Trường……………….
Khoa………………….
TIỂU LUẬN
Vì sao cây lúa nước đã tạo ra nền văn
minh lúa nước đặc thù của Viêt Nam
và khu vục Đông Nam Á
1
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 1
1.Lý do chọn đề tài……………………………………………… …………… 3
2.Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu…………………….………….4
3.Đối tượng nghiên cứu………………………………….…………………… 5
4.Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………5
5.Đóng góp của đề taì……………………………………………………… ….5
Phần Nội Dung……………………………………………………………….
Chương I: Một số đặc điểm về nền văn minh lúa nước ở Việt Nam và Đông
Nam Á…………………………………………………………………………
1.Địa hình………………………………………………………………………
2.Tự nhiên ảnh hưởng đến việc trồng lúa……………………………………….
3. Vai trò của cây lúa và hạt gạo………………………………………………
Chương II: Một số cở sở lý luận về nền văn minh lúa nước tạo nên tính đặc thù
ở Việt nam và Đông Nam Á……………………………………………………
1.Văn minh lúa nước……………………………………………………………
2.Hiểu thế nào là Văn minh lúa nước…………………………………………
3.Các Điều kiện cơ bản của Văn minh lúa nước……………………………….
4.Lịch sử phát triển của Văn Minh lúa Nước………………………………….
5.Cải tiến nông cụ - cơ sở tăng năng suất………………………………………
6.Thủy lợi- yếu tố nền chính của văn minh lúa nước………………………….
Chương III Văn minh lúa nuớc tạo nên nét đặc thù của việt nam……………
Phần Kết luận………………………………………………………………
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Đưa ra đặc điểm để hình thành nền văn minh luá nước Đông Nam Á
3
- Đưa ra 1 số lý luận về nền văn minh lúa nước ở Đông nam Á
- Đưa ra nền văn minh lúa nươc đối với Việt Nam
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Bước đầu tìm hiểu đặc điểm để hình thành nền văn minh lúa nước ở Đông
Nam Á
- Phân tích một số lý luận về nền văn minh lúa nước ở Đông Nam Á
- Từ đó đưa ra nền văn minh lúa nước ở Việt Nam
3. Đối tượng nghiên cứu
Cây lúa nước tạo ra nền văn minh lúa nước đặc thù của Việt Nam và Đông
Nam Á.
4. Phương Pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu,phân tích số liệu, thông kê số liệu
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp quy nạp, diễn giải, tổng hợp
- Khai thác các thông tin trên mạng Internet
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài
gồm ba chương :
Chương I:Một số đặc điểm về nền văn minh lúa nước ở Việt Nam và Đông Nam
Á.
Chương II: Một số cở sở lý luận về nền văn minh lúa nước tạo nên tính đặc thù
ở Việt nam và Đông Nam Á.
Chương III Văn minh lúa nuớc tạo nên nét đặc thù của Việt Nam.
4
NỘI DUNG
5
Chương I: Một số đặc điểm để hình thành nên nền văn minh lúa
Liên hiệp Anh và Bắc IrelandAnh, Mỹ đưa ra từ những năm đầu khi nổ ra Thế
chiến thứ hai, nhưng chính thức đi vào lịch sử với ý nghĩa là một khu vực địa -
chính trị, và quân sự được bắt đầu từ khi Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevel
tvà Thủ tướng Anh Winston Churchill tại Hội nghị Québec lần thứ nhất vào
tháng 8 năm 1943 nhất trí thành lập Bộ chỉ huy tối cao quân Đồng Minh ở Đông
Nam Á. Trước đó, để chỉ khu vực này, người ta đã dùng nhiều tên gọi khác nhau
cho những mục đích riêng biệt.
