tìm hiểu chủ trương xây dựng và bảo vệ chính quyền ở nước ta giai đoạn 1946 – 1954 - Pdf 22

Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề chính quyền như Lênin đã nhiều lần chỉ rõ là vấn đề cơ bản và quyết
định sự phát triển của cách mạng. Người nhấn mạnh: "Chính quyền nhà nước nhất
định là vấn đề chủ yếu nhất của mọi cuộc cách mạng. Giai cấp nào giữ chính
quyền? Điều đó quyết định tất cả". Bởi vậy, Đảng cộng sản khi lãnh đạo cách mạng
nhất thiết đặt lên hàng đầu mục tiêu giành lấy chính quyền về tay giai cấp công
nhân và nhân dân lao động. Các giai cấp và thế lực thống trị cũ không bao giờ tự
rời bỏ địa vị thống trị của chúng. Vì thế, cuộc đấu tranh giành chính quyền phải trải
qua nhiều hy sinh, gian khổ và cuối cùng bằng bạo lực cách mạng của quần chúng
mới có thể giành được thắng lợi. Tuy nhiên, việc giành được chính quyền mới chỉ
là nhiệm vụ bước đầu và cũng chưa phải là nhiệm vụ khó nhất. Nhiệm vụ nặng nề,
khó khǎn và phức tạp nhất chính là xây dựng và bảo vệ chính quyền mới, làm cho
nó thật sự là công cụ có hiệu lực để cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội
mới, vì hạnh phúc của nhân dân. Thực tiễn của tất cả các cuộc cách mạng từ trước
tới nay ngày càng cho thấy: "Giữ vững chính quyền thì khó hơn là giành lấy chính
quyền". Từ khi lãnh đạo chính quyền, một trong những mối quan tâm hàng đầu của
Đảng ta là chǎm lo xây dựng, bảo vệ chính quyền nhân dân, làm cho chính quyền
ngày càng vững mạnh. Đó là một nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Chúng ta hãy cùng tìm hiểu chủ trương bảo vệ chính quyền nước ta thời kì non
trẻ mới được thành lập qua bài tiểu luận “ tìm hiểu chủ trương xây dựng và bảo vệ
chính quyền ở nước ta giai đoạn 1946 – 1954”.
GVHD: Đào Thị Phú Lớp:
SVTH: Hoàng Thị Thủy Trang: 1
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
NỘI DUNG
I. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương kháng chiến, kiến quốc của Đảng
Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền nhân dân vừa mới được thành lập đã
phải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng. Đất nước bị các
thế lực đế quốc, phản động bao vây và chống phá quyết liệt.

trong tay tư bản Pháp. Quân Tưởng tung tiền quốc tệ và quan kim gây rối loạn thị
trường. 95% số dân không biết chữ, các tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại hết sức
nặng nề.
Trong những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà chưa có nước nào công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta.
Đất nước bị bao vây bốn phía, vận mệnh dân tộc như "ngàn cân treo sợi tóc". Tổ
quốc lâm nguy!
Trước tình hình đó, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tỉnh táo và
sáng suốt phân tích tình thế, chiều hướng phát triển của các trào lưu cách mạng trên
thế giới và sức mạnh mới của dân tộc làm cơ sở để vạch ra chủ trương và giải pháp
đấu tranh giữ vững chính quyền, bảo vệ nền độc lập tự do.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, uy tín và địa vị của Liên Xô được nâng cao
trên trường quốc tế. Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc có điều kiện phát
triển, trở thành một dòng thác cách mạng. Phong trào dân chủ và hòa bình cũng
GVHD: Đào Thị Phú Lớp:
SVTH: Hoàng Thị Thủy Trang: 3
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
đang vươn lên mạnh mẽ. ở trong nước, chính quyền nhân dân của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà đã được kiến lập có hệ thống từ Trung ương đến cơ sở. Nhân
dân lao động đã làm chủ vận mệnh của dân tộc. Lực lượng vũ trang nhân dân đang
phát triển. Toàn dân tin tưởng và ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Dưới sự lãnh đạo khéo léo của Đảng, của Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ tối cao của dân
tộc, toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng trong mặt trận dân tộc thống nhất, quyết
tâm giữ vững nền độc lập tự do của dân tộc.
Sau ngày tuyên bố độc lập, Chính phủ lâm thời đã nêu ra những việc cấp bách
nhằm thực hiện ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.
Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc.
Chỉ thị nhận định tình hình thế giới và trong nước, chỉ rõ những thuận lợi cơ bản và
những thử thách lớn lao của cách mạng nước ta. Trung ương Đảng xác định: Tính
chất của "cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải

quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho
nhân dân". Củng cố chính quyền trước hết là tǎng cường sức mạnh, hiệu lực và cơ
sở pháp lý về cả đối nội cũng như đối ngoại. Chính quyền mới ra đời trong hoàn
cảnh đất nước đã bị chế độ phong kiến thống trị hàng ngàn nǎm và chế độ thực dân
cai trị gần một thế kỷ nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được
hưởng quyền tự do dân chủ. Vấn đề cấp bách đặt ra là "chúng ta phải có ngay một
hiến pháp dân chủ". Đảng chủ trương phải xúc tiến nhanh việc bầu cử Quốc hội,
lập chính phủ chính thức và soạn thảo Hiến pháp. Ngày 6-1-1946, lần đầu tiên ở
nước ta tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội của một nhà nước dân chủ. Ngày 2-3-
1946, Quốc hội họp, cử ra chính phủ tiêu biểu cho ý chí, lợi ích của toàn dân. Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được công bố ngày 9-11-1946.
Để tǎng cường hiệu lực quản lý đất nước, chính quyền cách mạng đã ban hành
hàng loạt sắc lệnh và những quy định cần thiết như: sắc lệnh giải tán các đảng phái
GVHD: Đào Thị Phú Lớp:
SVTH: Hoàng Thị Thủy Trang: 5
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
phản động, sắc lệnh thay đổi chế độ thuế và bãi bỏ thuế thân, sắc lệnh cấm không
được hợp tác với quân Pháp, sắc lệnh bầu cử, v.v Xây dựng và củng cố bộ máy
chính quyền các cấp là một nhiệm vụ bức bách. Chính phủ đã xem xét các vǎn bản
của Uỷ ban nhân dân các xứ và có kế hoạch "cải cách chính quyền nhân dân ở các
địa phương và thanh trừng những phần tử xấu trong Uỷ ban nhân dân địa phương
và cải tiến cách làm việc của những Uỷ ban ấy". Chính quyền nhân dân cũng đã
kiên quyết "trừng trị bọn phản quốc đã nhân những khó khǎn về nội trị, ngoại giao
và dựa vào thế lực bên ngoài mà ngóc đầu dậy; trừng trị bọn chia rẽ, bọn đầu cơ,
tích trữ và bọn lạm quyền, nhiễu dân". Đảng chủ trương trong mọi tình thế phải bảo
đảm sự thống nhất của chính quyền nhân dân từ trung ương đến cơ sở, xử trí kịp
thời "bọn đối lập". Đảng ta nhận thức rằng chính quyền cách mạng trước mắt phải
chǎm lo đời sống nhân dân, đưa đất nước nhanh chóng thoát khỏi nạn đói. Do vậy,
việc cứu đói thật sự cần kíp như đánh giặc ngoài mặt trận. Trên cơ sở khôi phục,
phát triển kinh tế để ổn định đời sống nhân dân, chính quyền cách mạng phải từng

