A. LỜI NÓI ĐẦU
Trong xã hội ta, pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân, đem lại hạnh
phúc cho nhân dân, nên các quy định của pháp luật được đông đảo nhân dân
tôn trọng và tự giác thực hiện nghiêm minh. Tuy nhiên, do nhiều nguyên
nhân khác nhau, trong xã hội vẫn còn nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật,
xâm hại đến các lợi ích vật chất và tinh thần của nhà nước, của xã hội và của
nhân dân. Đó là một hiện tượng nguy hiểm, tác động tiêu cực đến các mặt
của đời sống xã hội. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề vi phạm pháp luật, đặc
biệt là cấu thành vi phạm pháp luật sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc góp phần
đề ra những biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp
luật trong xã hội. Tuy nhiên, cấu thành vi phạm pháp luật là gì, bao gồm
những mặt nào? Ta sẽ phân tích một ví dụ trong thực tiễn để làm rõ vấn đề
này.
B. NỘI DUNG
1. CÁC KHÁI NIỆM.
1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật.
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng
lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp
luật bảo vệ.
1.2. Khái niệm cấu thành vi phạm pháp luật.
Cấu thành vi phạm pháp luật là toàn bộ những yếu tố, những bộ phận
làm thành một vi phạm pháp luật cụ thể, bao gồm mặt khách quan, chủ thể,
mặt chủ quan và khách thể.
1
2. VÍ DỤ THỰC TIỄN.
2.1. Tình huống vi phạm pháp luật.
Nguyễn Tấn Đăng K. (45 tuổi) và Bùi Thị Bích P. (44 tuổi) học cấp
ba cùng nhau và có thời gian yêu nhau thắm thiết. Nhưng do mẹ của K.
quyết liệt ngăn cản nên hai người phải chia tay. Sau đó, mỗi người đều có
gia đình riêng của mình. K. lấy vợ nhưng đã 10 năm mà vẫn chưa có con.
Trong khi đó, P. và chồng có một đứa con chung là cháu Lê Đức A.. Sau 14
Hành vi trái pháp luật là những xử sự của con người không phù hợp
với các quy định của pháp luật. Việc làm của C. (dùng 20 viên thuốc ngủ
cho vào thức ăn của cháu bé 14 tuổi) là hành vi dã man, vô nhân đạo. Hành
vi đó đã lấy đi tính mạng đứa trẻ, gây nguy hiểm cho xã hội, là hành vi trái
pháp luật được quy định tại Bộ luật hình sự.
Hậu quả của vi phạm pháp luật là sự thiệt hại do hành vi trái pháp luật
gây ra cho xã hội. Hành vi của Mai C. đã gây nên cái chết của cháu Đức A.,
gây tổn thương tinh thần của mẹ và toàn thể gia đình đứa trẻ, đồng thời gây
bất bình trong xã hội.
Giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả có mối quan hệ nhân quả, vì:
Hành vi trái pháp luật (đầu độc cháu bé) xảy ra trước sự thiệt hại (cái chết
của cháu bé), đồng thời, hành vi đó chứa đựng khả năng thực tế làm phát
sinh hậu quả (việc đầu độc cháu bé bằng thuốc ngủ quá liều chứa đựng khả
năng thực tế rằng cháu bé sẽ bị ngộ độc và nguy hiểm đến tính mạng). Thiệt
hại được gây ra trực tiếp bởi hành vi trái pháp luật.
Thời gian: Sáng ngày 18/05/2008.
Địa điểm: Tại trang trại nhà C., số 68 đường Đồng Khởi, xã Định
Thủy, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
3
Hung khí: Là 20 viên thuốc ngủ đã được C. đi mua, nghiền nát và
trộn với thức ăn từ trước.
Cách thức vi phạm: Giấu thuốc ngủ trong thức ăn để lừa nạn nhân.
2.2.2. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật.
Khái niệm: Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện
tâm lí bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật, gồm lỗi, động cơ và mục
đích vi phạm.
Lỗi thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội trong hành vi
trái pháp luật của mình và hậu quả của hành vi đó. Chủ thể bị coi là có thái
độ tiêu cực đối với xã hội khi họ có ý thức phủ định lợi ích xã hội, đi ngược
lại lợi ích của xã hội. Hành vi của C. là lỗi cố ý trực tiếp. Bởi C. biết rõ việc
ghen tuông, để rồi thực hiện hành vi hãm hại cháu bé khi sự ghen tuông lên
đến đỉnh điểm. C. thực hiện hành vi trái pháp luật của mình trong trạng thái
tỉnh táo, không bị cưỡng bức về tinh thần. Như vậy, C. có khả năng điều
khiển hành vi của mình và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi
của mình (có năng lực trách nhiệm pháp lý).
Theo quy định của pháp luật, Mai C. sẽ phải chịu trách nhiệm đối với
hành vi trái pháp luật của mình trong trường hợp đó.
2.2.4. Khách thể vi phạm pháp luật.
Khái niệm: Khách thể vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội
được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại. Đó
chính là những lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức trong xã hội, lợi ích
của giai cấp cầm quyền cũng như lợi ích của toàn xã hội, của quốc gia, dân
5