dạy học đoạn trích kịch bản hồn trương ba, da hàng thịt theo hướng khám phá những sáng tạo nghệ thuật của lưu quang vũ cho học sinh miền núi - Pdf 22



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
ĐÀO THỊ THU HẰNG DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH KỊCH BẢN
“HỒN TRƢƠNG BA, DA HÀNG THỊT” THEO HƢỚNG
KHÁM PHÁ NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA
LƢU QUANG VŨ CHO HỌC SINH MIỀN NÚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH KỊCH BẢN
“HỒN TRƢƠNG BA, DA HÀNG THỊT” THEO HƢỚNG
KHÁM PHÁ NHỮNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA LƢU
QUANG VŨ CHO HỌC SINH MIỀN NÚI
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Hữu Bội Thái Nguyên - Năm 2012
i

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iii

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Mục lục ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 13
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1. Cơ sở lí luận 13
1.1.1. Kịch bản văn học 13
1.1.2. Đặc trưng thể loại kịch bản văn học 15
1.1.3. Vở kịch “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt” 18
1.1.3.1. Nguồn gốc của vở kịch 18
1.1.3.2. Tóm tắt vở kịch “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt” 19
1.1.3.3. Những điểm khác nhau giữa vở kịch “Hồn Trƣơng Ba, da
hàng thịt” với truyện cổ tích cùng tên 21
1.2. Cơ sở thực tiễn 30
1.2.1. Tình hình dạy học đoạn trích “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt”
của giáo viên trong nhà trường 30
1.2.2. Đặc điểm cảm thụ văn học của học sinh dân tộc thiểu số miền núi
đối với đoạn trích “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt” 32
1.2.2.1. Đặc điểm cảm thụ văn học của học sinh dân tộc thiểu số miền núi 32
1.2.2.2. Năng lực cảm thụ đoạn trích “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt”

Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 78
3.1. Thiết kế dạy học đoạn trích kịch bản “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt”
theo hướng tìm hiểu những sáng tạo nghệ thuật 78
3.2. Dạy thực nghiệm 90
3.2.1. Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm 90
3.2.2. Đối tượng, đại bàn và thời gian thực nghiệm 90
3.2.3. Nội dung thực nghiệm 91
3.2.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm 91
3.2.5. Kết luận chung về thực nghiệm 96
PHẦN KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
v

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

PHỤ LỤC 101 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại là một vấn đề
đã được đặt ra từ lâu trong thực tiễn giảng dạy văn học ở trường Trung học
phổ thông. Đây cũng là vấn đề quan tâm của nhiều giáo viên trong quá trình
đổi mới phương pháp dạy học.
Loại thể văn học thuộc về ý thức, về cách thể hiện cuộc sống trong văn
học cũng như cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ
thể. Tác phẩm văn học tồn tại trong những hình thức của các loại thể văn học.

hướng ngòi bút của mình vào tất cả mọi ngõ ngách của cuộc đời cũng như
tâm hồn của con người và cuộc sống, góp một tiếng nói thiết thực vào công
cuộc đổi mới nước nhà. Những vở kịch của Lưu Quang Vũ là tiếng nói phản
ánh cuộc sống đang diễn ra với một hiện thực tươi mới, gần gũi. Có thể
nói, di sản của Lưu Quang Vũ, đồ sộ về khối lượng, phong phú về nội dung,
đa dạng về thể tài và phong cách. Đúng như nhà nghiên cứu Phan Ngọc
nhận định: Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch lớn nhất thế kỉ này của Việt Nam,
là một nhà văn hóa.
1.3. Trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ, đáng chú ý nhất là vở
“Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt”. Từ một truyện cổ dân gian nhà viết kịch đã
sáng tác thành một vở kịch hiện đại, phản ánh hiện thực và đặt ra những
vấn đề mới mẻ về cách sống và quan niệm sống của con người trong xã
hội. Lưu Quang Vũ đã “Đổ rượu mới vào bình cũ, kể lại chuyện hài cổ
như một bi kịch triết lí thời nay với hai chiều kích đa thoa: chiều kích nhân
sinh - xã hội và chiều kích bản thể - siêu hình” [25, tr. 272]. Tác phẩm được
đánh giá là một vở kịch đặc sắc nhất thể hiện rõ nét phong cách nghệ
thuật kịch độc đáo của tác giả Lưu Quang Vũ.
“Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt” là một trong số ít kịch bản văn học
được đưa vào chương trình giảng dạy ở Trung học phổ thông. Khi giảng
dạy tác phẩm này, mặc dù giáo viên đã vận dụng phương pháp dạy học
mới, song vẫn còn nhiều vướng mắc, hiệu quả giảng dạy vẫn chưa cao, đặc
biệt là khi dạy tác phẩm này cho đối tượng học sinh là người dân tộc
thiểu số miền núi. Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi thấy, các em gặp nhiều
khó khăn trong việc cảm thụ nội dung tư tưởng và nghệ thuật của vở kịch: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
các em không nắm được đặc trưng thể loại kịch, không hiểu hoặc hiểu không