giữ vững nền độc lập. Trong vòng vây và sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và
bọn phản động, trong điều kiện chưa có sự giúp đỡ trực tiếp của các nước anh em,
bầu bạn trên thế giới, sự tồn tại và vững mạnh của Nhà nước dân chủ nhân dân non
trẻ được quyết định bởi chính sức mạnh của nhân dân và của dân tộc. Chính bản
lĩnh và sự sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tạo thành sức mạnh
không thể phá vỡ nổi mà kẻ thù không thể không thừa nhận. Những chính sách về
chính trị, kinh tế, vǎn hoá, xã hội đúng đắn đã khơi dậy sức mạnh vật chất, tinh
thần to lớn của nhân dân. Tất cả đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, tạo nên thế và lực
mới của chính quyền nhân dân. Những nǎm tháng đầu tiên xây dựng và bảo vệ
chính quyền là quá trình tǎng cường thực lực về mọi mặt. Đó cũng là nét nổi bật về
khả nǎng tự bảo vệ của chính quyền cách mạng Việt Nam trong hoàn cảnh khó
khǎn điển hình. Nhà nước và nhân dân ta muốn hoà bình nên đã nhân nhượng với
thực dân Pháp. Nhưng dã tâm xâm lược của thực dân Pháp ngày càng trắng trợn.
GVHD: Đào Thị Phú Lớp:
SVTH: Hoàng Thị Thủy Trang: 7
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
Khi không thể nhân nhượng được nữa, chính quyền cách mạng đã chủ động phát
động nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến. Kháng chiến toàn quốc chống thực
dân Pháp và can thiệp Mỹ (từ 12-1946 đến 7-1954) là tiếp tục sự nghiệp của Cách
mạng tháng Tám, là tiếp tục công cuộc bảo vệ chính quyền bằng một cuộc chiến
tranh cách mạng. Cuộc kháng chiến được tiến hành trong điều kiện đã có chính
quyền cách mạng. Chính quyền là công cụ mạnh mẽ và hiệu lực để tổ chức, động
viên nhân dân tham gia kháng chiến. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn
diện, lâu dài và tự lực cánh sinh của Đảng, Chính phủ kháng chiến không chỉ tổ
chức, chỉ đạo đấu tranh quân sự, mà còn đề ra và thực hiện hàng loạt các chính sách
kinh tế, xã hội hợp lòng dân, bồi dưỡng sức dân, phát triển lực lượng kháng chiến.
Chính quyền nhân dân đã ban hành sắc lệnh giảm tô và từng bước tiến hành cải
cách ruộng đất mang lại lợi ích cơ bản và thiết thân cho nông dân, một nhân tố
quan trọng bảo đảm thắng lợi của cuộc kháng chiến. Việc từng bước kết hợp nhiệm
vụ chống đế quốc với chống phong kiến là kết hợp sự nghiệp giải phóng dân tộc và

lược
1.Sự hình thành đường lối kháng chiến.
Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, Đảng ta mà đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh
đã vạch ra đường 1ối kháng chiến để chỉ đạo mọi mặt kháng chiến của quân và dân
ta. Đường 1ối đó được xuất phát từ những văn kiện chính sau đây:
- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946)
- Ban chi thị Toàn dân kháng chiến của Ban thường vụ trung ương Đảng
(22/12/1946).
-Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh 1947.
Từ những văn kiện ấy dần dần hình thành đường 1ối kháng chiến của ta. Đường
GVHD: Đào Thị Phú Lớp:
SVTH: Hoàng Thị Thủy Trang: 9
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
1ối đó 1à: Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, và tự lực cánh sinh. Đường
1ối này đã thể hiện tính chất của cuộc kháng chiến của nhân ta 1à:
- Cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh cách mạng chính nghĩa,
chống lại một cuộc chến tranh phi nghĩa của thực dân Pháp.
- Cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhằm mục đích: Giành độc 1ập và thống
nhất
Tổ Quốc, bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân.
- Trong cuộc kháng chiến này, dân tộc Việt Nam vừa đấu tranh để tự cứu mình,
vừa đấu tranh cho hòa bình thế giới.Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân
Việt Nam do đó còn là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc 1ập, vì dân chủ
hòa bình.
2. Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến.
- mục đích:là để tiếp tục sự nghiệp cách mạng t8, đánh thực dân pháp xâm
lược,hoàn thành giải phóng dân tộc, thống nhất thật sự cho tổ quốc
- tính chhất kháng chiến:cuộc kháng chiến của ta là chiến tranh nhân dân, chiến
tranh chính nghĩa =>có tính chất dân tộc và dân chủ mới
-chính sách kháng chiến:liên hiệp viới dân tộc pháp, chống phản động thực dân

