Pháp luật và luật tục, những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ PHƢỢNG
PHÁP LUẬT VÀ LUẬT TỤC:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2011
1
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ
PHÁP LUẬT VÀ LUẬT TỤC
5
1.1.
Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của pháp luật và luật tục

Những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và
luật tục
16
1.2.1.
Điểm tương đồng giữa pháp luật và luật tục
16
1.2.2.
Sự khác biệt giữa pháp luật và luật tục
20
1.3.
Sự tác động qua lại giữa pháp luật và luật tục
26

2
1.3.1.
Sự tác động của luật tục đến pháp luật
26
1.3.2.
Sự tác động của pháp luật đến luật tục
30

Chương 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ PHÁP LUẬT VÀ
LUẬT TỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
34
2.1.
Thực trạng mối quan hệ pháp luật và luật tục trong hoạt
động thực hiện pháp luật
34
2.1.1.
Những ưu điểm

Giải quyết tốt mối quan hệ pháp luật và luật tục là yêu cầu
cần thiết hiện nay
59
3.1.1.
Yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền
59
3.1.2.
Yêu cầu của công cuộc hội nhập kinh tế, quốc tế
62
3.2.
Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả việc kết
hợp pháp luật và luật tục ở Việt Nam hiện nay
66
3.2.1.
Nhận thức đúng vị trí, vai trò của pháp luật, luật tục và mối
quan hệ giữa chúng
66

3
3.2.2.
Khắc phục những hạn chế và phát huy những ưu điểm trong
mối quan hệ pháp luật và luật tục trong thời gian qua
67
3.2.2.1.
Khắc phục những hạn chế trong mối quan hệ pháp luật và
luật tục
67
3.2.2.2.
Phát huy những ưu điểm trong mối quan hệ giữa pháp luật
và luật tục

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, hệ thống pháp luật của nước ta không
ngừng được tăng cường và hoàn thiện, thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò
điều chỉnh các quan hệ xã hội. Bên cạnh hệ thống pháp luật đang tồn tại, ở các
buôn, bản, làng dân tộc ít người, luật tục vẫn tồn tại và là công cụ phổ biến để
điều chỉnh các quan hệ trong cộng đồng.
Thực tế cho thấy, đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn sống và điều
chỉnh hành vi bằng luật tục của dân tộc mình và ít quan tâm đến pháp luật của
Nhà nước. Do vậy, đã có không ít những phong tục, tập quán lạc hậu đã cản
trở sự phát triển lành mạnh về mọi mặt của đồng bào các dân tộc thiểu số.
Mặt khác, có những phong tục, tập quán tiến bộ là kết tinh từ lâu đời của đồng
bào các dân tộc thiểu số lại chưa được pháp luật của Nhà nước ta ghi nhận. Vì
vậy, pháp luật đi vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số còn chưa
hiệu quả, phần nào tạo nên sự cách biệt không đáng có giữa pháp luật và luật
tục của đồng bào các dân tộc thiểu số.
Trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và
vì dân của Nhà nước ta hiện nay, pháp luật được xác định là công cụ quan
trọng nhất để Nhà nước quản lý xã hội. Nhà nước ta đã sử dụng nhiều phương
pháp để đưa pháp luật vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số; bên
cạnh đó, vai trò của luật tục cũng được nâng lên. Pháp luật nước ta đã quy
định các tiền đề cho việc áp dụng và phát huy những mặt tích cực của tập
quán, phong tục truyền thống mà trong đó có luật tục.
Tuy nhiên, về mặt lý luận, mối quan hệ giữa pháp luật với luật tục vẫn
chưa được giải quyết một cách triệt để. Việc tồn tại song song trong thực tế
hai hệ thống pháp luật Nhà nước và luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số đặt

