Vấn đề giảm phát và kích cầu ở Việt Nam - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
lời mở đầu
Lạm phát và giảm phát là những vấn đề phức tạp cả về nhận thức lý luận và
thực tiễn. Nhiều nhà kinh tế đã cảnh báo về nguy cơ giảm phát toàn cầu bởi vì
giảm phát đợc hiểu là việc giảm liên tục nếu không khắc phục sẽ gây ra những tác
hại lớn hơn cả lạm phát, cụ thể là nó làm chậm lại tốc độ tăng trởng kinh tế. Do
vậy, nghiên cứu về vấn đề giảm phát đòi hỏi một quá trình lâu dài, một sự phân
tích mạch lạc, khách quan bởi chính bản chất phức tạp và kéo dài của giảm phát.
Trên thực tế, trừ trờng hợp các cuộc khủng hoảng chu kỳ hồi thế kỷ 19, giảm phát
rất ít khi là một hiện tợng tự phát, mà thờng là các biện pháp cố tình của Nhà nớc
nhằm hạn chế mạnh cầu và qua đó giảm những mất cân đối rất lớn. Ngày nay,
giảm phát lại đang là trở lực kéo nền kinh tế của nhiều nớc vào vòng xoáy suy
thoái. Vấn đề này đã và đang làm đau đầu nhiều nhà kinh tế học và các nhà lãnh
đạo trên thế giới, mặc dù đã có nhiều sự cố gắng suy nghĩ to lớn.
Trong một thế giới không có ranh giới, trong điều kiện thơng mại quốc tế,
kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển mạnh mẽ, Việt Nam cũng không thể tránh
khỏi những tác động khủng hoảng có tính chu kỳ và dây chuyền của kinh tế các n-
ớc. Tuy giảm phát ở nớc ta mới chỉ là nhất thời khó kèo dài với mức độ trầm trọng
song nếu không thoát khỏi vòng xoáy giảm phát thì triển vọng phát triển về
trung và dài hạn là hết sức khó khăn. Kích cầu là một biện pháp tất yếu phù hợp
với điều kiện kinh tế - xã hội trong nớc nhằm thúc đẩy tiêu dùng, thúc đẩy tăng tr-
ởng kinh tế, đồng thời kiểm soát đợc một cách chặt chẽ các yếu tố gây tác động
đến giá cả thị trờng theo hớng tích cực. Những vấn đề đợc nêu ra có thể nắm bắt đ-
ợc bằng trực giác nhng việc đi sâu nghiên cứu những mối quan hệ có tính định l-
ợng thờng xuyên giữa tiền tệ, sự tăng trởng và giá cả là một việc làm còn quá
nhiều mạo hiểm. Vì vậy, trong khuôn khổ một bài nghiên cứu khoa học, những
vấn đề đợc trình bày dới đây không nhằm kết thúc một sự phân tích ngắn gọn về
giảm phát và các biện pháp kích cầu mà chỉ để nhận thức đợc vai trò, tầm quan
trọng của chúng trong những mối liên kết của nền kinh tế hiện đại.
Trong quá trình thực hiện, bài viết của em không tránh khỏi có nhiều khiếm
khuyết do sự hiểu biết còn hạn hẹp, vì vậy em rất mong có sự đóng góp ý kiến của

