Mấy nét đặc thù của nghệ thuật và khái
niệm "tính hiệu quả xã hội"
Viet-studies Mọi người đều biết sự không đồng nhất giữa vỏ ngôn ngữ và
khái niệm. Cùng một vỏ ngôn ngữ là “chủ nghĩa xã hội” có nhiều cách hiểu khác
nhau, kể từ cái chúng ta gọi là “khoa học, chính xác, chân chính…” cho đến cái
nguỵ, giả, phản lại thực chất của khái niệm đó. Trong lịch sử hơn thế kỷ qua,
chúng ta đã từng ghi nhận chủ nghĩa xã hội của Mác - Ăngghen – Lênin; bên cạnh
đó còn có thể thấy chủ nghĩa xã hội “không tưởng” của Furiê và Xanh Xi mông,
chủ nghĩa xã hội “hà khắc” của Bacunhin, chủ nghĩa xã hội “tả” khuynh của
Tơrốtxki, chủ nghĩa xã hội “nhà nước” của Xtalin, chủ nghĩa xã hội “duy ý chí”
của Khơrútsốp, chủ nghĩa xã hội “đồng phục” của Mao… Đối với khái niệm “chủ
nghĩa Mác-Lênin” cũng vậy – đã có bao nhiêu loại người khác nhau, thậm chí
không nhìn mặt nhau, cùng giương ngọn cờ chủ nghĩa đó.
Nhắc lại hiện tượng ai cũng thấy rõ ở đây chỉ cốt để lưu ý tới một điều
rằng: để hiểu được bản chất của một kiến giải, một khái niệm nào đó, chớ bị thôi
miên bởi vỏ ngôn từ mà hãy chịu khó lật xới lên lớp tầng ẩn sâu nhất của khái
niệm thông qua cách lý giải và hành vi của người sử dụng khái niệm đó. Một lần
nữa nhận xét của nhà triết học Áo L.Vítgenstanh (1889 – 1951) tỏ ra là xác đáng:
“Ngôn ngữ không những có thuộc tính biểu đạt mà còn có khả năng che giấu ý
nghĩa thật nào đó nữa”.
Trở lại vấn đề “tính hiệu quả xã hội” của nghệ thuật (chữ “nghệ thuật” ở
đây được dùng theo nghĩa rộng: hàm ý “tất cả các loại hình nghệ thuật”). Chúng ta
dễ thấy đây là một cách nói mới và khác của nhiều cụm từ chúng ta vẫn quen nghe
xưa nay như: tác dụng giáo dục của nghệ thuật, giá trị tuyên truyền của tác phẩm,
sự cảm thụ từ phía công chúng, ý nghĩa xã hội của tác phẩm, của hành vi nghệ
thuật…
Thuật ngữ mới thông dụng này có một ưu thế là dễ gợi cho người nghe tính
khách quan của sự đánh giá (đấy là “hiệu quả xã hội”, đâu phải là một đánh giá
của riêng ai!). Từ đây đã có thể thấy cánh cửa mở sang sự lý giải khác nhau về đặc
trưng, bản chất, đặc thù của nghệ thuật rồi. (Làm sao có thể tách rời cách hiểu tác
động của nghệ thuật ra khỏi cách hiểu về đặc thù của chính nó?).
nhân vật nọ).
Ý tưởng của M.Gorki cùng những thí dụ vừa nêu một lần nữa nhắc chúng
ta nhớ đến bản chất của nghệ thuật chính là ở chỗ nó đi vào cái không thể làm giả
được, đi vào cái đơn vị, cái “hạt cơ bản” của sự chân thực đời sống – ấy là tình
cảm của con người, hay nói đầy đủ hơn, - đời sống đa dạng, phong phú của con
người được tình cảm hoá.
