Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
DƢƠNG VĂN HOÀNH
HIỆN TƢỢNG ĐẶC THÙ TRONG NGHỆ THUẬT
GIEO VẦN THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN Thái Nguyên, năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc và tình cảm chân thành, tác giả xin trân trọng
cảm ơn Khoa Ngữ Văn, Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái
Nguyên - Đại hoc Thái Nguyên cùng các thấy, các cô đã tham gia trực tiếp
giảng dạy và đóng góp ý cho tác giả trong suốt quá trình học tập , nghiên cứu
khoa học và hoàn thành Luận văn.
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng kính trong và biết ơn sâu sắc đối
với TS. Phạm Thị Phương Thái, người đã nhiệt tình trực tiếp hướng dẫn, giúp
đỡ tác giả nghiên cứu hoàn thành Luận văn.
Xin chân thành cảm ơn những ngươi thân trong gia đình, bạn bè đã
động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành khóa học.
Mặc dù tác giả đã có nhiều sự cố gắng, nhưng luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ quý thầy cô
và bạn bè đồng nghiệp quan tâm đến Luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2012
Tác giả
Dƣơng Văn Hoành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3.1.2. Nét độc đáo trong câu thơ sử dụng hiện tượng hài âm. 54
3.2. Gieo vần từ câu trên xuống câu dưới theo nguyên tắc hài âm. 63
3.2.1. Thống kê, phân loại 63
3.3. Liên hệ giữa lối hài âm trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Việt
Nam hiện đại. 66
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do khoa học
Quốc âm thi tập là tập thơ đầu tiên bằng tiếng mẹ đẻ của ta, cổ nhất,
chính xác nhất còn lại cho văn học Việt Nam. Với tập thơ Nôm này,
Nguyễn Trãi được đánh giá là “vĩ nhân… có một vị trí cao trong bảo tàng
văn học Việt Nam, đó là một nhà thơ mở đầu thơ cổ điển Việt
Nam[16.587- 638]. Bởi đây là một tập thơ có giá trị lớn cả về nội dung tư
tưởng và nghệ thuật. Cho đến nay giá trị của Quốc âm thi tập vẫn cần tiếp
tục được khẳng định trên nhiều phương diện, góc độ.
tiếp cận tri thức, rèn luyện khả năng tư duy và phương pháp nghiên cứu khoa
học. Đồng thời giúp cho người thực hiện đề tài có thêm những hiểu biết nhất
định về thơ Nôm Nguyễn Trãi - một tác phẩm lớn được giới thiệu và tuyển
chọn trong chương trình giảng dạy các cấp, các bậc học hiện nay. Chúng tôi
hi vọng công trình sẽ đóng góp tích cực vào quá trình giảng dạy và học tập
thơ văn Nguyễn Trãi trong nhà trường.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Tính đến nay, lịch sử nghiên cứu Quốc âm thi tập đã có một bề dày.
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiện
tượng đặc thù trong nghệ thuật gieo vần thơ Nôm Nguyễn Trãi cũng chưa có
là bao. Có thể kể đến một số công trình, bài viết tiêu biểu của các tác giả như
“Âm vang tục ngữ, ca dao trong thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” của
Bùi Văn Nguyên, “Hành văn trong thơ Nguyễn Trãi” của Xuân Diệu, “Cống
hiến của Nguyễn Trãi với tiếng Việt” của Hoàng Tuệ, “Nguyễn Trãi và thể thơ
Việt Nam trong Quốc âm thi tập” và “Thể loại thơ trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi và thi pháp Việt Nam” của Phạm Luận, “Một bản lĩnh thơ dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
tộc” của Minh Hiệu, Luận văn tiến sĩ của Phạm Thị Phương Thái “ Ngôn ngữ
và thể thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” Song, chúng tôi nhận
thấy, do mục tiêu nghiên cứu khác nhau nên việc tìm hiểu, khai thác và đánh
giá về tính dân gian và tính hiện đại trong nghệ thuật gieo vần thơ Nôm
Nguyễn Trãi còn thiếu tính cụ thể và chưa mang tính hệ thống.