2. Tự nhiên ảnh hưởng đến việc trồng lúa
Phải nói rằng gió mùa không chỉ đem lãi thuận lợi cho con người mà còn là
những yếu tố tự nhiên tác động và tạo nên sự thất thường cho khí hậu trong
vùng, với biên độ không lớn lắm. Mưa nhiệt đới trên địa bàn tự nhiên của khu
vực tạo ra những vùng nhỏ, xen kẽ giữa rừng nhiệt đới, đồi núi, bờ biển, và đồng
bằng, tạo nên những cảnh quan đa dạng. Thực tế đó khiến cho Đông Nam Á
thiếu những không gian rộng cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên quy mô lớn,
thiếu những điều kiện tự nhiên cho sự phát triển những kĩ thuật tinh tế, phức tạp.
Ở đây không có những đồng bằng rộng lớn như vùng châu thổ sông Ấn sông
Hằng hay Hoàng Hà; cũng không có những đồng cỏ mênh mông như vùng thảo
nguyên. Không gian sinh tồn ở đây tuy nhỏ hẹp nhưng lại rất phong phú, đa
dạng. Con người có thể khai thác ở thiên nhiên đủ loại thức ăn để sinh tồn. Vì
thế có người gọi Đông Nam Á là khu vực khai thác thức ăn theo nghĩa rộng.
Những điều kiện đó rất thuận lợi cho cuộc sống con người trong buổi đầu,
nhưng không khỏi ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của một nền sản xuất
lớn, tạo nên một khối lượng sản phẩm lớn trong những giai đoạn phát triển sau
này của khu vực. Đồng thời, sự đa dạng, đan xen của những địa bàn sinh tụ nhỏ
trong văn hóa tộc người của cả khu vục và trong mỗi quốc gia.
3. Vai trò của cây lúa và hạt gạo.
- Vấn đề chính của trồng cây lúa là cho hạt lúa, hạt gạo.
- Có nhiều loại gạo: gạo tẻ, gạo nếp (dùng làm bánh chưng, bánh dày)…
7
+ Gạo nếp dùng làm bánh chưng, bánh dày hay đồ các loại xôi.Lúa nếp non
sang Nhật Bản, Hàn Quốc, những nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa
mạch. Ngày nay, giới khoa học quốc tế, kể cả các khoa học gia hàng đầu của
Trung Quốc đồng thuận cho rằng quê hương của cây lúa nước là vùng Đông
Nam Á và Nam Trung Hoa.
2. Hiểu thế nào là Văn minh lúa nước
Để khẳng định về các luận điểm cho một nền Văn minh lúa nước, chúng ta
phải hiểu rằng việc trồng trọt, thu hoạch, cất giữ, chế biến thành thực phẩm từ
sản phẩm của lúa nước là phải đạt đến một trình độ tiên tiến và đảm bảo sự
thặng dư thực phẩm phục vụ cho một xã hội dân cư đông đúc và thúc đẩy các
yếu tố khác của một nền văn minh ra đời.
3. Các Điều kiện cơ bản của Văn minh lúa nước
3.1. Môi trường
* Lượng m ưa hàng năm ở vào khoảng từ 2.000 - 2.500 mm,
* Vào thời kỳ tăng trưởng cần một lượng mưa vào khoảng 125 mm trong một
tháng,
* Thời kỳ thu hoạch cần nhiều nắng (ruộng khô càng tốt),
* Nhiệt độ môi trường thích hợp nhất, khoảng 21 - 27°C,
* Cư dân phải có kinh nghiệm trong việc tưới và tiêu (thủy lợi)
3.2. Yếu tố khác
* Khu vực canh tác phải có độ bằng phẳng rất cần thiết để duy trì mực nước từ
100 mm đến 150 mm để giúp cho cây lúa tăng trưởng và kết hạt tốt.
* Chính vì vậy, những khu vực đồng bằng và các lưu vực các con sông chảy qua
các miền nhiệt đới nhiều mưa sẽ là môi trường thận lợi cho cây lúa nước phát
triển. Ví dụ như đồng bằng sông Hồng, lưu vực sông Dương Tử thích hợp cho
cây lúa nước.
* Thời vụ là yếu tố cũng quan trọng không kém cho cây lúa nước, điều này thúc
đẩy việc sáng chế ra lịch tính ngày, tháng, năm à các mùa trong năm của các cư
dân trồng lúa nước.