5
ra vấn đề là: xác định vị trí của các hệ thống này, đồng thời làm rõ mối quan

chưa làm rõ mối quan hệ pháp luật và luật tục trong quá trình điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh ở đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta. Do vậy,
có thể thấy việc nghiên cứu làm rõ mối quan hệ pháp luật và luật tục về cả
mặt lý luận và thực tiễn là yêu cầu cần thiết trong quá trình xây dựng Nhà
nước pháp quyền hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận,
đi sâu vào phân tích mối quan hệ thực tế giữa pháp luật và luật tục hiện nay ở
Việt Nam từ đó đưa ra một số giải pháp vận dụng tốt mối quan hệ này trong
quá trình quản lý xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ cụ thể là:
- Xác định được vị trí, vai trò của pháp luật và luật tục đối với đồng
bào dân tộc thiểu số hiện nay.
- Phân tích những nét tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và luật
tục và mối quan hệ giữa chúng đối với đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay.
- Nêu được thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục trong
thực tế đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay. Trên cơ sở phân tích
lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục hiện nay rút ra mặt
ưu điểm và hạn chế của mối quan hệ, nêu được nguyên nhân những hạn chế.
- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc
kết hợp mối quan hệ pháp luật và luật tục trong việc điều chỉnh xã hội hiện
nay của đồng bào dân tộc thiểu số.

7
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Pháp luật và luật tục là một vấn đề tương đối rộng, trong phạm vi
luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn cơ bản trong mối quan hệ pháp luật và luật tục ở Việt Nam hiện nay. Và

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VÀ
LUẬT TỤC
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của pháp luật
1.1.1.1. Khái niệm
Vào giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy, do sự phát triển của lực
lượng sản xuất đã lần lượt đưa đến ba lần phân công lao động xã hội lớn, chế
độ tư hữu được hình thành và cùng với nó là sự phân chia xã hội thành các
giai cấp đối lập nhau về quyền lợi. Các tập quan, quy tắc xã hội nguyên thủy
vẫn còn tồn tại song rất nhiều trong số đó đã không còn đủ sức điều chỉnh các
quan hệ xã hội trong giai đoạn xuất hiện những điều kiện mới này.
Trước tình hình đó, xuất hiện nhu cầu bức xúc là phải hình thành một
hệ thống quy tắc xử sự mới thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống
trị. Pháp luật ra đời chính là để đáp ứng nhu cầu đó. Tuy nhiên, pháp luật ra
đời không chỉ thuần túy từ nhu cầu giai trị của nhà nước, không chỉ là công cụ
bảo vệ giai cấp thống trị; pháp luật xuất hiện còn để đáp ứng nhu cầu điều
chỉnh các quan hệ xã hội của con người, củng cố, xác lập trật tự xã hội, thiếu
trật tự đó, không một cộng đồng, một xã hội nào có thể tồn tại được.
Pháp luật là một hiện tượng xã hội khách quan, đặc biệt quan trọng
nhưng cũng vô cùng phức tạp; chính vì vậy có không ít những quan niệm,
nhận thức khác nhau về pháp luật. Trên quan điểm truyền thống, căn bản nhất
có thể nêu khái niệm pháp luật như sau:
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung
do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai

9
cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã
hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển
bền vững của xã hội [17].
Trong lý luận pháp lý hiện đại còn có nhiều đề xuất khác nhau về khái

