vấn đề dân tộc và tôn giáo ở việt nam TẢI HỘ 0984985060 - Pdf 22

Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
LỜI MỞ ĐẦU
Dân tộc bản địa (Thổ dân, Dân bản xứ), Dân tộc thiểu số bản địa, bộ lạc, bộ
tộc, sắc tộc, tộc người, dân tộc thiểu số, dân tộc ít người Sự tồn tịa nhiều thuật ngữ
đó, do những nguyên nhân gắn liền với sự phát triển của các dân tộc trên thế giới và
sự xáo trộn của mỗi nước qua các thời kỳ biến thiên lịch sử; như nước Mỹ, trước kia
là nơi sinh sống của các bộ lạc người Anh Điêng, bị người Châu Âu xân nhập vào
thế kỷ XV, XVI, đến ngày 14/7/1776, 13 bang thuộc địa của Anh đã thống nhất lại
thành hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Do đó ở nước Mỹ, người da trắng chiếm hơn 80%,
còn các nhóm người khác đã sinh sống ở đây từ trước, họ gọi là dân bản địa (thổ
dân, dân bản xứ); Bộ tộc là thuật ngữ, chỉ sự phân biệt màu da hoặc sắc thái văn hoá
hoặc để chỉ dân tộc thiểu số nói chung; Dân tộc ít người hoặc cộng đồng người này,
cộng đồng người kia là ám chỉ người có nguồn gốc từ nhiều nước đến nhưng số
lượng ít hơn so với dân tộc chủ thể của nước đó; dân tộc thiểu số là thuật ngữ mà
Trung Quốc sử dụng trong mối quan hệ giữa dân tộc thiểu số và người Hán.
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội. Đặc điểm quan trọng trong ý thức tôn
giáo là một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội. Mặt khác, nó lại có xu hướng phản kháng
lại xã hội đã sản sinh ra và nuôi dưỡng nó. Vì vậy, từ khi ra đời đến nay, cùng với sự
biến đổi của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo.
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: DHHD7TH

SVTT: Lê Thị Thúy Trang: 1
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
NỘI DUNG
PHẦN I: DÂN TỘC
I. DÂN TỘC VÀ HAI XU HƯỚNG KHÁCH QUAN CỦA DÂN TỘC
1. Khái niệm dân tộc
Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa:
- Nghĩa hẹp: Dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền
vững, có chung sinh họat kinh tế, có ngôn ngữ riêng, có những nét đặc thù về văn
hóa; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc

và chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức, đấu tranh chống kỳ thị dân tộc, phân biệt
chủng tộc. Trong thời đại ngày nay, các dân tộc còn bị cuốn hút vào xu hướng liên
minh, liên kết quốc tế và khu vực vì các lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học
kỹ thuật… mở cửa, hòa nhập cũng là một xu thế chủ yếu trong mối quan hệ giữa các
dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: DHHD7TH

SVTT: Lê Thị Thúy Trang: 3
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
Đảng lập, tự chủ đi đôi với mở Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Giữ vững
độc rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” là nguyên
tắc thống nhất lối ngoại của Đảng và Nhà nước ta ( Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ VII, Nxb CTQG, HN 1996, tr 84).
II. ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC
VN ta có hơn 60 dân tộc anh em,mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng
tạo nên sự khác biệt với các dân tộc khác. Có 4 tiêu chí của tộc người.:
1.Ngôn ngữ dân tộc là 1 giá trị văn hoá đặc biệt
Ngôn ngữ là công cụ cơ bản cho sự cộng đồng các cá nhân bao gồm vào 1 tộc
người phù hợp, phân định họ với đại bộ phận các tộc người khác.Hay nói 1 cách dể
hiểu thì ngôn ngữ là dấu hiệu cơ bản để người ta phân biệt các dân tộc khác nhau.
Thật vậy, nếu ta lắng nghe ngưởi khác nói tiếng việt đúng,hay thì ta cho người đó là
người Việt. Hoặc khi những người không quen biết nhưng cùng chung 1 tộc người
gặp nhau đâu đó ngoài biên giới quốc gia thì người ta dễ nhận biết nhau qua ngôn
ngữ.
Như 1 quy tắc, tất cả các thành viên gắn bó với nhau trong 1 tộc người thì
cùng nói 1 thứ tiếng. Đó được gọi là tiếng mẹ đẻ. Nhưng đều đó không có nghĩa trên
thế giới có bao nhiêu tộc người thì có bay nhiêu ngôn ngữ.
Thực tế cho thấy, có nhiều ngôn ngữ của tộc người khác lại được sữ dụng với
tư cách là ngôn ngữ tộc người.có 1 số ngôn ngữ (chủ yếu là ngôn ngữ châu âu)được
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: DHHD7TH