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
Song tác giả bài viết lại chưa nói gì tới những sáng tạo nghệ thuật của Lưu
Quang Vũ, mà chỉ nói tới ý nghĩa nội dung của vở kịch: “Từ văn bản, các cuộc
đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt, với người thân và với Đế Thích,
dễ nhận thấy có một triết lí quan trọng được quan tâm: hồn và xác là hai thực
thể quan trọng làm nên nhân cách con người. Để là chính mình, để không giả
dối và phân thân, cần có cuộc sống hài hòa của thân xác và tâm hồn”.
- Trong cuốn “Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 12”, chương trình
nâng cao, nhà xuất bản Giáo dục (2008), tác giả Lê Quang Hưng

định hướng phân
tích kịch bản văn học “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt” có nói tới những sáng tạo
nghệ thuật của tác giả Lưu Quang Vũ nhưng chỉ đề cập đến những điểm sau:
+ Qua diễn biến của xung đột kịch, cho thấy Lưu Quang Vũ đã khéo
dồn nén mâu thuẫn, đẩy tình huống kịch lên cao trào rồi giải quyết thật tự
nhiên, hợp lí.
+ Lưu Quang Vũ đã khéo mượn lời các nhân vật khác - những người
thân trong gia đình Trương Ba để chỉ ra điều đó (nỗi đau khổ của hồn
Trương Ba).
- Cuốn “Lưu Quang Vũ - Tài năng và lao động nghệ thuật” do tác giả
Lưu Khánh Thơ biên soạn, nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội (2000)
có các bài viết về vở kịch “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt” của Phan Ngọc,
Cao Minh, Lưu Khánh Thơ. Các tác giả này đều nhấn mạnh đến sự sáng tạo nghệ
thuật nổi bật của Lưu Quang Vũ khi xây dựng vở kịch này là khai thác các mô típ
dân gian để viết kịch bản mang đậm dấu ấn cá nhân và phong cách riêng. Ý nghĩa
của vở kịch không chỉ đề cập đến chuyện của một thời mà còn đề cập đến chuyện
của muôn đời.
- Bài “Nhân đọc và xem "Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, của tác giả Phan

khác để sống lại nhằm chứng minh cho một luận đề: người ta sống không phải
bằng thân xác”. (Phan Trọng Thưởng)
Trong cuốn sách này còn có bài viết “Con đường sáng tạo của một
tài

năng” của nhà nghiên cứu Ngô Thảo bàn về phong cách kịch Lưu
Quang Vũ. Theo tác giả, phong cách kịch Lưu Quang Vũ có những điểm
nổi bật sau:
+ Phạm vi đề tài rộng rãi: từ cổ tích dân gian, từ lịch sử, dã sử đến các
đề tài hiện đại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6

+ Lưu Quang Vũ có khả năng đặc biệt trong việc tạo tình thế kịch. Trong
mỗi tình thế kịch, điều đáng quý là Vũ đã tạo dựng được một thế giới nhân
vật. Hàng loạt các nhân vật truyền thuyết, lịch sử được Vũ làm mới lại và
định hình trong đường nét được chấp nhận. Mỗi vở kịch Lưu Quang Vũ đều
xây dựng được những nhân vật đáng nhớ.
+ Lưu Quang Vũ có biệt tài xây dựng những nhân vật phụ có tính cách,
có cá tính, và rất “sống”. Vũ đặc biệt chú ý quá trình phát triển của tính cách
nhân vật. Nếu bố cục vở kịch của Vũ thường không có gì rối rắm thì trong
phân tích tâm lí, anh lại chú ý đến những bước phát triển tâm lí, đột biến,
những điểm ngoặt trong tính cách tạo nên những xen kịch bất ngờ, lí thú mà
sâu sắc.
+ Nét đặc sắc nổi bật của kịch Lưu Quang Vũ là ngôn ngữ nhân vật
thường không chỉ tự nhiên, gọn, sáng sủa mà còn nhiều sức gợi nghĩ… Ngôn
ngữ kịch của Vũ thường tự nhiên mà vẫn nhiều lớp lang ý tứ.

mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa.
+ Phê phán thói chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất,
những kẻ lấy cớ tâm hồn là đáng quý mà chẳng chăm lo đến đời sống
vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn.
- Về phương pháp:
Sách giáo viên cũng định hướng trên cơ sở các câu hỏi ở mục “Hướng
dẫn học bài” trong sách giáo khoa. Ở phần này có 7 câu hỏi. Các câu hỏi
1,2,3,4,6 tập trung phân tích xung đột kịch qua các cuộc đối thoại làm nổi bật
ý nghĩa triết lí của vở kịch. Câu hỏi 5 tìm hiểu về hành động kịch, ngôn ngữ
kịch. Câu hỏi 7 tìm hiểu ý nghĩa phê phán của vở kịch.
So với cuốn sách giáo viên chương trình cơ bản, sách giáo viên chương
trình nâng cao đã chú ý đến việc tìm hiểu những thành công nghệ thuật của
Lưu Quang Vũ trong vở kịch, song mới chỉ nói đến nghệ thuật xây dựng hành
động kịch và ngôn ngữ kịch.
2.2.2. Sách tham khảo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
 Cuốn “Thiết kế dạy học Ngữ văn 12” của Tiến sĩ Hoàng Hữu Bội, nhà
xuất bản Giáo dục, 2008 định hướng tiếp cận bản văn kịch “Hồn Trƣơng Ba,
da hàng thịt” với các nội dung:
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu ba xung đột được miêu tả trong đoạn trích:
+ Xung đột giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt.
+ Xung đột giữa hồn Trương Ba với những người thân trong gia đình.
+ Xung đột giữa hồn Trương Ba với Đế Thích.
- Về phương pháp:
Mỗi nội dung trên cần được tìm hiểu qua ba chặng: “Tái hiện cuộc
xung đột qua các lời thoại của các nhân vật -> phát hiện vấn đề được nêu

của Lưu Quang Vũ trong vở kịch.
Nhìn chung, các công trình, bài viết đều định hướng phân tích văn bản
theo đặc trưng thể loại kịch. Song chưa có công trình, bài viết nào quan
tâm tới việc dạy học văn bản “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt” cho đối
tượng học sinh dân tộc thiểu số miền núi. Những đề xuất, gợi ý của họ là
những đóng góp đáng kể cho việc dạy học văn bản kịch “Hồn Trƣơng Ba,
da hàng thịt” trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12. Những thành tựu
nghiên cứu khoa học đó là những tài liệu tham khảo quý báu cho chúng tôi
khi giải quyết đề tài này.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Phương thức hoạt động dạy và học của thầy và trò đối với việc dạy học
văn bản kịch “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt” theo hướng khai thác những
sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang Vũ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Dạy học trích đoạn kịch bản văn học “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt”
(sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12) theo hướng tìm hiểu những sáng tạo nghệ
thuật của tác giả Lưu Quang Vũ cho học sinh lớp 12 là người dân tộc thiểu số
miền núi đang học tập tại trường Văn hóa I - Bộ Công an, tỉnh Thái Nguyên.
4. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra phương án dạy học có hiệu quả đối với đoạn trích kịch bản “Hồn
Trƣơng Ba, da hàng thịt” theo hướng khám phá những nghệ thuật của Lưu
Quang Vũ cho học sinh các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
5.1. Nghiên cứu vấn đề ở bình diện lí luận: kịch bản văn học và đặc trưng về thể

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
đề tài được sát thực, góp phần nâng cao hiệu quả trong dạy học đoạn trích
kịch bản “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt”.
- Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm nhằm thực nghiệm những đề xuất
của luận văn.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Kịch bản văn học
1.1.2 Đặc trưng thể loại kịch bản văn học
1.1.3 Vở kịch “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt”
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình dạy học đoạn trích “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt” của giáo
viên trong nhà trường
1.2.2 Năng lực cảm thụ của học sinh dân tộc thiểu số miền núi với đoạn trích
“Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt”
Chƣơng 2: Đƣa học sinh dân tộc thiểu số miền núi đến với trích đoạn
“Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt” trong sách giáo khoa ngữ văn lớp 12
2.1 Đưa học sinh dân tộc thiểu số miền núi đến với những sáng tạo về nội
dung tư tưởng trong trích đoạn “Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt”
2.1.1 Đưa học sinh dân tộc thiểu số miền núi đến với tư tưởng triết lí nhân sinh
2.1.2 Đưa học sinh dân tộc thiểu số miền núi đến với ý nghĩa phê phán của
đoạn trích
2.2 Đưa học sinh dân tộc thiểu số miền núi đến với những sáng tạo về
thi pháp kịch
2.2.1 Đưa học sinh dân tộc thiểu số miền núi khám phá sự sáng tạo về