ngôn ngữ được sử dụng có thể có những hình tượng nghệ thuật, ví von, ẩn dụ thì
pháp luật được thể hiện ở dạng thành văn. Các quy phạm pháp luật được thể hiện
trong văn bản pháp luật với những tên gọi, cách thức ban hành và giá trị pháp lý
khác nhau nhất định. Ngôn ngữ của pháp luật trong các quy phạm pháp luật
phải ngắn gọn, rõ ràng, trực tiếp, mang tính phổ thông và dễ hiểu. So với
nhiều loại quy phạm xã hội khác, pháp luật có tính chính xác cao, được thể hiện
ở các quy định của pháp luật về các quyền, nghĩa vụ pháp lý và các chế tài pháp
luật. Tính chính xác cao của pháp luật cho phép các chủ thể hiểu rõ những gì
được phép làm, những gì phải làm và những gì bị cấm và trên cơ sở đó, các chủ
thể có thể lựa chọn hành động, lựa chọn cách thức xử sự, kể cả dự liệu được
những biện pháp xử lý khi có hành vi không đúng với yêu cầu của pháp luật.
Thứ ba, pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước. Pháp luật
xuất phát từ nhà nước, do nhà nước trực tiếp xây dựng, ban hành hoặc thừa
nhận nên pháp luật được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các công cụ, biện
pháp của nhà nước. Các biện pháp mà nhà nước sử dụng để đảm bảo thực
hiện các quy phạm pháp luật rất đa dạng, bao gồm các biện pháp tổ chức
cưỡng chế, thuyết phục, giáo dục…
Các loại quy phạm xã hội khác như luật tục cũng được đảm bảo thực
hiện bằng những biện pháp, cách thức nhất định như: sự tự giác thực hiện của
cá nhân, sự lên án của dư luận trong cộng đồng xã hội, sự day dứt của lương
tâm… nhưng không có sự đảm bảo thực hiện của nhà nước.
Trên đây là ba đặc điểm cơ bản, tiêu biểu của pháp luật. Tuy vậy, nếu
xét rộng hơn thì còn phải kể đến một số thuộc tính khác của pháp luật như

11
tính hệ thống, tính ổn định, tính dự báo… Khi nghiêm cứu đặc điểm của pháp
luật cần có hướng nhìn một cách tổng thể để phân biệt rõ các quy phạm pháp
luật với các quy phạm xã hội khác.
1.1.1.3. Vị trí, vai trò của pháp luật
Pháp luật ra đời như một tất yếu khách quan, là công cụ bảo vệ giai

Luật tục và tập quán là những khuôn mẫu ứng xử được đặt ra trong
một cộng đồng. Luật tục và tập quán có những điểm giống nhau nhưng cũng
có điểm khác biệt. Tập quán và luật tục được hình thành từ những thói quen,
khuôn mầu ứng xử được mọi người tuân theo. Tập quán được mọi người tự
giác tuân theo, theo dư luận điều chỉnh, còn luật tục có tính cưỡng chế cao, gây áp
lực bắt buộc mọi cá nhân tuân theo. Luật tục thường bắt nguồn từ tập quán. Trong
quá trình tuyển chọn một số tập quán có tính hướng đích cao, đáp ứng những nhu
cầu cần thiết cho lợi ích của một cộng đồng sẽ trở thành luật tục.
Luật tục vừa chứa đựng các quy định - các điều khoản về luật nội
dung và luật tố tụng - luật hình thức theo ngôn ngữ pháp lý hiện đại. Trong
quá trình tuyển chọn, một số tập quán được coi là cần thiết cho cộng đồng, ai
cũng phải tuân theo nên nó trở thành luật tục. Như vậy, luật tục chính là những
hành động, những khuôn mẫu ứng xử đã tuân theo những chuẩn mực về luân lý,
chính trị và thẩm mỹ của một cộng đồng. Đặc biệt luật tục có tính cưỡng chế
cao, nó quy định rõ những điều được phép làm và những điều ngăn cấm.
Có thể dùng khái niệm của PGS.TS Ngô Đức Thịnh (Viện trưởng viện
nghiên cứu văn hóa dân gian) đã khái quát về luật tục như sau:
Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, được hình thành
trong lịch sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và xã
hội, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời
này sang đời khác bằng trí nhớ qua thực hành sản xuất và thực hành
xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn quan hệ xã hội, quan hệ con người

13
với thiên nhiên. Những chuẩn mực ấy được cả cộng đồng thừa nhận và
thực hiện, nhờ đó đã tạo ra sự thống nhất và cân bằng trong mỗi cộng
đồng [32].
1.1.2.2. Đặc điểm
Từ những phân tích trên, có thể thấy luật tục có những đặc điểm:
Thứ nhất, Luật tục là một công trình lập tục tập thể của cả cộng đồng