Bùi Văn Nguyên với bài viết của mình đã có nhận định và chứng minh
của mình để thấy được tục ngữ và ca dao được sử dụng trong Quốc âm thi tập
khá nhuần nhuyễn, tác giả viết “Có thể nói yếu tố tục ngữ, ca dao khá đậm đà
trong nhiều câu, nhiều bài thơ quốc âm của Ức Trai tiên sinh.Tiếng nói của tổ
tiên ta được truyền lại gần như nguyên vẹn trong tục ngữ, ca dao qua bao thế
không biết rằng Nguyễn Trãi đưa tục ngữ, ca dao vào trong thơ mình hay là từ
thơ ông mà đưa ra cuộc sống để trở thành tục ngữ, ca dao tạo thành nguồn
vốn của dân gian.
Xuân Diệu với “Hành trang trong thơ Nguyễn Trãi”đã nghiên cứu cấu
trúc và cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Trãi trong thơ Nôm. Tác giả bài viết
đã rút ra rằng cách dùng từ đặt câu của Nguyễn Trãi chân phương, đưa vào
thơ nhiều Nôm nhiều từ ngữ sáng tạo, sinh động và tinh tế…
Ở một bài khác, bài “Quốc âm thi tập, tác phẩm mở đầu nền thơ cổ Việt
Nam”, đã bình khá sắc sảo về trường hợp gieo vần trong bài Bảo kính cảnh
giới số 22 của Nguyễn Trãi.Ông viết như sau: “bản lĩnh của Ức trai có cái
chất cứng, rất cứng. cái cứng ấy lộ ra trong văn của câu thơ, nếu chẳng hạn
nói “khó khăn trọn nghĩa, cháo càng ngon” thì cũng là một câu giáo huấn
bản thân mình , đặt cá tính của mình vào: “Khó khăn phải đạo, cháo càng
ngon”; láy tiếng đặt các vần trắc lặp lại ở giữa câu, làm cho nó cứng cỏi,
cương quyết, hai lần khẳng định[16.601]. Lời bình của Xuân Diệu làm nổi bật
loại gieo vần ở giữa câu – gieo đúng vào vị trí ngắt nhịp. Ông còn tinh tế nhận
ra đó là vần trắc, loại vần rất hiếm gặp trong thơ Đường luật và ông cho rằng
chính lối gieo vần này đã làm lên bản lĩnh cứng cỏi của Nguyễn Trãi trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
thơ Nôm. Như vậy Xuân Diệu đã tìm hiểu về gieo vần trong Quốc âm thi tập.
Tuy nhiên, thì việc tìm hiểu cũng chỉ mới dừng lại ở một trường hợp cụ thể
khi xem xét nhiều vấn đề thuộc nội dung tư tưởng của tập thơ mà thôi.
Hoàng Tuệ cũng đã nói đến bản lĩnh và cống hiến của Nguyễn Trãi đối
với tiếng Việt, Hoàng Tuệ khẳng định Quốc âm thi tập là biểu hiện một tư
tưởng chính trị, một ý chí đấu tranh. Nhưng tập thơ còn biểu hiện những vấn
đề của tiếng Việt sáu thế kỉ trước đây, và bản lĩnh ngôn ngữ của Nguyễn Trãi
trước những vấn đề ấy. Bản lĩnh ấy rất tích cực và đó là mặt khác trong cống
đó cho thấy sự phóng túng của Nguyễn Trãi trong việc sử dụng cách điệu thơ
Đường Luật. Pham Luận đã phân tích, chứng minh rất tỉ mỉ, thấu đáo để rút ra
kết luận: “Quá trình sáng tác thơ bằng tiếng Việt, Nguyễn Trãi đã tiếp thu sâu
sắc thi pháp luật Đường như thế nào. Nhưng điều đáng chú ý hơn là từ những
tiềm năng quý báu của thể thơ Trung Quốc này, Nguyễn Trãi đã có “một cố
gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam ở giai đoạn chữ Nôm mới bắt đầu
hình thành và phát triển” [55.856]. Phạm Luận còn phát hiện ra sự sáng tạo
của Nguyễn Trãi về cách gieo vần lưng đã thể hiện bước mở đầu trong quá
trính xây dựng thi pháp Việt Nam.
Trong “Mấy suy nghĩ về thể thơ sáu lời( lục ngôn) xen bảy lời
trong Quốc âm thi tập”, NgôVăn Phú cho rằng thể thơ thất ngôn và lục
ngôn có từ thời Trần, Nguyễn Trãi đã “đóng góp lớn cho thể thơ này định
hình và tồn tại”.