Nha, người Bồ Đào Nha và một số dân tộc khác ở Tây Âu trong sự cách li của họ
vào thời kỳ thực dân ( thế kỷ XVI —> XIV), trong các nước xâm lược đất đai của
các cư dân bản đại Bắc và Nam Mĩ, châu Phi, châu Đại Dương.
Có nước mở rộng lãnh thổ thì sẽ cĩ nước bị thu hẹp lãnh thổ vì theo quy luật.
Lãnh thổ bị suy giảm do nguyên nhân chiến tranh hủy diệt, dịch bệnh… hoặc l bị
tiêu vong của đại bộ các dân tộc ở các nước châu Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương.
Trong lịch sử có tình trạng một dân tộc đã hình thành trên một lãnh thổ xác
định, rồi trong bước tiếp theo, một bộ phận và có khi là bộ dân tộc phải rời bỏ lãnh
thổ cư trú ở những nước khác.
3. Cơ sở kinh tế của dân tộc
Để hình thành một tập thể lớn những con người nói một ngôn ngữ, điều cần
thiết không chỉ có một lãnh thổ chung m giữa họ cịn cĩ sự cộng đồng kinh tế rộng
lớn.
Mỗi dân tộc trong cơ cấu tập thể của nhân lọai có mối liên hệ với nhau về mặt
kinh tế.
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: DHHD7TH

SVTT: Lê Thị Thúy Trang: 6
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
Vd: Người Tasman có khỏang 30 – 40 người, có nhiều ở chu Đại Dương là 50
– 60 người. Các nhóm này du cư trong một lãnh thổ xác định. Chỉ có trên lãnh thổ
địa phương mới có thể săn bắn, đánh cá và hái lượm.
Ngày nay, không có một tộc người nào và không có ngay cả một nhóm địa
phương nào lại chỉ điểu chỉnh về mặt kinh tế từ phía những láng giềng của mình.
Song, trong quan hệ kinh tế với tộc người đã xuất hiện sự đứt gẫy do tác động của
những điều kiện khách quan và chủ quan. Ngay cả những cư dân giữ gìn và mở rộng
vng cư trú của mình thì những nhĩm riêng biệt của họ, đặc biệt là những nhóm sống
ngòai đất nước thường mất đi những mối liên hệ kinh tế trực tiếp. Chẳng hạn, những
người Nga sống ngòai lãnh thổ Nga, người Anh sống ngòai lãnh thổ Anh từ có mối
liên hệ vế mặt kinh tế nhiều với cư dân láng giềng khác hơn là giữa họ với nhau.

rối ở Tây Nguyên tháng 2/2001 đã chứng minh điều đó. Đồng bào các dân tộc đều
đã cực lực lên án và chống lại bọn phản động lợi dụng vấn đề dân tộc để hoạt động
trái với Chính sách và Pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, hòng kích động chia rẽ
các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ "nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng
sinh sống trên đất nước Việt Nam". Các dân tộc thực hiện quyền làm chủ của mình
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: DHHD7TH