Dư luận cộng đồng là lực lượng hướng dẫn và cưỡng chế các thành viên ứng
xử theo đúng chuẩn mực của quy ước và luật tục. Dư luận cộng đồng góp
phần cổ vũ, khích lệ các thành viên chấp hành các quy định của luật tục, làm
tốt các điều phải làm, có tác dụng răn đe, ngăn ngừa những người có hành
động vi phạm luật tục. Mặt khác, tín ngưỡng, thần linh cũng chi phối ý thức
tuân thủ luật tục của của cả cộng đồng. Các vi phạm phong tục sẽ xúc phạm
đến các vị thẩn và họ sẽ không che chở bảo vệ cho người dân. Vì vậy, việc xét
xử công minh, ý thức coi trọng luật tục còn do yếu tố thần linh trong đời sống
chi phối buộc họ tự giác thực hiện. Cơ chế thần linh chính là một sức mạnh hỗ
trợ cho cơ chế cộng đồng dựa trên nền tảng luật tục được duy trì và tôn trọng
trong cộng đồng.
1.1.2.3. Nội dung cơ bản của luật tục
Như phần trên đã nêu, luật tục có phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát
toàn bộ các quan hệ xã hội phát sinh trong cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu
số. Có thể thấy được nội dung cơ bản của luật tục thông qua việc khái quát
những nhóm quy định trong từng lĩnh vực.
Các quy định trong lĩnh vực tổ chức và quản lý cộng đồng: điều chỉnh
về mối quan hệ giữa người đứng đầu làng, bản là trưởng buôn, trưởng làng và
các thành viên trong buôn làng. Quyền và nghĩa vụ được đặt ra đối với hai
loại chủ thể này. Người đứng đầu buôn làng được coi như "Cây sung đầu
suối, cây đa đầu làng" [33, Điều 26]. Người đứng đầu buôn được hưởng quy

15
chế bất khả xâm phạm về danh dự, thân thể, có nghĩa vụ: chăm lo lợi ích cho
dân làng, bảo đảm quyền lợi cho họ, không được lộng hành, tùy tiện lạm
quyền. Luật tục quy định rất cụ thể những tội do người đứng đầu buôn thực
hiện, bao gồm: tội giấu người, tội che giấu các vụ việc trong làng, tội chiếm
của dân làng, tội không chăm lo chu đáo dân làng; tội bắt bớ giam cầm oan
sai… Về cơ bản, các quy định này còn phù hợp với các quan hệ cộng đồng và
xử lý các mối quan hệ cộng đồng hiện nay.

Trong lĩnh vực dân sự, xuất phát từ phương thức sản xuất tiền giai
cấp, chế độ mẫu hệ và tín ngưỡng là ba đặc thù xuyên suốt, chi phối quan
hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng. Các quan hệ nhiều lúc
phải qua cơ chế trung gian là thần linh. Hành vi trái tục lệ làm cho thần
linh nổi giận, dẫn đến thần linh giáng tai họa đến cho bên bị thiệt hại.
Luật tục quy định nghĩa vụ loan báo cho người khác biết khi nhặt được
của cải và sau 3 năm mà không có người đến nhận thì tài sản thuộc sở hữu
người bắt được, việc cố tình giấu giếm tài sản mà bắt được, ngoài việc
phải trả lại, người vi phạm phải nộp phạt thêm "hai cái nữa".
Quan hệ về thừa kế dân sự cũng rất được quan tâm. Luật tục Ê đê thừa
nhận quan hệ thừa kế theo di chúc. Nội dung thừa kế được luật tục đề cập như
sau: việc thừa kế phải theo dòng họ mẹ. Người quản lý di sản là người trưởng
nữ của dòng họ, gia đình. Tài sản tổ tiên để lại cho cả dòng họ thừa kế và
không được bản, đổi. Chỉ có người nữ gia trưởng này mới có quyền quản ý.
Người được thừa kế là con cái nhưng phải là người con có hiếu, có chăm sóc
cha mẹ. Con nuôi cũng được hưởng thừa kế của cha mẹ nuôi nếu hiếu thảo
với cha mẹ nuôi.
Luật tục không có khái niệm thế nào là giao dịch dân sự nhưng từ hợp
đồng đến hành vi pháp lý đơn phương đều được luật tục đề cập đến. Luật tục
đã quy định rất tiến bộ hành vi mua tài sản của trẻ vị thành niên thì việc mua
bán coi như vô hiệu. Lừa dối khi mua bán tức sự tự nguyện của bên kia là sai