Từ những bài chính nói về thể thơ trong Quốc âm thi tập, chúng tôi
thấy các tác giả đều đánh giá đóng góp lớn lao của Nguyễn Trãi trong việc
định hình và khẳng định một thể thơ dân tộc. Tuy nhiên do sự biến thiên thời
gian, do các tài liệu lưu lại không còn đầy đủ, các tác giả cũng mới chỉ dừng
lại ở đó và câu giải đáp vẫn còn ở phía trước cần được tìm hiểu thấu đáo hơn.
Tuy “Hiện tượng đặc thù trong nghệ thuật gieo vần thơ Nôm
Nguyễn Trãi” mới chỉ “thấp thoáng” trong các công trình nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
trên, nhưng nó là sự gợi dẫn quý báu giúp chúng tôi tìm hiểu một cách cụ
thể hơn, hệ thống hơn về nghệ thuật gieo vần trong thơ Nôm Nguyễn Trãi.
Từ đó thấy được sự đóng góp to lớn của tác giả đối với sự ra đời của thể
loại thơ Nôm Đường luật nói riêng và tiến trình phát triển của nền văn học
nước nhà nói chung.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
chúng tôi tiến hành những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: tạo cơ sở lý luận vững chắc, đảm
bảo tính khoa học, tính chính xác cho đề tài.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Cụ thể hóa từng đối tượng phân tích
chi tiết. Trên cơ sở đó đưa ra kết luận tổng hợp về vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê phân loại: Để làm căn cứ cụ thể giải quyết một
cách triệt để mục tiêu của công trình nghiên cứu đó là nghệ thuật gieo vần
trong thơ Nôm Nguyễn Trãi.
- Phương pháp so sánh: Để tạo ra tương quan so sánh nhằm chỉ ra sự
tiếp nối cũng như tính sáng tạo mới mẻ riêng biệt của đối tượng nghiên cứu.
6. Kết cấu đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Luận văn gồm
ba phần:
Chƣơng 1: Nguyễn Trãi và một số vấn đề liên quan đến đề tài
Chƣơng 2: Tính dân gian trong nghệ thuật gieo vần của thơ Nôm
Nguyễn Trãi.
Chƣơng 3: Tính hiện đại trong nghệ thuật gieo vần của thơ Nôm
Nguyễn Trãi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
NỘI DUNG
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
một số nhà nho khác tìm cách ở ẩn mà khi nhà Hồ mở khoa cử ông đã ứng thi
và đỗ Thái học sinh cùng với cha mình là Nguyễn Ứng Long ra làm quan cho
nhà Hồ. Năm 1407 nhà Hồ bị thất bại trước sự xâm lược của quân Minh, cha
con họ Hồ và một số quan lại bị bắt trong đó có Nguyễn Phi Khanh thân phụ
của ông. Tướng giặc là Trương Phụ đã buộc Nguyễn Phi Khanh phải gọi
Nguyễn Trãi ra hàng và giam ở Đông Kinh. Nguyễn Phi Khanh đã khuyên
ông bỏ trốn và tìm con đường cứu nước, cứu dân. Nghe lời khuyên của cha,
trong suốt 10 năm trời li loạn từ 1407 đến 1418 ông đã “Lênh đênh góc bể
chân trời” đi tìm chân chúa nhằm cứu nước cứu dân. Cuối cùng ông đã tìm
đến Lê Lợi và dâng Bình Ngô Sách.
Từ đó Nguyễn Trãi đã được Lê Lợi tin tưởng và cùng bàn mưu lược
đánh giặc và trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến chống Minh. Dù đây là
những ngày tháng đầy khó khăn, gian khổ nhưng Nguyễn Trãi đã được mang
hết tài năng, trí tuệ để phục vụ cho cuộc kháng chiến mong muốn đánh đuổi
giặc Minh, mang lại hòa bình, xây dựng cuộc sống cho “Bách tính trăm họ”
ấm no, hạnh phúc. Có lẽ đó là những tháng ngày thỏa chí nhất trong cuộc đời
của Nguyễn Trãi.
