TÌNH HÌNH CÔNG GIÁO VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI
VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ
BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ 1991 ĐẾN 2001
1.1. Tình hình Công giáo ở tỉnh Đồng Nai
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai
Đồng Nai là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, vùng đất chuyển tiếp giữa
cực Nam Trung bộ, Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ. Có địa giới hành chính
tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố.
Phía Đông nam giáp thành phố Hồ Chí Minh (cách 30km) đồng thời nằm
trên cửa ngõ vào thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế, văn hoá của cả nước;
phía Tây bắc giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước; phía Đông giáp tỉnh Bình
Thuận; phía Đông bắc giáp tỉnh Lâm Đồng; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu.
Địa bàn tỉnh, kể từ sau ngày giải phóng, qua nhiều lần chia tách, hiện nay
Đồng Nai có một thành phố và tám huyện (Tân Phú; Định Quán; Xuân Lộc; Thống
Nhất; Vĩnh Cửu; Long Khánh; Long Thành; Nhơn Trạch) và thành phố Biên Hoà -
Trung tâm kinh tế - chính trị văn hoá xã hội của tỉnh.
Đồng Nai được Trung ương xác định cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Bình
Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu hợp thành tứ giác động lực trọng điểm kinh tế của
phía Nam.
Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 5.864,77km
2
chiếm 1,76% diện tích tự
nhiên của cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ. Dân số
của tỉnh có trên hai triệu người, mật độ dân số bình quân là 353 người/ km
2
, gấp
1,4 lần so với mật độ bình quân của cả nước, là tỉnh đông dân thứ 7 sau thành phố
Hồ Chí Minh, Hà Nội và các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tây, An Giang. Dân số
của tỉnh có nguồn gốc của 60 tỉnh - thành trong cả nước với cộng đồng dân cư của
gần 40 dân tộc anh em, trong đó dân tộc kinh chiếm 94%. Ngoài ra các dân tộc bản
quân sự được xây dựng từ thời kỳ chiến tranh xâm lược của Mỹ, đạt tiêu chuẩn quốc
tế.
Hệ thống sông suối, do nằm trong vùng chuyển tiếp nên Đồng Nai có mật độ
sông suối dày. Toàn tỉnh có khoảng 40 sông, suối lớn nhỏ, trong đó đáng kể nhất là
sông Đồng Nai, La Ngà, Thị Vải, Đồng Tranh, Buông... Ngoài ra, Đồng Nai còn có
các hồ, đập chứa nước lớn như hồ Trị An, Gia Ui... Sông Đồng Nai bắt nguồn từ
cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) là con sông nội sinh lớn nhất ở Việt Nam, có
đường thuỷ quan trọng nối liền từ Đồng Nai đi các tỉnh miền Tây Nam Bộ, thông
ra biển Đông rất thuận tiện cho giao thông đường thuỷ, cung cấp nước sinh hoạt.
Sông có nhiều bậc thềm với nhiều thác có thể xây dựng những công trình thuỷ
điện, công trình du lịch phục vụ cho quốc kế dân sinh như Thủy điện Trị An, khu
du lịch thác Giang Điền v.v... Ngoài ra sông Đồng Nai và những chi lưu của nó,
hiện nay được xây dựng những cảng sông quan trọng như cảng Long Bình Tân,
cảng Gò Dầu A, Gò Dầu B v.v... tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho việc phát triển
kinh tế - xã hội.
Trải qua suốt chiều dài lịch sử, Đồng Nai ngày nay mang những tên khác
nhau cụ thể là. Thời kỳ Nam Kỳ lục tỉnh mang tên tỉnh Biên Hoà, trong hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tỉnh Biên Hoà đã nhiều lần tách nhập cùng
tỉnh Bà Rịa, Thủ Dầu Một. Đến tháng 01 năm 1976 ba tỉnh bao gồm: Biên Hoà,
Long Khánh, Tân Phú sát nhập thành tỉnh Đồng Nai. Sau ngày miền Nam hoàn
toàn giải phóng 30/4/1975, thống nhất đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng
với cả nước Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai bắt tay vào khắc phục những hậu quả
chiến tranh, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, khôi phục kinh tế - xã
hội, ổn định đời sống nhân dân. Kết quả bước đầu Đồng Nai đã gặt hái được những
thành tựu quan trọng, đã tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật CNXH, đời sống nhân dân
từng bước được nâng lên, chính trị xã hội đã có bước chuyển biến đáng kể. Tuy
nhiên giai đoạn 1981 - 1985, nền kinh tế của tỉnh gặp nhiều khó khăn, lạm phát
tăng, mức tăng trưởng kinh tế phát triển chậm, đời sống nhân dân có xu hướng
giảm sút, tình hình an ninh trật tự có chiều hướng diễn biến phức tạp.
Năm 1986, dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng. Phát huy sức mạnh
với cấp trên của Đảng bộ tỉnh. Kinh tế Đồng Nai đã có sự phát triển nhanh và ổn
định, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong tỉnh từng bước được cải
thiện và nâng cao.
Về mặt chính trị - xã hội: Giai đoạn từ 1991 đến 2001 Đồng Nai không chỉ
dành được những thành tựu to lớn trên lĩnh vực kinh tế mà còn đạt được nhiều
thành tựu nổi bật trên các lĩnh vực xã hội. Trong quá trình xây dựng và phát triển,
Đảng bộ và chính quyền các cấp ở Đồng Nai luôn quán triệt và thực hiện phương
châm; phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội tạo ra sự phát triển
hài hòa giữa kinh tế và xã hội: Hệ thống chính trị ở cơ sở luôn được củng cố kiện
toàn, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Khắc phục được nhiều vấn đề bức xúc
trong đời sống nhân dân như giải quyết việc làm cho người lao động, xoá đói giảm
nghèo và thực hiện cứu tế xã hội cho các đối tượng chính sách, gia đình neo đơn,
đặc biệt là đã khắc phục một bước các tệ nạn xã hội (như ma tuý, trộm cắp...)