tiền làm chất bôi trơn.
2-/ Nguyên nhân gây ra giảm phát.
Có hai nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tốc độ tăng trởng kinh tế của
một - 2 -nớc bị chậm lại.
Nguyên nhân thứ nhất thuộc tổng cầu: Tổng cầu xã hội giảm, thể hiện cụ
thể là vốn đầu t nớc ngoài giảm, đầu t trong nớc thấp. Thu nhập thực tế của ngời
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dân giảm làm cho sức mua kém, thêm vào đó cầu từ nớc ngoài giảm do ảnh hởng
của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
Nguyên nhân thứ hai thuộc tổng cung: lợng tiền cung ứng không đủ cho lu
thông. Hàng hoá nhiều, giá liên tục giảm nhng lợng ngời mua ít, cung hàng hoá
vẫn ở trong tình trạng lớn hơn cầu hàng hoá, hàng hoá ở trong tình trạng d thừa
không có thị trờng tiêu thụ. Bên cạnh đó, hàng nhập lậu trốn thuế từ bên ngoài vào
với số lợng lớn, giá rẻ hơn thoả mãn nhu cầu thị hiếu đã làm giảm sút nhu cầu đối
với hàng nội địa, chèn ép sản xuất trong nớc, làm gián đoạn thị trờng.
3-/ Hậu quả của giảm phát.
Bên cạnh khía cạnh tích cực của giảm phát là phản ánh sự tiến bộ trong công
nghệ sản xuất thì nỗi lo do các tác động xấu của giảm phát lớn hơn nhiều: nhu cầu
tiêu dùng suy giảm, năng lực sản xuất giảm... giảm phát cũng làm tăng gánh nặng
của các khoản nợ của từng doanh nghiệp và cả nền kinh tế.
Đối với một nền kinh tế có hiện tợng giảm phát, điều dễ nhận thấy là tất cả
các khâu của quá trình tái sản xuất gồm: sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng
đều ở trong trạng thái trì trệ. Các doanh nghiệp chỉ sản xuất cầm chừng, sản phẩm
làm ra ứ đọng. Sức cạnh tranh trên thị trờng yếu ớt.
Giảm phát sẽ gây cho nền kinh tế những tác hại to lớn. Ngời tiêu dùng sẽ trì
hoãn việc mua hàng với hy vọng giá ngày mai sẽ thấp hơn giá hôm nay. Tâm lý trì
hoãn mua hàng sẽ làm giảm mức cầu xã hội, buộc các nhà sản xuất phải tiếp tục
giảm giá hàng. Nếu tình hình ấy kéo dài, nhiều doanh nghiệp sẽ phải ngừng sản
xuất hoặc sập tiệm. Giá hàng hạ làm tăng mức d nợ thực tế của các doanh nghiệp

cần, hoặc là sản phẩm tạo ra không đáp ứng đợc nhu cầu thị hiếu, giá cả, chất lợng
của khách hàng trong và ngoài nớc.
Vậy kích cầu là gì ? Nói một cách đơn giản là kích thích nhu cầu tiêu dùng
hàng hoá và dịch vụ tạo ra. Nói theo mối quan hệ cung cầu hàng hoá, dịch vụ với
cung cầu tiền tệ, thì kích cầu chính là giải pháp nâng sức mua có khả năng thanh
toán bằng tiền của nền kinh tế nói chung và của nhân dân nói riêng.
Kích cầu hàng hoá và dịch vụ phải đợc thực hiện đối với cả hàng hoá là t liệu
sản xuất, hàng hoá là t liệu tiêu dùng, cả dịch vụ sản xuất và dịch vụ phục vụ đời
sống con ngời về mọi mặt. Kích cầu hàng hoá, dịch vụ cho sản xuất là kích thích
đầu t vốn vào xây dựng cơ sở vật chất và tăng vốn lu động vào sản xuất kinh
doanh, trong đó chủ yếu là sức mua về các t liệu sản xuất. Kích cầu về hàng hoá
và dịch vụ cho đời sống con ngời là kích thích sức mua để nâng mức tiêu dùng,
trong đó chủ yếu là hàng hoá tiêu dùng.
2-/ Nguyên nhân phải kích cầu:
Trong lịch sử phát triển các học thuyết kinh tế đã có nhiều lí luận về kích cầu
để giải quyết tình trạng khủng hoảng kinh tế kể từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng
kinh tế đầu tiên ở nớc Anh vào năm 1825.
Thomas Robert Malthus (1766-1834) là nhà kinh tế học ngời Anh thuộc trào
lu trọng cầu. Ông cho rằng khủng hoảng kinh tế xảy ra là do có sự giảm sút trong
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cầu, bởi vì, nhà t bản thì tiết kiệm quá mức, còn công nhân thì tiền lơng không đủ
để tiêu dùng hết hàng hoá sản xuất ra. Muốn thoát khỏi khủng hoảng thì phải kích
cầu.
Jean Charles Leonard Simonde de Sismondi (1773-1842) là một nhà kinh tế ng-
ời Pháp thuộc trờng phái kinh tế chính trị tiểu t sản. Khi phân tích khủng hoảng kinh
tế, ông đứng trên quan điểm trọng cầu. Ông cho rằng, khủng hoảng kinh tế xảy ra là
do tiêu dùng lạc hậu so với sản xuất, bởi vì có sự phân phối thu nhập không công
bằng. Ngoài ra tiêu dùng sụt giảm còn do: (1) Sự phá sản của những ngời sản xuất
nhỏ (nông dân, thợ thủ công, tiểu thơng, tiểu chủ...) khiến cho thu nhập của họ giảm

- Quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển:
Theo Malthus, phải phục hồi mức cầu của những ngời không sản xuất nh:
viên chức, quân nhân, thầy tu,... là những ngời không đè nặng lên chi phí sản xuất
của các nhà kinh doanh. Ông gọi đây là lớp ngời mua thứ ba, ngoài nhà t bản và
công nhân, để chống khủng hoảng sản xuất thừa. Lý luận của Malthus đợc
J.M.Keynes đánh giá rất cao và coi nh là ngời mở đầu cho chủ nghĩa trọng cầu.
Nhng quan điểm trên của Malthus lại bị Sismondi phê phán.
Theo Sismondi, cần phải có lớp ngời mua thứ ba để tăng sức mua của xã
hội. Nhng khác với Malthus, lớp ngời thứ ba của Sismondi là những ngời sản xuất
nhỏ, chứ không phải là những ngời phi sản xuất. Nh vậy việc tăng thu nhập cho
nông dân, thợ thủ công, tiểu thơng, tiểu chủ,... là một điều cần thiết để tăng cầu
trong nền kinh tế. Muốn vậy, theo Sismondi, nhà nớc phải can thiệp để tạo công
ăn, việc làm cho họ, hạn chế sự cạnh tranh gây phá sản hàng loạt cho ngời sản
xuất nhỏ, thực hiện sự phân phối công bằng hơn giữa các giai cấp, tầng lớp trong
xã hội.
Theo Keynes, việc kích cầu là vai trò của nhà nớc. Điều này trớc đây Malthus
và Sismondi cũng đã đề cập đến khi nói lên một cách dè dặt về hiệu quả của bàn
tay vô hình của A.Smith, nhng không phân tích kỹ nh Keynes.
Trong lý thuyết của mình Keynes đa ra mô hình số nhân đầu t để chứng minh
cho việc gia tăng đầu t có tác động khuếch đại thu nhập tăng lên số nhân lần. Đóng
vai trò quan trọng trong số nhân là khuynh hớng tiêu dùng cận biên (MPC-Marginal
Propensity to Consume) và khuynh hớng tiết kiệm cận biên (MPS-Marginal
Propensity to Save). Đó là những khuynh hớng tâm lý xã hội thể hiện mối quan hệ
giữa gia tăng tiêu dùng và gia tăng tiết kiệm so với gia tăng thu nhập. Khuynh hớng
tiêu dùng cận biên càng tăng thì số nhân đầu t càng lớn, do đó độ khuếch đại của gia
tăng đầu t đối với thu nhập, sản lợng và công ăn việc làm càng lớn và ngợc lại,
khuynh hớng tiết kiệm cận biên càng tăng thì sự dò dỉ trong chi tiêu càng lớn nên số
nhân càng nhỏ, do đó độ khuếch đại thu nhập, sản lợng, công ăn việc làm của gia
tăng đầu t càng nhỏ. Có thể khái quát mô hình số nhân đầu t của Keynes bằng các
công thức sau:

tiêu dùng còn Y
d
là gia tăng thu nhập đợc quyền sử dụng.
- MPS : khuynh hớng tiết kiệm cận biên =
( )
d
YSf
eq