17
lầm do hành vi cố ý lừa dối của một bên sẽ bị xét xử. Khi cam kết đã hứa thì
phải thực hiện, nếu vi phạm cam kết thì sẽ bị xử phạt. Luật tục cũng quy định
cha mẹ phải bồi thường cho trẻ con, người điên gây ra do họ đã không giáo
dục, quản lý tốt những người này.
Đối với những quan niệm về quyền sở hữu đất của luật tục. Đất đai
thuộc sở hữu chung hay riêng đều không thể tùy tiện sử dụng mà phải theo
các quy định nhất định. Quyền sở hữu đất đai của mỗi gia đình được hiểu là

đồng người dân tộc thiểu số đó coi trọng, đảm bảo quyền lợi cho cá nhân cũng
như cả cộng đồng mình. Chính điều này cho thấy sức sống mãnh liệt của luật
tục và chứng minh cho sự hợp lý, sự cần thiết của nó trong việc điều chỉnh các
mối quan hệ xã hội ở các buôn làng của đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay.
Đi sâu nghiên cứu luật tục cho thấy, đây là một hình thái pháp luật sơ
khai đã được đồng bào dân tộc thiểu số sáng tạo nên và được hoàn thiện qua
nhiều thế hệ. Nội dung của luật tục đã xác lập vị trí của mỗi cá nhân trong
cộng đồng, hình thành nên mối quan hệ giữa từng thành viên với nhau và giữa
cá nhân với cộng đồng mình đang sinh sống, góp phần quản lý cộng đồng một
cách chặt chẽ, hiệu quả không chỉ trong giai đoạn trước mà vẫn tiếp tục giữ
vai trò đáng kể trong cuộc sống hiện đại, nhất là trong giai đoạn xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay.
Hiện nay với xu thế hội nhập toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, là xu
hướng phù hợp với sự phát triển của quy luật tự nhiên. Cùng chung với xu thế
đó, đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta không phải là những thực thể xã
hội biệt lập và không thể thu hẹp những quy cách ứng xử của mình trong
phạm vi luật tục của buôn làng. Đồng bào các dân tộc thiểu số phải cùng với
54 dân tộc anh em trong cả nước có cuộc sống trong cùng một hành lang pháp
lý chung đó là pháp luật của nhà nước.
Tuy vậy, luật tục với những quy định mang tính chất tiến bộ, phù hợp
với quy định của pháp luật hiện hành sẽ đóng vai trò tích cực trong việc cùng

19
với pháp luật điều chỉnh thống nhất các mối quan hệ xã hội. Luật tục sẽ góp
phần làm mềm dẻo các quy định được mặc định là có phần cứng nhắc của
pháp luật, bổ sung, bù đắp những quy định có tính khái quát cao của pháp luật
trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ở các buôn làng đồng bào dân
tộc thiểu số. Đặc biệt hơn nữa, luật tục sẽ chuyển đổi các ngôn ngữ hiện đại
của pháp luật thành ngôn ngữ dân gian, gần gũi với cuộc sống của đồng bào
dân tộc thiểu số, từ đó đưa pháp luật đi vào đời sống của đồng bào một cách