Theo cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” của các tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, thuật ngữ kịch được dùng ở hai cấp độ.
 Ở cấp độ loại hình
“Kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (Kịch, tự sự,
trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học. Nó vừa để diễn là chủ
yếu vừa để đọc. Vì vậy kịch bản chính là phương diện văn học của kịch.
Song, nói đến kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn
viên bằng hành động, cử chỉ, điệu bộ và bằng lời nói. (riêng kịch câm thì
không diễn tả bằng lời)” [9, tr.114]
Như vậy, nói đến kịch là nói đến một hình thức nghệ thuật đặc biệt, được
biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành động, cử chỉ và lời nói.
Từ đó bộc lộ suy nghĩ, tính cách của nhân vật và qua lời nói của các nhân vật
mà thấy được giá trị nội dung, nghệ thuật của vở kịch.
Kịch được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặc
những xung đột muôn thuở mang tính toàn nhân loại. Những xung đột ấy
được thể hiện bằng một cốt truyện có cấu trúc chặt chẽ qua hành động của các
nhân vật và theo quy tắc nhất định của nghệ thuật kịch. Trong kịch thường
chứa đựng nhiều kịch tính, tức là những căng thẳng do tình huống tạo ra đối
với nhân vật.
Phần lớn kịch được xây dựng trên hành động bên ngoài với những diễn
biến của chúng và theo nguyên tắc có sự đấu tranh chống lại của các nhân vật.
Tuy nhiên cũng có hành động bên trong, qua đó nhân vật chủ yếu là suy ngẫm
và chịu đựng một tình huống xung đột bên trong hết sức căng thẳng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Về mặt kết cấu, vở kịch thường chia thành nhiều hồi, cảnh, nhằm tạo ra
sự trùng khớp giữa thời gian, địa điểm và hành động kịch, đồng thời làm cho


15
thức kịch. Kịch bản là một bộ phận của văn học, nó vừa thuộc nghệ thuật
sân khấu vừa thuộc nghệ thuật ngôn từ. Nó giống như có hai cuộc sống.
Là vở diễn trên sân khấu, nó sống với công chúng khán giả. Là tác phẩm
văn học, nó sống với công chúng độc giả. Vì vậy, kịch bản không chỉ
được xem là bản gốc dùng để biểu diễn trên sân khấu, mà còn được xem
là tác phẩm văn học có thể dùng để đọc. Tuy nhiên kịch bản không thể
thay thế và bộc lộ được đầy đủ vẻ đẹp của một tác phẩm kịch như được
trình diễn trên sân khấu. Những nhà viết kịch nổi tiếng trên thế gới đều
thừa nhận mối liên hệ mang tính chất sống còn giữa kịch bản văn học với
bộ môn nghệ thuật sân khấu, trong đó kịch bản văn học là “linh hồn”
(Gôgôn) là cái gốc cho sự thành công mang ý nghĩa trọn vẹn này. Như
vậy, kịch bản văn học là một bộ phận hợp thành của nghệ thuật sân khấu.
Nhưng kịch bản văn học không chỉ có đời sống gắn bó với nghệ thuật sân
khấu, mà nó còn có đời sống độc lập riêng của nghệ thuật ngôn từ. Có thể
xem "Kịch", "Kịch bản văn học" hay "Văn học kịch" như những khái niệm
đồng nghĩa.
1.1.2. Đặc trƣng thể loại của kịch bản văn học
Theo cuốn giáo trình “Lí luận văn học” tập II, nhà xuất bản Giáo dục
(1996), kịch bản văn học có những đặc trưng cơ bản sau:
1.1.2.1. Xung đột kịch
Kịch bắt đầu từ xung đột. Phađêép khẳng định: “Xung đột là cơ sở
của kịch”. Hiểu theo nghĩa hẹp, xung đột trong tác phẩm kịch là sự phát
triển cao nhất sự mâu thuẫn của hai hay nhiều lực lượng đối lập thông qua
một sự kiện hay một diễn biến tâm lí cụ thể được thể hiện trong mỗi màn,
mỗi hồi kịch.
Có nhiều loại xung đột khác nhau. Có xung đột biểu hiện của sự đè nén,
giằng co, chống đối giữa các lực lượng, có xung đột được biểu hiện qua sự
đấu tranh nội tâm của một nhân vật, có xung đột là sự đấu trí căng thẳng và lí