9
* Giống lúa cũng là một yếu tố tăng năng suất và phẩm chất cho cây lúa nước
cửa sông Tiền Đường. Dân Hemudu đă trồng lúa, ăn cơm, để lại lớp rơm và trấu
dày 25-50 cm, có nơi dày đến cả mét, trên diện tích 400 mét vuông. Có thể đó là
lớp rác để lại trên sân đập lúa. Di chỉ thực vật củ ấu, củ năng ,và di cốt động vật
hoang hươu, trâu, tê giác, cọp, voi, cho thấy khí hậu vùng Nam sông Dương
Tử bấy giờ thuộc loại nhiệt đới, hoàn toàn thích hợp với việc canh tác lúa nước.
Nền văn hoá Hemudu xưa bảy ngàn năm có nhiều điểm gần gũi với văn hoá
Phùng Nguyên-Đông Sơn vốn là những văn hoá trẻ hơn nhiều sau hơn 3000
năm. Cư dân vùng nam Trường Giang lúc ấy có lẽ gần với cư dân Bắc Việt về
mặt chủng tộc và văn hoá hơn cư dân bắc Trung Hoa. Khuôn mặt đắp từ sọ
người Hemudu trưng bày ở Viện Bảo tàng Hemudu cho thấy họ giống người
thuộc chủng Nam Mongoloid, tức là chủng của người Việt Nam từ thời Đông
Sơn về sau. Sau văn hoá Hemudu, hàng loạt văn hoá lúa nước khác đã sinh ra
dọc lưu vực sông Trường Giang khoảng 4000 năm trước như Liangzhu,
Majiabin, Quinshanyang, Qujialing, Daxi, Songze, Dadunze. Điều kiện đồng
bằng sông Hồng là nơi rất thích hợp cho lúa hoang và sau này là lúa trồng. Thật
là kỳ lạ, người Việt trong cộng đồng chủng Nam Mongoloid là tổ tiên của văn
minh lúa nước.
5. Cải tiến nông cụ - cơ sở tăng năng suất
Trong di chỉ khảo cổ cho ta một bộ sưu tập các lưỡi cày bằng đồng phong
phú, vào giữa và cuối thời kỳ Đông Sơn đã xuất hiện khá nhiều đồ sắt và đồ
đồng đã chuyển sang các loại vật dụng trang trí và tinh xảo hơn. Ở giai đoạn
đầu, Văn hóa Phùng Nguyên, công cụ bằng đá còn chiếm ưu thế, nền kinh tế còn
mang tính chất nguyên thuỷ. Sang đến giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun và nhất
là Đông Sơn, nhiều loại hình công cụ bằng đồng ra đời và ngày càng phong phú
như lưỡi cuốc, lưỡi cày, lưỡi thuổng, xẻng, lưỡirìu, v.v. Mỗi loại hình công cụ
sản xuất cũng có các kiểu dáng khác nhau. Trong khoảng 200 chiếc lưỡi cày
bằng đồng có tới 4 kiểu dáng, đó là lưỡi cày hình tam giác có họng tra cán to
khoẻ được phân bố ở dọc sông Thao; lưỡi cày cánh bầu dục, hình thoi được
11
phân bố ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, lưỡi cày hình thoi được phân bố
Cây lúa nước chỉ có thể phát triển tốt khi sống ở những khu vực khí hậu phù hợp
như các vùng nhiệt đới, và đặc biệt tốt, năng suất cao khi hàng năm các con sông
lớn nhưsông Hồng, sông Mã mang theo một lượng phù sa mới, bồi đắp hàng
năm vào các mùa nước lũ. Nhưng nước để trồng lúa phải đủ và cũng vừa để cây
lúa sinh trưởng. Việc đảm bảo đủ nước và không thừa, để làm ngập úng đã buộc
các cư dân trồng lúa nước phải làm thủy lợi- cân bằng lượng nước cần thiết.