Năm 1428 khi mà Lê Lợi lập nên nhà Lê chưa được bao lâu đã nghe lời
sàm tấu của bọn nịnh thần bức hại một số người tài giỏi giúp mình. Trần Nguyên
Hãn, Trần Văn Xảo đã bị bức tử và bị giết. Nguyễn Trãi bị Lê Lợi nghi ngờ, bắt
giam rồi được tha. Khi Lê Lợi mất, Lê Thái Tông nên ngôi, xuống chiếu phong
cho Nguyễn Trãi chức Nhập nội hành khiển môn hạ sảnh ty, hữu gián nghị đại
phu kiêm Hàn Lâm viện thừa chỉ học sĩ, tri quan tam sự tưởng là một lần nữa
được trọng dụng để mang tài năng giúp nước, giúp dân nhưng do bản tính thẳng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
thẳn và cương trực nên ông bị triều thần ghen ghét. Sống giữa trốn quan trường
chứng kiến đầy sự bất công, nghi kị xảy ra trong triều mà bất lực không làm gì
Việt ở phương diện người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Nguyễn Trãi đã
gắn văn hóa vào sự nghiệp cứu dân, cứu nước. Ông dùng ngòi bút của
mình, ngòi bút “Viết thư thảo hịch tài giỏi hay hơn hết thảy mọi thời”như
một vũ khí chiến đấu “có sức mạnh hơn nhiều đạo quân” để chống kẻ thù.
Nguyễn Trãi đã dùng tài năng văn chương của mình để tập hợp lực lượng,
cổ vũ tinh thần quân sĩ, góp công rất lớn cho sự thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống quân Minh. Ông gắn hoạt động văn hóa với hành động “Trừ
độc, trừ gian, trừ bạo ngược” và xây dựng lối sống cao đẹp có nhân cách
“Có nhân, có chí, có anh hùng”.
Cũng như đã nói ở trên, Nguyễn Trãi là người luôn đề cao tư tưởng
nhân nghĩa và làm cho tư tưởng đó ăn sâu và lan tỏa rộng khắp trong tâm
thức của xã hội, từ đó biến thành nguồn nội lực, thành sức mạnh của dân
tộc. Tư tưởng nhân nghĩa này được Nguyễn Trãi thể hiện qua lòng yêu
nước, thương dân, tình yêu thương nhân đạo sâu sắc , cao cả và được biểu
hiện rõ nét qua thơ văn của ông.Nguyễn Trãi “ca ngợi tình yêu thương
đồng bào cốt nhục, cuộc sống tươi đẹp yên vui, chống lại sự chà đạp lên
nhân phẩm con người và những hành động bất nhân, bất nghĩa. Thơ văn
của ông chiến đấu vì chính nghĩa, vì lẽ phải, vì đời sống ấm no hạnh phúc
của nhân dân, vì sự hòa bình muôn thủa, vì sự hòa hiếu giữa các dân
tộc ”[67.910]. Đóng góp của Nguyễn Trãi còn ở vị trí của ông trong sự
nghiệp văn chương của mình. Từ đó góp phần đua vị thế văn hóa, vị thế
của dân tộc được nâng tầm cao mới.
Ý thức đó, tấm lòng nhân nghĩa đó của Nguyễn Trãi luôn luôn như
dòng thác chảy không bao giờ ngừng nghỉ trong tiến trình vận động và phát
triển của nền văn hóa dân tộc. Những cống hiến lớn lao đó sẽ vẫn còn nguyên
giá trị đối với mỗi chúng ta.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
14
1418 Nguyễn Trãi đã dâng Bình Ngô sách cho Lê Lợi – Đây là thời điểm rất
quan trọng, là dấu mốc giúp cho cuộc khởi nghĩa rành những thắng lợi sau
này. Bắt đầu từ đây quân dân ta được sự lãnh đạo tài tình của Lê Lợi và
Nguyễn Trãi đã dành hết trận thắng này đến trận thắng khác. Là mốc son của
lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Đánh dấu sự thắng lợi và kết thúc cuộc
kháng chiến chống quân Minh thắng lợi bằng bản Đại Cáo Bình Ngô hào
hùng. Nguyễn Trãi đã đúc kết toàn bộ sự nghiệp chống giặc Minh của Lê Lợi
và cả dân tộc ta. Một trang lịch sử vẻ vang của dân tộc chống giặc ngoại xâm,
kết thúc thắng lợi mở ra một kỉ nguyên độc lập, tự do cho tổ quốc dân tộc.