với một tác phẩm kịch tất cả mọi vấn đề xoay quanh hình tượng đều nằm trong
“Ngôn ngữ nhân vật”. Đó là hình thái tồn tại duy nhất của ngôn ngữ kịch.
Ngôn ngữ đối thoại được coi là dấu hiệu đầu tiên của kịch. Ngôn ngữ đối
thoại là sự đối đáp qua lại giữa các nhân vật. Ngôn ngữ kịch bao gồm: đối
thoại, độc thoại và bàng thoại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
Đối thoại là lời các nhân vật nói với nhau, đây là thành phần lời văn quan
trọng nhất, giữ vị trí then chốt tạo nên cấu trúc của kịch bản văn học.
Độc thoại là lời nhân vật nói với chính mình. Lời độc thoại còn là lời
nói thầm. Trong kịch, lời độc thoại mang đậm tính ước lệ, bởi lời độc thoại
là lời nội tâm.
Bàng thoại là lời nhân vật nói riêng với khán giả. Lời bàng thoại thể hiện
rõ nhất tính chất trò diễn đầy ước lệ của ngôn ngữ kịch.
Dù là đối thoại, độc thoại hay bàng thoại, ngôn ngữ kịch đều nhằm khắc
họa tính cách, nội tâm nhân vật.
Ngôn ngữ kịch là một hệ thống ngôn ngữ mang tính hành động. Hệ thống
ngôn ngữ ấy có nhiệm vụ mô tả chân dung nhân vật kịch bằng hàng loạt các
thao tác hành động. Vì vậy, tính hành động là đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ
kịch, là cơ sở giúp cho đạo diễn, diễn viên xử lí thích hợp cho hành động của
nhân vật trên sân khấu.
Ngôn ngữ kịch là một hình thái ngôn ngữ hội thoại gần gũi với đời sống:
súc tích, dễ hiểu và ít nhiều mang tính chất khẩu ngữ.
1.1.2.4. Nhân vật kịch
Nhân vật kịch hình thành là do những lời lẽ của họ. Nghĩa là, tác giả xây
dựng nhân vật bằng ngôn ngữ hội thoại chứ không bằng ngôn ngữ miêu tả.
Nhân vật kịch chủ yếu là nhân vật loại hình. Qua lời đối thoại, độc thoại, nhân

Trương Ba vừa thốt lên câu nói đó thì bỗng nhiên có một cụ già xuất hiện
giúp cho đối phương chuyển bại thành thắng. Trương Ba nhìn tướng mạo cụ
già khác thường bèn cúi lạy. Cụ già đó chính là Đế Thích. Ông nói với
Trương Ba: “Từ lâu ta thấy chàng quá ư tự phụ, nói những lời khiếm nhã, ta
xuống trần thử tài của chàng một chút. Nay vì chàng có cặp mắt tinh đời, lại
có lòng thành thực, ta cho chàng ba nén hương, khi cần gặp ta thì đốt nhang
lên khẩn cầu, ta sẽ xuống giúp”. Trương Ba đưa hương cho vợ cất kĩ, phòng
khi có việc bất trắc mới dùng. Ít lâu sau Trương Ba bị bệnh nặng qua đời. Vợ
con bối rối quên mất ba nén hương đã cất. Đến một trăm ngày, quyét dọn nhà
cửa thấy ba nén hương còn nguyên, đem ra đốt. Ở trên thiên đình, ngửi thấy
mùi hương, Đế Thích bay xuống hạ giới, đến nhà Trương Ba, mới biết Trương
Ba đã mất. Vợ Trương Ba cầu xin Đế Thích cho Trương Ba sống lại. Đế Thích
trả lời: “Trương Ba đã chết trăm ngày rồi, hồn lìa khỏi xác, xác đã thối rữa,

Trích đoạn Đánh giá kết quả thực nghiệm Kết luận chung về thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status