SVTT: Lê Thị Thúy Trang: 8
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
bằng hai hình thức, trực tiếp và đại diện. Dân chủ đại diện qua hệ thống cơ quan dân
cử cho thấy: Đại biểu Quốc hội khóa X là người dân tộc thiểu số chiếm 17,3%, đại
biểu Hội đồng nhân dân tỉnh chiếm 18,2%, huyện chiếm 18,7%, xã chiếm 22,7% so
với tổng số đại biểu dân cử cấp đó. Điều đó đã thể hiện được sự bình đẳng giữa các
dân tộc trong việc tham gia quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, so với đồng bằng và vùng đã phát triển tương đối thì miền núi và
vùng dân tộc thiểu số còn là vùng khó khăn nhất, hãy còn nhiều kẽ hở để bọn phản
động dễ lợi dụng, khoảng cách còn khá xa, tỷ lệ đói nghèo trong đồng bào dân tộc
thiểu số còn cao; đã xuất hiện những hiện tượng chệch hướng, nếu trong thời gian
tới không có những giải pháp hữu hiệu có thể khoảng cách đó còn xa hơn nữa sẽ
không có lợicho sự ổn định phát triển bền vững của đất nước.
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội IX ở vùng dân tộc thiểu số, chúng
tôi hoàn toàn tán thành với những nội dụng đã được trình bày trong bản báo cáo
Chính trị của Ban chấp hành Trung ương. Xin kiến nghị và nhấn mạnh một số vấn
đề sau:
1. Phát triển kinh tế-xã hội ở vùng dân tộc thiểu số phải tăng trưởng với tốc độ
cao hơn mức bình quân chung của cả nước mới có thể từng bước thu hẹp khoảng
cách giữa các dân tộc và các vùng, quan tâm đến từng vùng và từng dân tộc, tiến tới
sự bình đẳng thực sự trên bình diện kinh tế-chính trị, xã hội…

PHẦN II. TÔN GIÁO
1. Khái niệm
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay.
Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống
chính trị, văn hoá, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của
nhiều dân tộc, quốc gia.
Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí địa lý
nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối
giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các
luồng văn hoá, các tôn giáo trên thế giới.
2. Bản chất tôn giáo
- Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó. Việc đặt
ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong thời gian gần
đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi câu hỏi này được đặt
ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
riêng biệt. Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá sớm nhưng
bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX Tôn giáo là một sản
phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã khẳng định: “Con người
sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”. Tôn giáo là một thực
thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức
tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Về mặt nội dung, nội dung cơ bản
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: DHHD7TH

SVTT: Lê Thị Thúy Trang: 11
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng.
Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người
vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những nghi thức,
những sự kiêng kỵ…- Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể
bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói

3.2. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Để giải thích nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cần phải làm rõ lịch sử nhận
thức và các đặc điểm của quá trình nhận thức dẫn đến việc hình thành quan niệm tôn
giáo.
Trước hết, lịch sử nhận thức của con người là một quá trình từ thấp đến cao,
trong đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận thức tự nhiên cảm tính. Ở giai đoạn nhận
thức này (nhất là đối với cảm giác và tri giác), con người chưa thể sáng tạo ra tôn
giáo, bởi vì tôn giáo với tư cách là ý thức, là niềm tin bao giờ cũng gắn với cái siêu
nhiên, thần thánh, mà nhận thức trực quan cảm tính thì chưa thể tạo ra cái siêu nhiên
thần thánh được. Như vậy, tôn giáo chỉ có thể ra đời khi con người đã đạt tới một
trình độ nhận thức nhất định. Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên kia… là sản
phẩm của những biểu tượng, sự trừu tượng hoá, sự khái quát dưới dạng hư ảo. Nói
như vậy có nghĩa là tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một trình độ nhận thức nhất định,
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: DHHD7TH