Thủy lợi tự nhiên và đơn giản nhất là đắp bờ ruộng và dẫn nước theo các con
kênh vào ruộng và khống chế lượng nước bằng độ cao của lối thoát nước. "Con
kênh" lớn nhất của cư dân trồng lúa nước chính là hệ thống đê điều hai bên sông
lớn để khống chế nước tràn vào ruộng và mùa lũ lụt hàng năm.
Trong một cuốn sách, Sauer viết như sau: “Về cái nôi của nền nông nghiệp
đầu tiên, tôi xin thưa rằng ở Đông Nam Á. Nơi này quy tụ đầy đủ những điều
kiện khác nhau cần thiết về vật lý thể chất, hóa học hữu cơ, khí hậu ôn hòa với
cả hai vụ gió mùa, với chu kỳ mùa mưa ẩm ướt và mùa khô tạnh ráo, sông nước
tiện cho viêc đánh cá, đất này là trung tâm điểm giao thương cả đường biển lẫn
đường bộ của Cựu thế giới. Không có nơi nào mà vị trí lại thích hợp và có đủ
yếu tố cung cấp cho sự phát triển nền văn minh hỗn hợp giữa nông và ngư
nghiệp tốt hơn nữa. Tôi (lời Sauer) sẽ chứng minh rằng ở trong vùng đất này,
ngay từ khi khởi thuỷ, nông nghiệp đã gắn chặt với ngư nghiệp; rằng ở đây
người ta gia súc hóa loài vật trước hết và đúng nghĩa, phải là trung tâm chính
của thế giới về kỹ thuật trồng cây và cải biến thảo mộc để gia tăng rau trái. Tôi
chấp nhận tiên đề quen thuộc là loài người học hỏi cách trồng cây trước khi
biết làm mùa với cách reo hạt giống”.
Một số nhà khoa học khác không công nhận Đông Nam Á là trung tâm phát
sinh nông nghiệp mà chỉ xếp hạng nó vào trung tâm thứ yếu. Một số khá đông
các nhà nghiên cứu khác cho rằng Nam Trung Hoa là trung tâm chính yếu phát
sinh trồng trọt song song với các trung tâm khác ở Trung Đông và Ấn Độ. Vì địa
thế và khí hậu, cũng như chủng tộc, miền châu thổ sông Hồng cùng nguồn gốc
13
trong tiền sử với Nam Trung Hoa. Việc liên hệ trong vài trăm ki lô mét với một
thì ngày nay nó còn có thể làm giàu cho người nông dân và cho cả đất nước nếu
chúng ta biết biến nó thành thứ hàng hóa có giá trị. Việt Nam là cái nôi của nền
văn minh lúa nước,hạt gạo gắn liền với sự phát triển của dân tộc cho đến nay
vẫn là nền kinh tế của cả nước. Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính
của thế giới. Đối với người Việt chúng ta cây lúa không chỉ là một loại cây
lương thực quý mà còn là một biếu tượng trong văn chương ẩn dưới "bát
cơm","hạt gạo".Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn
năm nay. Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh
nhưng hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một
lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều
thị trường lớn trên thế giới. Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong
những ngành ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được những
thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên
thế giới. Đối với người Việt chúng ta, hay phần lớn dân Á châu nói chung, cây
lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt gạo là một loại thực phẩm hết sức gần
gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong dinh dưỡng. Ngay từ khi còn
trong lòng mẹ, chúng ta đã làm quen với cơm gạo, và lớn lên theo cây lúa cùng
hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là một biểu
tượng của cuộc sống. Ca dao, khẩu ngữ chúng ta có câu “Người sống về gạo, cá
15
bạo về nước”, hay “Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v . Qua hàng nghìn năm lịch
sử, lúa đã là cây lương thực chủ yếu nuôi sống các thế hệ người Việt cho đến
nay. Trong đời sống tinh thần của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết vô