;
với S là gia tăng tiết
kiệm.
Theo Keynes, muốn đầu t có sự gia tăng thì nhà đầu t phải có lợi nhuận tăng
thêm khi đầu t thêm. Ông gọi đó là thu hoạch tơng lai của t bản. Thu hoạch tơng
lai là thu nhập của doanh nhân sau khi trừ đi phí tổn thay thế (phí tổn thay thế là
giá cung của t bản, đó chính là lãi suất). Quan hệ giữa thu hoạch tơng lai và phí
tổn thay thế để sản xuất thêm một đơn vị sản lợng đợc gọi là hiệu quả cận biên của
t bản (the marginal productivity of capital). Các nhà đầu t khi quyết định một cuộc
đầu t nào đều so sánh hiệu quả cận biên của t bản với lãi suất. Nếu chừng nào hiệu
quả cận biên của t bản còn lớn hơn lãi suất thì các nhà đầu t còn tiếp tục đầu t, mở
rộng sản xuất làm thu nhập gia tăng, sản lợng gia tăng, công ăn việc làm gia tăng và
ngợc lại, khi hiệu quả cận biên của t bản bằng hoặc thấp hơn lãi suất thì tình hình đầu
t sẽ sụt giảm, mà điều đó thì không có lợi cho nền kinh tế. Keynes cho rằng, hiệu quả
cận biên của t bản có xu hớng giảm sút, ảnh hởng xấu đến tình hình đầu t và làm cho
nạn thất nghiệp tăng cao. Từ đó, cần phải giảm lãi suất để kích thích đầu t. Muốn
giảm lãi suất thì nhà nớc phải dùng chính sách tăng cung tiền tệ.
Theo Keynes, khối lợng tiền mặt trong lu thông càng nhiều hơn nhu cầu về tiền
mặt thì sẽ làm cho lãi suất giảm xuống. Keynes chủ trơng lạm phát là quốc sách để
thúc đẩy nền kinh tế tăng trởng, giải quyết nạn thất nghiệp, bởi vì thất nghiệp là căn
bệnh nguy hiểm cho nền kinh tế chứ không phải lạm phát. Ông cho rằng phát hành

( )( )
ADMPMYMPItMPCf
eq
+
;11;1

Trong đó:
- t: thuế suất là tỷ lệ phần trăm của lợng thuế tính trên thu nhập (Y)
- MPI: khuynh hớng đầu t cận biên =
( )
YIf
eq

;
với I là gia tăng đầu t
còn Y là gia tăng thu nhập.
- MPM: khuynh hớng nhập khẩu cận biên =
( )
YMf
eq

;
với M là gia tăng
nhập khẩu.
Mẫu số trong số nhân (k) đợc gọi là suất rò rỉ cận biên. Nh vậy, nếu suất rò rỉ
cận biên càng nhỏ khi khuynh hớng tiêu dùng cận biên càng tăng, thuế suất càng
giảm, khuynh hớng đầu t cận biên càng tăng và khuynh hớng nhập khẩu cận biên
càng giảm thì số nhân càng lớn, độ khuếch đại thu nhập của gia tăng tổng cầu sẽ
càng lớn và ngợc lại, nếu suất rò rỉ cận biên càng lớn khi khuynh hớng tiêu dùng
cận biên càng giảm, thuế suất càng tăng, khuynh hớng đầu t cận biên càng giảm

d
thì phải giảm T
d
. Vậy để tăng thu nhập đợc quyền sử dụng của các tầng
lớp dân c thì phải giảm thuế thu nhập và các khoản đóng góp khác.
Để kích cầu còn cần giảm các khoản thuế gián thu nhằm giảm giá bán của
hàng hoá phù hợp với sức mua còn thấp của thị trờng.
+ Đối với chính sách lu thông tiền tệ, tín dụng ngân hàng. Trong điều kiện
một nền kinh tế đang có giảm phát thì Nhà nớc nên dùng chính sách tiền tệ mở
rộng nhằm giảm lãi suất để kích thích đầu t và tiêu dùng. Lãi suất hạ, nhà đầu t sẽ
thấy rằng việc gửi tiền trong ngân hàng với lãi suất thấp không có lợi bằng việc
đầu t vào sản xuất nên họ sẽ mở rộng đầu t, tạo thêm công ăn việc làm, thu nhập
gia tăng. Lãi suất gửi tiền thấp, ngời dân sẽ mở rộng tiêu dùng vì việc tiêu dùng
lúc này có lợi hơn là việc gửi tiền ở các tài khoản tiết kiệm. Nh vậy, cần thực hiện
các giải pháp nhằm tăng khối lợng tiền trong lu thông nh: hạ lãi suất chiết khấu,
giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành thêm tiền vào lu thông để thu nhập bằng tiền
cho xã hội... Tất cả những việc này sẽ làm lạm phát gia tăng, nhng nó lại kích
thích sản xuất tăng trởng, công ăn việc làm gia tăng, tiêu dùng gia tăng và nền
kinh tế tăng trởng theo. Vấn đề đặt ra ở đây là xác định tỷ lệ lạm phát vừa phải,
đừng để lạm phát tăng cao tác động xấu đến nền kinh tế.
+ Đối với chính sách thơng mại: cần tăng xuất khẩu hàng trong nớc, giảm dần
nhập khẩu. Tăng xuất khẩu có tác động tăng việc làm, tăng thu nhập, tăng tiêu dùng
và kinh tế nội địa phát triển. Muốn vậy Nhà nớc phải có chính sách bảo hộ xuất khẩu,
giảm thuế xuất khẩu (có thể giảm xuống bằng 0%).
+ Nhà nớc phải tăng cờng đầu t trong nớc.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Ngoài các giải pháp nêu trên còn một vấn đề quan trọng nữa là cần khuyến
khích tâm lý tiêu dùng hàng nội địa. Bởi vì nếu khuyến khích tiêu dùng mà ngời
dân chỉ thích tiêu dùng hàng ngoại nhập thì lại không có tác động làm gia tăng sản