Từ đây – trở lại vấn đề tác động của nghệ thuật – ta thấy nghệ thuật sẽ được
đón nhận ở lĩnh vực tinh tế nhất của con người – lĩnh vực tình cảm. Và chính vì
thế mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ 20 năm trước, trong tác phẩm Tổ quốc ta,
nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ, đã nói: Nghệ thuật có một “tác dụng
sâu xa, lâu dài, bền vững vô cùng” đối với công chúng. Đến lúc nào đó nó sẽ còn
“cần hơn cơm” bởi nó góp phần rất lớn xây dựng nhân cách bền vững của con
người. (Phải chăng những trường hợp thoái hoá của không ít cán bộ, mà ta vẫn gặp
trên đài báo viết về các địa phương, nhất là ở miền Nam, có thể lý giải một phần vì
những người đó, mặc dù mới hôm nào đây còn ở hầm ngầm, địa đạo, vào sinh ra
tử…, xét cho cùng vẫn chưa hề có một nhân cách định hình đủ sức miễn dịch
trước cám dỗ của quyền lực, của danh và lợi).
Một thời gian dài, không ít khi ta gặp cách hiểu nghệ thuật một cách đơn
giản hoá (tuyệt đối hoá các tính chất: phản ánh đấu tranh giai cấp, tuyên truyền ý
thức hệ, giáo dục đạo đức này nọ, đáp ứng yêu cầu tư tưởng nhất thời v.v…). Từ
đấy cái gọi là hiệu quả nghệ thuật của tác phẩm không ít khi cũng được hiểu thiên
về tác dụng tức thời, trước mắt, tác dụng tuyên truyền cổ động làm việc tốt. Minh
hoạ dễ thấy nhất của quan niệm này là thái độ một thời “kính nhi viễn chi” đối với
loại tranh tĩnh vật. Văn học nghệ thuật đôi khi bị biến thành kiểu “cần trồng khoai
tây vụ đông ư, - (một việc tầy đình, rất cần thiết, ở thời điểm này nhiều khi còn
cần cho xã hội hơn vô số thứ thơ văn bèo bọt, ngọt ngào, triết lý vẩn vơ!) – và thế
là có người ngộ nhận rằng cần một vở kịch, một bài thơ, một thiên bút ký nào đó
mà xem xong, mọi người nô nức kéo nhau ra đồng trồng khoai! Cần thu nhặt phế
liệu ư, - (một việc cũng rất chi là có ích!) - , thế là có người mơ ước xuất hiện một
tác phẩm nào đó mà đọc xong, các em thiếu nhi đổ xô đi làm “kế hoạch nhỏ”
Ônhêghin cất giọng đau đớn ca bài Aria khóc bạn – hối mình. Cả nhà hát Bônsôi
nín lặng lắng nghe, và khi tiếng hát vừa dứt – bỗng dậy lên những tràng vỗ tay như
sấm! Tôi, (dạo ấy còn “đầu xanh tuổi trẻ”), chưa hết bàng hoàng nhìn quanh bằng
con mắt của kẻ “mơ màng”: lẽ nào một người chết, một người khóc và thế rồi tất
cả vỗ tay! Chỉ một thoáng sau, tôi chợt nhớ rằng đây là sân khấu, đây là nghệ thuật.
Và nỗi đau, nỗi buồn trong cuộc đời khi đi vào nghệ thuật, diệu kỳ thay, đã biến
thành cái đẹp, thành vốn liếng vô giá trong hành trang tinh thần của con người.
Cũng vậy, cái buồn khắc khoải đến vật vã của một Đặng Thế Phong trong
Giọt mưa thu qua giọng ca Thanh Hoa lại đã khiến phòng hoà nhạc rung lên với
những tràng vỗ tay ran hồi lâu, và những bó hoa tươi của bao khán giả xúc động
chạy lên sân khấu tặng người hát đâu phải là dấu hiệu của một tâm trạng "bi quan,
uỷ mị, yếm thế” (?) trước cuộc đời sau tiếng hát đầy ma thuật ấy? Sự đồng cảm,
đồng điệu giữa người sáng tạo – người biểu diễn – người nghe đã dẫn đến một
hiệu quả nghệ thuật ngược hẳn với nỗi ái ngại cảu một số người: Cuộc đời này như
đẹp hơn, như đậm đà ý nhị hơn, con người như dễ thương yêu nhau hơn, khi có sự
hiện diện hết sức cụ thể của một tâm hồn đa cảm, dễ đau nhường ấy, một sự hoá
thân đến nhường ấy của lòng người vào thiên nhiên.