Những thành tựu to lớn đó thể hiện vai trò quan trọng của Đảng bộ tỉnh trong lãnh
đạo, chỉ đạo, tổ chức nhân dân thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
Về giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá: Sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế, văn
hoá thể thao có bước phát triển. Tính đến năm 2001 tỷ lệ trường kiên cố là 14,4%
và 85,6% bán kiên cố, không có phòng học tạm; 58,4% có thư viện đạt chuẩn. Năm
2000, có 99% trẻ em trong độ tuổi được vào học lớp 1, gần 82% được học trung
học cơ sở , 40% học phổ thông trung học, số sinh viên đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp tăng 2 lần so với năm 1995, đội ngũ giáo viên được chuẩn hoá
chiếm 95%. Mạng lưới y tế xã, phường được củng cố, 100% xã có trạm y tế, 50%
số xã có bác sĩ; giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,5%. Các phong trào văn hoá
văn nghệ, thể dục thể thao được quan tâm đúng mức.
Công tác xây dựng Đảng bộ: Cùng với việc chăm lo phát triển kinh tế - xã
hội, Đảng bộ tỉnh luôn xác định công tác xây dựng Đảng bộ là khâu then chốt,
quyết định quá trình phát triển mọi mặt của tỉnh, do vậy đã thường xuyên chú trọng
xây dựng và chỉnh đốn Đảng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ. Năng lực tổ chức
lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và đội ngũ đảng viên được nâng lên một bước,
nguyên tắc tập trung dân chủ được quán triệt và thực hiện triệt để. Năm 2000 có
nhận là một tổ chức tôn giáo phải có đầy đủ 4 yếu tố đó là:
Có người sáng lập (giáo chủ)
Có giáo thuyết (giáo lý, giáo luật, giáo lễ...)
Có tổ chức giáo hội
Có tín đồ, có nơi thờ tự
Các đạo nào không đủ 4 yếu tố trên thì chưa được thừa nhận là một tổ chức
tôn giáo.
Đây cũng chính là cơ sở để chúng ta xem xét bất kỳ một tôn giáo nào. Do đó
việc nghiên cứu đặc điểm, tình hình Công giáo ở Đồng Nai cũng phải xuất phát từ
nguồn gốc xã hội, từ sự tồn tại về cơ cấu tổ chức cũng như các hoạt động của tôn
giáo.
Nguồn gốc ra đời và cơ cấu tổ chức của đạo Thiên Chúa giáo: Đồng Nai có
diện tích tự nhiên là 5.864,77km
2
, dân số 2,2 triệu người với 38 dân tộc anh em,
dân tộc ít người chiếm 6% dân số. Đồng bào là tín đồ tôn giáo có ở 17/38 dân tộc,
chiếm 52% dân số cả tỉnh. Trong đó giáo dân theo đạo Thiên Chúa giáo đông nhất
(718.255 người), chiếm 32,64% dân số của cả tỉnh và chiếm 12% tín đồ Thiên
Chúa giáo của cả nước. Đồng bào theo đạo Thiên Chúa giáo ở tỉnh Đồng Nai mang
đầy đủ đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hoá của đạo Thiên Chúa giáo cả nước. Có
3 nguồn gốc chính hình thành đạo Công giáo ở Đồng Nai: Giáo dân di cư từ các
tỉnh miền Bắc vào năm 1954, chủ yếu ở các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình,
Hải Dương... Giáo dân từ các tỉnh miền Trung và một số tỉnh miền Đông, miền Tây
Nam Bộ đến. Giáo dân là người Việt kiều từ Cămpuchia về nước trước và sau năm
1954. Có số ít giáo dân là người bản địa (người địa phương)... định cư tập trung
đông nhất là ở các huyện như Thống Nhất, Định Quán, Xuân Lộc, thành phố Biên
Hoà. Trước giải phóng Mỹ, Ngụy bố trí đồng bào Công giáo sống theo các trục lộ
giao thông chính như quốc lộ 1A, quốc lộ 20 và quốc lộ 51 tạo thành một vành đai
chắn trong âm mưu phòng thủ chiến lược của địch. Đây là đặc điểm nổi bật về tình
hình Công giáo ở Đồng Nai.
chúa, yêu nước, đặc biệt là coi trọng tôn kính các vị chức sắc. Những năm gần đây
giáo dân đã và đang phấn khởi trước chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước,
nhiều người đã bắt đầu quan tâm tham gia vào các đoàn thể chính trị xã hội, đã xoá
dần mặc cảm giữa lương và giáo, thực hiện chính sách: "Lương giáo đoàn kết" của
Đảng.
Đối với lĩnh vực kinh tế - xã hội: Dưới đường lối đổi mới do Đảng khởi
xướng lãnh đạo, nền kinh tế đất nước nói chung, cũng như của tỉnh và đặc biệt là
đồng bào giáo dân nói riêng ngày càng phát triển, ổn định, có nhiều vùng đời sống
của đồng bào được cải thiện rõ rệt. Một số vùng có ngành nghề truyền thống, tin
tưởng vào chính sách kinh tế của Nhà nước đã mạnh dạn bỏ vốn vào phát triển sản
xuất kinh doanh. Một số ít nhờ vào tiền, hàng của người thân từ nước ngoài gửi