiêu dùng nên họ sẽ hạn chế hơn nhu cầu tìm kiếm các khoản vay từ ngân hàng.
Do vậy CVTD kém phát triển hơn. Việc cho vay tiêu dùng hầu như ít co dãn
với lãi suất. Thông thường, người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán
hơn là lãi suất mà họ phải chịu. Ngoài ra, mức thu nhập và trình độ học vấn là
hai biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng.
Thông thường thu nhập hàng tháng và trình độ học vấn càng cao thì nhu cầu
vay để phục vụ tiêu dùng hiện tại của khách hàng càng cao.
Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không
cao. Đối tượng khách hàng thường là cá nhân, sự hiểu biết về lĩnh vực cho
vay của ngân hàng thấp. Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định song
lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay.
Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc
vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc và lĩnh vực
làm việc của những người này. Đây là những nguyên nhân chủ yếu có thể gây
rủi ro cho ngân hàng.

a. Căn cứ thời hạn vay
* CVTD ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống
Hình thức vay ngắn hạn dưới 12 tháng của cho vay tiêu dùng chủ yếu là
cho vay thấu chi và cho vay cán bộ công nhân viên, họ cần tiền để bù đắp nhu
cầu chi tiêu thiếu hụt tạm thời và sẽ hoàn trả trong thời gian ngắn.
* CVTD trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm
Cho vay này tính từ khi nhận tiền vay đến khi hoàn trả khoản vay cuối
cùng là trên 1 năm và dưới 5 năm. Thông thường các hình thức cho vay như:
cho vay mua ô tô, cho vay xây nhà, cho vay hỗ trợ du học và lao động xuất
khẩu đều là CDTD trung hạn.
* CVTD dài hạn: Trên 5 năm
Hình thức cho vay này thực tế rất ít và do thời gian dài nên rủi ro cho
ngân hàng cao. Chủ yếu là cho vay mua đất làm nhà hoặc cho vay xây dựng
nhà ở.
Thông thường, cho vay tiêu dùng có thời hạn vay là ngắn hạn hoặc
trung hạn. Các sản phẩm cho vay tiêu dùng dài hạn là rất ít, chỉ mới có một số
ngân hàng triển khai. Việc phân chia CVTD theo thời gian có liên quan mật
thiết với phương thức hoàn trả của khoản vay đó.
b. Căn cứ phương thức hoàn trả
Theo phương thức này, CVTD gồm CVTD trả góp và CVTD phi trả góp.
* CVTD trả góp
CVTD trả góp là khoản cho vay trong đó người đi vay phải trả cho
ngân hàng bao gồm cả gốc và lãi làm nhiều lần, theo từng kỳ hạn nhất định
trong thời hạn cho vay. Loại cho vay này thường áp dụng đối với những
16
khoản vay lớn và thời hạn vay dài như vay để mua nhà, mua ôtô
Đối với CVTD trả góp, các ngân hàng thường chú ý tới một số nội
dung cơ bản, có tính nguyên tắc sau:
• Loại tài sản được tài trợ
Thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn rất nhiều nếu tài sản hình

• Chi phí tài trợ
Chi phí tài trợ (Finance charge) là chi phí mà người đi vay phải trả cho
ngân hàng để được sử dụng vốn. Chi phí tài trợ chủ yếu bao gồm lãi vay và
các chi phí khác có liên quan. Chi phí tài trợ phải trang trải cho được chi phí
vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro, đồng thời mang lại một phần lợi nhuận
thoả đáng cho ngân hàng.
• Điều khoản thanh toán:
Khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của
khách hàng, ngân hàng thường chú ý tới một số vần đề sau:
+ Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phải phù hợp với khả năng về thu
nhập, trong mối quan hệ hài hoà với các nhu cầu chi tiêu khác của khách
hàng;
+ Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng. Kỳ hạn
trả nợ thường theo tháng. Vì thông thường, nguồn trả nợ chính của người vay
tiêu dùng là lương, được nhận hàng tháng;
+ Thời hạn tài trợ không nên quá dài. Thời hạn tài trợ bị giới hạn bởi
thời gian hoạt động của tài sản tài trợ. Thời hạn tài trợ quá dài dễ làm giá trị
tài sản tài trợ bị giảm mạnh. Hơn nữa, khi thời hạn tài trợ quá dài thì thiện chí
trả nợ của người đi vay cũng như việc thu hồi nợ thường gặp nhiều rắc rối.
* CVTD phi trả góp (trả một lần)
18
CVTD phi trả góp là khoản cho vay trong đó khách hàng chỉ thanh
toán cho ngân hàng một lần khi đến hạn. Quy mô của những khoản vay này
tương đối nhỏ, thời gian vay thường là ngắn hạn. Phần lớn các khoản vay
loại này được dùng để chi trả tiền viện phí, mua sắm vật dụng gia đình, sửa
chữa nhà, ôtô
* CVTD tuần hoàn
CVTD tuần hoàn là các khoản CVTD trong đó ngân hàng cho phép
khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi
dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status