cùng. Điều đó được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách nói,
cách đặt tên, gọi tên từ cửa miệng của những người hai sương một nắng. Bắt đầu
từ lúc ném hột mộng xuống đồng. Thông thường ném buổi sáng thì buổi chiều
mộng "ngồi" được, tức là rễ đã bám được vào đất và mầm nhọn đã xuôi hướng
lên trời. Bác nông dân hoàn toàn có thể yên tâm vì nó đã sống được trong môi
trường mới, đích thực của nó.Qua hôm sau, mầm nhú lên cao hơn, bắt đầu có
chút xanh xanh, người ta bảo là mạ đã "xanh đầu". Mạ cũng có "gan". "Gan mạ
gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm chuối. Bởi vậy thấm đẫm
tình người và hồn quê, càng nắng mưa, sương gió, càng nồng nàn hoà quyện
thân thương. Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước -nền công
nghiệp lúa nước bao đời nay cho nên cây lúa gắn bó ,gần gũi với người Việt,
hồn Việt là lẽ dĩ nhiên. Từ ngàn đời nay,cây lúa đã gắn bó với con người,làng
quê Việt nam.Và đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh-nền
văn minh lúa nước. Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một
nét đẹp trong đời sống văn hóa và tinh thần.hạt lúa và người nông dân cần
cù,mộc mạc là mảng màu không thể thiếu trong bức tranh của đồng quê Việt
nam hiện nay và mãi mãi về sau. Trải qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và
giữ nước, dân tộc ta được thế giới tôn vinh có truyền thống anh hùng hàng đầu
chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc và có nền văn minh lúa nước (văn minh Sông
Hồng). Hai yếu tố này tạo nên bản sắc Văn minh Việt Nam.Ông cha ta đã nói:
với Quốc gia là “Dĩ nông vi thiên”; đối với nông dân là “Dĩ nông vi bản” “ Dân
dĩ thực vi thiên, thực dĩ an vi tiên” nghĩa là coi nghề nông là gốc, đảm bảo cái ăn
làm đầu, lấy lành làm đầu, đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm.Văn minh
Việt Nam có 3 giai đoạn lịch sử chủ yếu: Lạc Việt (đến trước thế kỷ thứ 3 trước
Công Nguyên); Đại Việt (từ thế kỷ 10 đên TK 18) và Đại Nam (từ thế kỷ
17
19).Các tài liệu nghiên cứu đều xác nhận người Việt cổ cùng chủng Nam
Mongoloid (Nam Trung Hoa) là tổ tiên của nền văn minh lúa nước thông qua
phytoliths (thạch thể lúa giàu Silica) và đồ gốm trộn trấu… tìm thấy từ khoảng
13.000 năm trước, tiếp đến di chỉ các thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, đồ gốm
sứ…của văn hoá Hoà Bình, Phùng Nguyên, Bắc Sơn, Đông Sơn… Nền Văn
minh lúa nước của người Việt bao gồm các giống lúa đa dạng (biểu hiện xôi ăn
có nhiều màu), có ruộng trồng lúa (biểu tượng bánh chưng là đất vuông) và nhờ
trời (biểu tượng bánh dày trời tròn) gắn liền với kỹ thuật canh tác, thuỷ lợi, vật
nuôi… và con người sống định canh định cư trong cộng đồng văn hoá làng xã
đông đúc của vùng châu thổ Sông Hồng, Sông Mã… rồi dần dần mở mang bờ
cõi vào miền Trung và đến đồng bằng Sông Cửu Long. Kỹ thuật trồng lúa nước
việc tìm hiểu văn minh lúa nước tạo nên nét đặc thù của việt nam và đông nam á
đó là một việc rất cần thiết vì qua việc tìm hiểu đó nó hình thành động cơ cho
người học tìm tòi,nâng cao trình đọ tự trang bị kiến thức vè lý luận và thực tiễn
khi còn ngồi trên ghế nhà trường Đại Học Sư Phạm Nghệ Thuật Trung ương.
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
NHẬN XÉT
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
……………….
BẢNG CHẤM ĐIỂM
Điểm bằng số
Điểm bằng chữ
Cán bộ chấm thứ nhất Cán bộ chấm thứ hai
22