Đến tháng 7 năm 1999 Trung Quốc đã đa ra một loạt các biện pháp kích thích tài
chính nhằm khuyến khích các nhà kinh doanh bất động sản đầu t vào khu vực nhà
ở nh miễn thuế đánh vào các công ty nớc ngoài đang tìm cách đầu t vào các dự án
nhà ở hoặc văn phòng cao cấp, hoặc các nhà đầu t sẽ đợc vay ngân hàng với lãi
suất thấp nhất có thể. Bên cạnh đó Trung Quốc đã đẩy mạnh t nhân hoá việc xây
dựng nhà cửa và coi xây dựng nhà ở mới là động lực mới nhằm kích thích tăng tr-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ởng kinh tế, cùng với việc cải cách chế độ nhà ở, Trung Quốc đã đẩy mạnh xây
dựng cơ sở hạ tầng và chấp nhận với quy mô lớn. Trong năm 1998, các ngân hàng
đã cho vay 100 tỷ nhân dân tệ dùng vào việc đầu t xây dựng cơ bản. Trong những
tháng cuối năm 1998 Trung Quốc đã phát hành thêm 100 tỷ nhân dân tệ để hỗ trợ
tập trung vốn xây dựng hạ tầng cơ sở. Hàng loạt các chơng trình đờng xá, cầu
cống đã đợc khởi công xây dựng. Có thể nói trong những tháng cuối năm 1998 và
đầu năm 1999, đẩy mạnh xây dựng hạ tầng cơ sở đã đợc Trung Quốc coi nh đầu
tầu để kích cầu trong nớc, lôi kéo các ngành khác cùng phát triển.
+ Song song với việc đẩy mạnh đầu t từ ngân sách Nhà nớc Trung Quốc đã
áp dụng hàng loạt các biện pháp về tài chính - tiền tệ nhằm kích thích đầu t vào
sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của ngời dân, mà hai biện pháp chính là điều chỉnh
lãi suất và hớng ngời dân đầu t vào thị trờng chứng khoán. Chỉ trong vòng 3 năm
từ 1996 - 1999 Trung Quốc đã 7 lần hạ lãi suất. Đặc biệt trong năm 1998 Trung
Quốc đã 3 lần giảm lãi suất. Việc giảm lãi suất liên tục nh vậy có tác dụng bơm
tiền gửi trong hệ thống ngân hàng và kích thích đầu t của t nhân và doanh nghiệp.
ở Trung Quốc, tình trạng tiền gửi trong ngân hàng rất lớn song ngân hàng lại
không dám cho vay hoặc đầu t vì sợ không thu hồi đợc vốn. Do đó giảm lãi suất
ngân hàng cùng với đánh thuế lãi tiền gửi tiết kiệm sẽ không khuyến khích ngời
dân tiếp tục gửi tiền vào ngân hàng mà dùng tiền đó để đầu t vào sản xuất, tiêu
dùng, mua nhà ở...
+ Trung Quốc đã liên tục đa ra các biện pháp nhằm làm sôi động thị trờng
chứng khoán. Mục tiêu là hớng ngời dân đầu t vào cổ phiếu và thông qua đó gián


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status