*
* *
Thế giới này muôn hình muôn vẻ, hàng triệu triệu người trên đời này nào
có ai giống ai – “bách nhân bách tính”, các cụ từ xưa vẫn dạy thế. Sự tiếp nhận
cuộc đời từ phía nghệ thuật vì vậy mà tránh sao khỏi sự đa dạng? Mọi ước mơ về
sự giống nhau trong mối cảm nhận thế giới – giống nhau đến mức tròn trịa, nhỏ
nhoi như những viên bi cồn phuốc – đã và mãi mãi sẽ là ảo tưởng. Chừng nào còn
nhân loại, chừng ấy nghệ thuật mà con người sinh ra sẽ còn đa dạng. Nói cách
khác, không hề là hậu quả từ ý muốn của một cá nhân nào, nghệ thuật, tự cội
nguồn của nó, không có phương thức tồn tại nào khác ngoài sự phong phú đa dạng
trên toàn cảnh của sự độc đáo, đơn nhất, không lặp lại về bản sắc của từng nghệ sĩ.
Trong sáng tạo nghệ thuật, nghệ sĩ nhân danh cá nhân và chịu trách nhiệm cá nhân
về hành vi xã hội mang tính công dân của mình. Đó lại là một nét đặc thù nữa của
đời không còn niềm vui thú nào hơn, nhưng cũng không ít người không chịu mất
dù chỉ một phút thì giờ rỗi rãi của mình để xem bất cứ một vở cải lương nào. Có
người đọc Cái đêm hôm ấy đêm gì…, Người đàn bà quỳ v.v… thì bực tức thấy
người viết dường như đã “bôi đen chế độ”, hoặc cho là những bài báo ấy vô bổ,
“rách việc thêm”, “nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”… Ngược lại, không ít
người cảm thấy đó là một biểu hiện của “ánh sáng đang đẩy lùi bóng tối” (như
cách nói của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh); lòng tin vào một tương lai tốt đẹp
được nhen nhúm dần trở lại chính là từ sự thức tỉnh đó của công luận, của lương
tâm. Có đáng ngại gì sự khác nhau đến đối chọi ấy trong dư luận xã hội, - nghệ
thuật vốn tồn tại và sẽ tồn tại như thế trong sự tiếp nhận đa dạng của công chúng:
Thời gian sẽ đưa ra lời phán xét đầy trọng lượng xem cách nhìn nhận nào gần chân
lý hơn. Điều này có nghĩa là ở đây nữa, trong lĩnh vực thưởng thức, cũng rất cần
phải tôn trọng quyền lựa chọn, quyền đánh giá khác nhau của hàng vạn, hàng triệu
công chúng vốn là cái gốc của nghệ thuật, vốn là lớp người mà vì hướng tới họ,
nghệ thuật đã sinh ra và tồn tại.
*
* *
Trở lên trên, người viết bài này (không hề có tham vọng trình bày vấn đề
một cách đầy đủ, “kín cạnh”), đã nhắc lại đôi nét về đặc thù của nghệ thuật – về
chiều sâu tình cảm, tính nâng cao và sự đa dạng của nó. Trong thực tiễn đời sống
văn hoá, sự chú ý thích đáng tới những nét đặc thù hiển nhiên ấy của nghệ thuật
trong nhiều trường hợp đã dẫn đến cách sử dụng khái niệm “tính hiệu quả xã hội”
một cách đúng đắn, khách quan. Nếu những nét đặc thù ấy bị xem nhẹ thì cách
hiểu khái niệm trên khó tránh rơi vào lối nghĩ đơn giản, phiến diện, mà theo đó thì
tác động của nghệ thuật đối với công chúng dường như phải tức thời, phải sao
chụp cuộc sống và phải nhất trí.
Không thoát khỏi được sức ám ảnh (nhiều khi bất thành văn) của chủ nghĩa
thực dụng, sơ lược có quán tính sâu xa ấy thì “tính hiệu quả xã hội” của nghệ thuật
– vốn được dùng như một vỏ ngôn từ dễ gây ấn tượng khách quan – sẽ không che
kín được cái lõi chủ quan. Và con đường đến với quảng đại quần chúng sáng tạo,