Giai đoạn thứ ba đó là từ khi Lê Thái Tông lên ngôi 1428 thâu tóm
quyền lực tính đến khi Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi (1464). Nửa
đầu giai đoạn này nhà Lê tập trung quyền lực trong tay. Bộ máy nhà nước được
củng cố chặt chẽ, công tác lập pháp được các vua Thái Tổ, Thái Tông, Nhân
Tông và sau đó là Lê Thánh Tông ban hành những luật lệ để cai trị. Điều đó đã
góp phần tạo nên sự hùng mạnh của nước Đại Việt thế kỉ XV vào bậc nhất
Đông Nam Á thời kì bấy giờ. Tuy nhiên phải thấy rằng, khi tập trung quyền lực
vào trong tay Lê Thái Tố đã tỏ ra chuyên quyền, tin những kẻ nịnh thần bất tài,
ganh ghét những người trung quân tài giỏi, khi lên làm vua đã gây bất bình
trong nội bộ triều đình. Những công thần đắc lực giúp Lê Lợi chống quân Minh
lần lượt bị hãm hại hoặc sau đó bị Lê Thái Tông sát hại. Phần lớn những người
bị xử tội chết và bị giết xã hội đương thời đều kêu oan. Bên cạnh đó tình hình
lục đục, phe cánh hãm hại nhau diễn ra trong triều, các mâu thuẫn xã hội trở
nên sâu sắc, quan lại tham lam vơ vét của dân, đời sống nhân dân không được
cải thiện. Trong thời kì này Nguyễn Trãi chán nản và ông đã cáo quan về ở ẩn
tại Côn Sơn, sống cảnh đạm bạc hòa đồng với thiên nhiên, muông thú. Nhưng
rồi một thảm án thảm khốc đã giáng xuống ông và những người thân trong gia
tộc vào 1442 với vụ án Lệ Chi Viên “Chu di tam tộc”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
Trãi là lòng yêu nước, thương dân, là lòng nhân ái rộng lớn, chủ nghĩa nhân
đạo cao cả. tư tưởng nhân nghĩa được thể hiện sâu sắc trong sự nghiệp thơ ca
của ông. Cống hiến của Nguyễn Trãi cho nền văn hoá Đại việt ngay chính ở
vị trí Ức Trai trong sự nghiệp văn chương. Chính địa vị vĩ đại của Nguyễn
Trãi đã nâng cao vị thế của dân tộc. Những đóng góp trên chúng ta có thể thấy
qua rõ qua sự nghiệp văn chương của ông, đặc biệt là trong tập thơ Nôm Quốc
âm thi tập. Tập thơ là cột mốc đánh dấu của quá trình xây dựng và phát triển
nền văn hóa Đại việt nói chung, trong đó có văn học nói riêng.
1.2 Khái niệm về tính dân gian và tính hiện đại.
1.2.1. Tính dân gian
1.2.1.1 Tính dân gian và biểu hiện của tính dân gian.
Tính dân gian hay chất dân gian là khái niệm hay được sử dụng nhưng
chưa được định danh thật rõ ràng và chưa có mặt trong Từ điển thuật ngữ văn
học, Từ điển văn học
Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản rằng tính dân gian là những
cách nói, cách diễn đạt hết sức vần vè của dân gian. Đặc biệt là người dân
Việt hay thích nói kiểu vần vè với nhau trong giao tiếp. Thông qua những
hình ảnh được ví von hay so sánh.Nó xuất hiện rất nhiều qua các câu tục ngữ,
ca dao với một kho tàng đồ sộ.
Ví dụ như những câu sau đây :
Không ưa thì dưa có ròi.
Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng.
Hay :
Ăn vóc học hay.
Vụng chèo khéo chống.
Cách sử dụng từ ngữ một cách vần vè với nhau, hay sử dụng các từ láy
tạo nên những tiếng vang, sự uyển chuyển, nhịp nhàng trong cách nói là đặc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
Hiện đại khác với truyền thống, nếu như truyền thống là “các nhân tố
xã hội đặc biệt truyền tư đời này sang đời khác”(từ điển Hán - Việt Phan Văn
Các) thì hiện đại là những “nhân tố mới” của xã hội “thời nay” và đến “thời
nay” mới có.
Như vậy, liệu “hiện đại” có đồng nghĩa với “cái mới” hay không ? cần
phân biệt rõ hai phạm trù này.