SVTT: Lê Thị Thúy Trang: 13
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
đồng thời nó phải gắn với sự tự ý thức của con người về bản thân mình trong mối
quan hệ với thế giới bên ngoài. Nhưng mỗi một hình thức mới của sự phản ánh
không những tạo ra những khả năng mới để nhận thức thế giới sâu sắc hơn mà còn
tạo ra khả năng “xa rời” hiện thực, phản ánh sai lầm nó. Thực chất nguồn gốc nhận
thức của tôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm chính là sự tuyệt đối hoá, sự
cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến nó thành cái không còn nội
dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”, nghĩa là cái siêu nhiên thần thánh
3.3. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố
tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự ra đời của tôn giáo. Họ đã đưa ra luận điểm” “Sự
sợ hãi sinh ra thần thánh”.Các nhà duy vật cận đại đã phát triển tư tưởng của các nhà
duy vật cổ đại - đặc biệt là L.Phơbách – và cho rằng nguồn gốc đó không chỉ bao
gồm những tình cảm tiêu cực (sự lệ thuộc, sợ hãi, không thoả mãn, đau khổ, cô


SVTT: Lê Thị Thúy Trang: 15
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp
với điều kiện và đặc điểm từng vùng từng dân tộc khai thác thuộc được thế mạnh
của địa phương mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng tổ quốc
Tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của
đồng bào các dân tộc, từng bước nâng cao dân trí nhất là các dân tộc thiểu số ở vùng
cao, hải đảo
Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết và đấu tranh kiên cương của các dân
tộc vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp,
nghiêm câm mọi hành vi miệt thị và chia rẽ dân tộc
Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, đồng thời
giáo dục tinh thần kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc. bởi vì chỉ tinh thần đó mới
phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất
nước, trong công cuộc đó , không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất
thân từ dân tộc, cần sự hỗ trợ lẫn nhau trong cả nước.
Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
đã đề ra chính sách dân tộc là " Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân
tộc, cùng tiến bộ". Chính sách đó đã được thể chế vào Hiến pháp, các luật cơ bản
của Nhà Nước Việt Nam.
Việc thực hiện Chính sách dân tộc đã đạt được một số kết quả như từ chỗ đều
bị áp bức bóc lột đã trở thành người làm chủ đất nước; đã tạo ra cơ sở hạ tầng phục
vụ sản xuất và đời sống rộng khắp trên mọi miền của đất nước; từ chỗ tự cung tự túc
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: DHHD7TH

SVTT: Lê Thị Thúy Trang: 16
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
đã hình thành một số vùng sản xuất có tính chất hàng hóa với quy mô ngày càng lớn;
sự nghiệp giáo dục, văn hóa, bảo vệ sức khỏe đã được phát triển rất mạnh so với

Như vậy về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc đảng và nhà nước ta mang
tính toàn diện tổng hỏp và quán xuyến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên
quan đến mỗi dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc trong cả cộng đồng quốc gia phát
triển kinh tế _xã hội của các dân tộc là nền tảng để tăng cường đoàn kết và thực hiện
quyền bình đảng dân tộc là cơ sở để tùng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ
phát triển giữa các dân tộc. Vấn đề tôn giáo trên thế giới hiện nay đang là một vấn đề
nóng, không chỉ riêng đối với Chủ nghĩa xã hội. Chính vì thế việc giải quyết các vấn
đề tôn giáo cần phải được đặt ra như là một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi phải có những
phương pháp giải quyết đúng đắn
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: DHHD7TH

SVTT: Lê Thị Thúy Trang: 18
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
PHẦN I: DÂN TỘC 2
I.DÂN TỘC VÀ HAI XU HƯỚNG KHÁCH QUAN
CỦA DÂN TỘC 2
II. ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC 4
1.Ngôn ngữ dân tộc là 1 giá trị văn hoá đặc biệt 4
2. Lãnh thổ dân tộc 5
3. Cơ sở kinh tế của dân tộc 6
4. Các đặc trưng sinh họat văn hóa và ý thức tự giác dân tộc 7
PHẦN II. TÔN GIÁO 11
PHẦN III. CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO CỦA
NƯỚC TA HIỆN NAY…………………………………………… …14
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: DHHD7TH

SVTT: Lê Thị Thúy Trang: 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status