ban hành. Bộ máy chính quyền với các cơ quan tư pháp tòa án , các công cụ chuyên
GVHD: Đào Thị Phú Lớp:
SVTH: Hoàng Thị Thủy Trang: 11
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
chính như vệ quốc đoàn công an nhân dân đc thiết lập và tăng cường. các đoàn thể
nhân dân như mặt trận việt minh , hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, đc xây dựng
và mở rộng.
- Về kinh tế, văn hóa: phát động phong trào tăng gia sx, cứu đói, xóa bỏ các thứ
thuế vô lí của chế độ cũ ra sắc lệnh giảm tô , xây dựng ngân quỹ quốc gia. Các lĩnh
vực sản xuất được hồi phục. cuối năm 45 nạn đói cơ bản đc đẩy lùi, năm 46 đời
sống nhân dân ổn định và cải thiện. phát hành tiền Việt Nam. Mở lại trường lớp,
phong trào bình dân học vụ thực hiện sôi nổi
- Về bảo vệ chính quyền cách mạng:
+ khi pháp nổ súng đánh chiếm nam bộ đg đã tổ chức nhan dân đứng lên kháng
chiến, ngăn không cho Pháp tiến ra trung bộ
+ bằng biện pháp hòa hoàn với tưởng rồi sau đó dàn xếp với pháp để đuổi quân
đội Tưởng Giới Thạch về nước. hiệp định sơ bộ 6/3/1946 cuộc đàm phán ở đà lạt
và phông ten nơ blô , tạm ước 14/9/46 đã tạo điều kiện cho ta có thêm thời gian để
chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới
* Ý nghĩa và tác dụng của đường lối kháng chiến chống Pháp
- Toàn bộ đường lối kháng chiến thấm nhuần tư tưởng chiến tranh nhân dân sâu
sắc. Nó chứng tỏ cuộc kháng chiến của ta là chính nghĩa, nên được nhân dân ủng
hộ.
- Đường lối kháng chiến có tác dụng động viên, dẫn dắt nhân dân ta tiến hành
cuộc kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù phải trải
qua nhiều hy sinh gian khổ nhưng nhất định sẽ giành thắng lợi.
- Bảo vệ được nền độc lập dân tộc, giữ vững chính quyền cách mạng
- xây dựng được nền móng đầu tiên cho một chế độ xã hội mới chế độ Việt Nam
dân chủ cộng hòa
GVHD: Đào Thị Phú Lớp:

SVTH: Hoàng Thị Thủy Trang: 13
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
lẽ đương nhiên chính quyền với nhân dân "phải kết thành một khối", chính quyền
phải gắn bó với dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân. Đảng ta quan niệm rằng:
"Chính quyền cách mạng phải mạnh. Sức mạnh của nó là sức mạnh của nhân dân.
Khi nhân dân yêu mến chính quyền của mình, hy sinh chiến đấu bảo vệ chính
quyền thì chính quyền ấy mới mạnh". Chính Lênin đã từng khẳng định: "Chỉ có
một chính quyền dựa một cách công nhiên và dứt khoát vào đa số nhân dân mới có
thể vững chắc được". Không chỉ gắn bó và dựa vào sức mạnh của nhân dân, mặc dù
đó là điều cực kỳ quan trọng và thiết yếu, mà chính quyền còn phải trở thành công
cụ làm chủ thật sự của nhân dân. Chính quyền phải bảo vệ quyền lợi của nhân dân
về mọi mặt chính trị, kinh tế, vǎn hoá, xã hội. Quyền làm chủ của dân, những yêu
cầu dân chủ cơ bản không phải là khái niệm trừu tượng, mà là những vấn đề cụ thể.
Những điều kiện cụ thể ấy được thể chế hoá bằng hiến pháp và hệ thống pháp luật,
quy chế, quy tắc trong đời sống xã hội, được ghi nhận và thực hiện qua các chính
sách kinh tế, xã hội. Hệ thống pháp luật và chính sách kết tinh ý chí, nguyện vọng
và lợi ích của nhân dân, nó càng đúng đắn và hoàn chỉnh bao nhiêu, càng thể hiện
quyền làm chủ của nhân dân bấy nhiêu. Đó cũng là thước đo trình độ của nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay. Nhân dân sử dụng quyền làm chủ và
quyền lực của mình không chỉ qua bộ máy nhà nước mà còn tham gia quản lý nhà
nước. Trong công tác quản lý của các cơ quan nhà nước dù là quản lý hành chính
hay quản lý sản xuất, kinh doanh, quản lý trật tự, trị an đều cần có sự tham gia của
quần chúng. Phải bằng công tác tổ chức công phu, tỉ mỉ, linh hoạt mới có thể lôi
cuốn nhân dân vào mọi hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội và đời sống. Vì
lẽ đó, "các cơ quan chính quyền các cấp điều hành công việc theo chức nǎng quản
lý nhà nước, đồng thời làm tốt công tác vận động quần chúng, tạo điều kiện để
nhân dân tham gia xây dựng, củng cố chính quyền". Là chính quyền nhân dân nên
mỗi người dân chẳng những có trách nhiệm tham gia quản lý và xây dựng chính
quyền, thực hiện tốt nhất nghĩa vụ của công dân, mà còn kiểm tra, giám sát hoạt
GVHD: Đào Thị Phú Lớp:

2. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất, sức mạnh và sự
tồn tại của chính quyền nhân dân
Khi chưa có chính quyền, Đảng của giai cấp công nhân phải tự đảm đương mọi
việc của quá trình đấu tranh cách mạng. Từ việc định ra đường lối chiến lược, sách
lược đến tuyên truyền, vận động nhân dân, giáo dục, huấn luyện, đào tạo cán bộ và
tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng để tiến tới giành lấy chính quyền.
Khi trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền, thì ngoài việc không ngừng củng cố mối
quan hệ mật thiết với nhân dân, Đảng còn phải thực hiện tốt sự lãnh đạo đối với
chính quyền, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng với tư cách người lãnh
đạo và chính quyền với tư cách người tổ chức quản lý. Cũng như ở nhiều nước,
thực tiễn của cách mạng Việt Nam cho thấy giai cấp công nhân và chính đảng của
nó nhất thiết phải nắm vững vai trò lãnh đạo, phát huy chức nǎng, nhiệm vụ của
chính quyền, một mặt, để trấn áp kẻ thù của giai cấp và dân tộc, mặt khác, để lãnh
đạo, tổ chức sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiến thiết đất nước, chǎm lo mọi
mặt đời sống nhân dân nhằm giữ vững bản chất cách mạng của chính quyền nhân
dân. Thực tế xây dựng và bảo vệ chính quyền trong những nǎm 1945-1946, trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã và đang khẳng định sự lãnh đạo của
Đảng đối với chính quyền và toàn xã hội là nhân tố quyết định thắng lợi của cách
mạng. Nhưng thực tế cũng khẳng định: "Tǎng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước không có nghĩa là Đảng bao biện công việc của Nhà nước, làm lu mờ tác
dụng của Nhà nước. Trái lại, lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước chính là nhằm
nâng cao vị trí, tác dụng, uy tín và ảnh hưởng của Nhà nước, tǎng cường sức mạnh
của Nhà nước, làm cho Nhà nước đủ sức làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình, thực
hiện đường lối chung của Đảng". Đồng thời với tình trạng Đảng bao biện, làm thay
công việc của Nhà nước còn có một khuynh hướng sai lầm khác là buông lỏng sự
lãnh đạo của Đảng, khoán trắng cho cơ quan Nhà nước, để các cấp chính quyền có
nơi có lúc tự ý có những chủ trương và việc làm sai trái đối với đường lối, chính
GVHD: Đào Thị Phú Lớp:
SVTH: Hoàng Thị Thủy Trang: 16
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM

trong đó trọng tâm là xây dựng, lấy xây dựng làm điều kiện cho bảo vệ. Trong
cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược, Trung ương Đảng, Bác
Hồ đã đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo - "Toàn dân, toàn diện,
trường kỳ, lấy sức mình là chính", kháng chiến đi đôi với kiến quốc để kháng
chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Qua đó, làm chuyển hoá thế trận, thay đổi
tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng, từng bước tiến lên giành thắng lợi
hoàn toàn.
Qua bài tiểu luận chúng ta đã hiểu được phần nào lịch sử kháng chiến cứu
nước của dân tộc ta, một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử nước
nhà, một chính quyền nhân dân non trẻ phải đứng trước vô vàn khó khăn thử
thách, như lịch sử đã ghi lại “ ngàn cân treo sợi tóc”, chúng ta có thể mất nước bất
cứ lúc nào, tuy nhiên dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
chúng ta đã từng bước tháo gỡ khó khăn, xây dựng được chính quyền vững mạnh
dựa vào sức mạnh của toàn dân. Giai đoạn này đã để lại bài học kinh nghiệm sâu
sắc cho Đảng và nhân ta trong thời lỳ hiện nay, xây dựng và phát triển đất nước
dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô giáo bộ môn đã nhiệt tình giúp đỡ chúng
em hoàn thành bài tiểu luận này. Do tầm hiểu biết còn hạn hẹp trong bài tiểu luận
có điều gì thiếu sót, chúng em rất mong được sự góp ý của cô cũng như các bạn.
GVHD: Đào Thị Phú Lớp:
SVTH: Hoàng Thị Thủy Trang: 18
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
Ý KIẾN CỦA GVHD


SVTH: Hoàng Thị Thủy Trang: 20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status