“Cái mới” là cái chưa từng có trước đó.Tức là cái gì đó đến nay mới
xuất hiện thì là cái mới. Nội dung của phạm trù cái mới rất rộng. Nó bao gồm
cả cái mới tốt đẹp và cái mới không tốt đẹp.
Còn “hiện đại” như chúng ta đã cắt nghĩa, nghĩa là những gì tân kì, tân
tiến của thời nay. Đã là tân tiến thì nó không bao gồm cái xấu , cái phản thẩm
mĩ, không thể đồng nhất cái mới và cái hiện đại được. Phạm trù hiện đại hẹp
hơn phạm trù cái mới, hiện đại là những cái mới hợp thị hiếu, cái mới có tác
dụng thúc đẩy sự phát triển của thời đại.
Văn học Việt Nam trải qua các quá trình dài phát triển đến cuối thế kỉ
XIX đầu thế kỉ XX với những thay đổi của thời đại, văn học bước đầu đã có
những bước chuyển mình. Hấp thụ những tinh hoa văn hóa của nhân loại( văn
hóa phương Đông từ thế kỉ XX về trước và Văn hóa phương Tây từ thế kỉ
XX), đặc biệt với những vốn chắt chiu từ cuộc sống mới đầy ắp, văn học Việt
Nam lúc này đã xuất hiện những yếu tố mới. Nhưng không phải cái mới ngay
khi xuất hiện đã tạo ra sắc diện ngay cho nền văn học. Để có một nền văn học
hiện đại như ngày nay, văn học đã trải qua quá trình “hiện đại hóa”
Hiện đại trong văn học là một quá trình đưa nền văn học nước ta tiến
kịp với nền văn học các nước tiên tiến. Văn học hiện đại Việt Nam hình thành
trên cơ sở của sự phát triển của các đô thị lớn, sự hình thành giai cấp công
nhân cùng một lớp công chúng tiểu tư sản thành thị đã tiếp thu ít nhiều văn
các thể loại, ngôn ngữ, các phương tiện tạo hình, biểu hiện tạo thuận lợi cho
việc sáng tác. Người nghệ sĩ đã vận dụng các hình thức nghệ thuật nhằm tác
động vào những tình cảm tiềm tàng của người thưởng thức.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20
Những biểu hiện tính hiện đại trong thơ ca : nó biểu hiện ở 2 mặt nội
dung và hình thức, cụ thể:
Biểu hiện về mặt nghệ thuật đó là việc cách tân thơ ca nói riêng cũng
như văn học nói chung là yêu cầu và bước đi cần thiết ở Đông Nam Á khi mà
các nước trong khu vực muốn thoát khỏi sự ràng buộc của các thể chế xưa cũ,
hướng về văn minh phương Tây.
Không khí mới của thời đổi mới đã mang đến cho thơ ca luồng sinh khí
mới và cũng mang những hình thức biểu hiện mới. Có thể thấy, ở mỗi thời đại
, mỗi giai đoạn lịch sử thường sử dụng những thể loại thích hợp mà mà ở đấy
chúng ta thấy được sự vận động trong tư duy, sáng tạo của nhà thơ. Sự vận
động này thể hiện ở nhiều cấp độ: từ quan niệm về mối quan hệ giữa nhà thơ
và cuộc sống , thái độ của nhà thơ với cuộc đời đến tư thế cảm thụ và cách
bộc lộ cảm xúc thông qua hệ thống nghệ thuật (đối tượng thẩm mỹ, thể thơ,
ngôn ngữ, cách gieo vần, )
Chúng ta thấy rằng; thơ ca là nghệ thuật của ngôn từ, không phải ngẫu
nhiên mà các nhà nghiên cứu đã dành cho ngôn ngữ một vị trí xứng đáng
trong các định nghĩa về thơ: “Bài thơ, sự lưỡng lự kéo dài giữa âm và nghĩa”(
Voleli); “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp
nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ cho chính hình thức tổ chức ngôn
ngữ này”( Phan Ngọc).
Tham gia vào quỹ đạo của thế giới hiện đại, hình thức thơ có nhiều
cách tân hiện đại về ngôn ngữ và thể loại Từ trong ý thức, tình cảm các nhà
thơ Việt Nam đã phá vỡ khuôn khổ câu thơ cũ để được tự do hơn trong việc