luật tục (nhưng luật tục chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cộng
đồng buôn làng người dân tộc thiểu số). Để điều chỉnh các quan hệ xã hội,
pháp luật và luật tục đều tác động vào nhận thức của chủ thể nhằm hình thành
ở chủ thể ý thức lựa chọn cách thức xử sự phù hợp, kiềm chế không thực hiện
những hành vi bị ngăn cấm, đồng thời khuyến khích họ thực hiện những hành
vi tích cực, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước hay của cộng đồng dân
tộc mình.
Điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật và luật tục đều mang tính
quy phạm. Cả hai đều là những mô hình chuẩn mực cho hành vi của con
người. Về bản chất, pháp luật và luật tục đều có sự thống nhất về mục đích
điều chỉnh nhằm bảo vệ và định hướng cho sự phát triển của xã hội, hạn chế
và loại bỏ những quan hệ xã hội không phù hợp với lợi ích của giai cấp thống
trị và lợi ích chung của cả cộng đồng, đảm bảo cho xã hội phát triển trong ổn
định và trật tự.
Khi điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật và luật tục đều có sự
đồng nhất về tính bắt buộc thực hiện đối với chủ thể bị điều chỉnh, nếu pháp
luật có tính bắt buộc thực hiện đối với toàn xã hội thì luật tục chỉ có giá trị bắt
buộc thực hiện đối với các thành viên trong một cộng đồng nhất định.
Pháp luật và luật tục đều thuộc kiến trúc thượng tầng: Cả pháp luật và
luật tục chỉ có thể tồn tại trên những cơ sở hạ tầng, những nền tảng kinh tế xã

21
hội phù hợp nhưng có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng. Pháp luật và luật tục
đều là hiện tượng xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng do cơ sở hạ tầng quyết
định. Luật tục truyền thống của các dân tộc thiểu số ở nước ta được hình
thành trên nền tảng sản xuất có dáng dấp của kinh tế nguyên thủy, mang tính
chất khép kín, tự cung, tự cấp với trình độ sản xuất lạc hậu, sự phân công lao
động thấp. Cũng tương tự như vậy, tương ứng mỗi hình thái kinh tế - xã hội
trong xã hội có giai cấp là một kiểu pháp luật, về cơ bản pháp luật quy định
vấn đề gì, quy định như thế nào, điều đó trước tiên phụ thuộc vào thực trạng

những lợi ích đối lập nhau của đồng bào dân tộc thiểu số mà luật tục có tính
xã hội cao hơn tính giai cấp. Luật tục còn là công trình luật tục tập thể, thể
hiện ý chí chung của cả cộng đồng người dân tộc thiểu số có sự phân hóa kinh
tế thấp, nên sự hình thành của luật tục không thông qua nhà nước, không
mang ý chí đại diện cho bất cứ giai cấp riêng biệt nào.
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, lợi ích của các giai cấp
trên quan điểm là công bằng, nhưng thực tế vẫn chưa thống nhất, vẫn xuất
hiện một số lực lượng chống đối. Với điều kiện đó, pháp luật vẫn được xác
định là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ và củng cố các quyền, lợi ích cơ bản
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Như vậy trong xã hội xã hội
chủ nghĩa, pháp luật vẫn mang tính giai cấp.
Pháp luật và luật tục còn mang tính xã hội. Tính xã hội của pháp luật
và luật tục thể hiện ở việc chúng đều là công cụ ghi nhận, bảo vệ lợi ích
chung của toàn xã hội. Cả pháp luật và luật tục đều phản ánh rõ nét những
điều kiện chung của xã hội như: điều kiện lịch sử, văn hóa, truyền thống,
điều kiện tự nhiên; do đó, cả hai đều là những chuẩn mực chung của xã hội.
Cùng với đó, pháp luật và luật tục đều trải qua quá trình chọn lọc, chuyển
giao qua nhiều thế hệ một cách tự nhiên các cách xử sự trong xã hội để giữ
lại cách xử sự hợp lý nhất, phù hợp với lợi ích chung của toàn thể xã hội,
dân tộc.

23
1.2.2. Sự khác biệt giữa pháp luật và luật tục
Bên cạnh những điểm tương đồng đã nêu, pháp luật và luật tục còn có
những điểm khác biệt rõ ràng.
Khác biệt về con đường hình thành: Như chúng ta đã biết, pháp luật
xuất hiện như một tất yếu khách quan và là sản phẩm của sự phát triển xã hội.
Trong xã hội tiền giai cấp, để tổ chức và quản lý đời sống xã hội thì những
quy phạm đạo đức, phong tục, tập quán và tín ngưỡng tôn giáo được sử dụng
rất hiệu quả. Khi nền kinh tế có sự phân hóa cao, xã hội xuất hiện các giai cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status