Tài liệu Tiểu luận triết học "Quan điểm lịch sử cụ thể với công cuộc đối mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay" doc - Pdf 96

Tiểu luận triết học
"Quan điểm lịch sử cụ thể với
công cuộc đối mới kinh tế ở
Việt Nam hiện nay"

1
MỤC LỤC
Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
NỘI DUNG 3
I. Quan điểm lịch sử cụ thể 3
1- Cơ sở khách quan của quan điểm lịch sử cụ thể 3
2- Yêu cầu của quan điểm lịch sử cụ thể. 3
3- Tại sao phải vận dụng quan điểm lịch sử vào quá trình xây dựng
nền KTTT định hướng xhcn ở Việt Nam.
4
II.Quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN dưới góc nhìn
của quan điểm lịch sử cụ thể.
5
1-Những điều kiện cụ thể ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nền
KTTT định hướng XHCN.
5
2- Thực trạng xây dựng nền KTTT 8
III. Một số giải pháp nhằm xây dựng nền KTTT theo định hướng
XHCN.
12
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Bước vào thiên niên kỷ mới, loài người đã và đang có những bước tiến
quan trọng trong công cuộc trinh phục thế giới. Những thành tựu trong lĩnh vực

tại, vận động và phát triển trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể
xác định. Điều kiện không gian và thời gian có ảnh hưởng trực tiếp tới tính
chất, đặc điểm của sự vật. Cùng một sự vật nhưng nếu tồn tại trong những điều
kiện không gian và thời gian cụ thể khác nhau thì tính chất, đặc điểm của nó sẽ
khác nhau, thậm trí có thể làm thay đổi hòan toàn bản chất của sự vật.
2. Yêu cầu của quan điểm lịch sử cụ thể
Quan điểm lịch sử có 3 yêu cầu:
Thứ nhất: Khi phân tích xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong
điều kiện không gian và thời gian cụ thể của nó, phải phân tích xem những điều
kiện không gian ấy có ảnh hưởng như thế nào đến tính chất, đặc điểm của sự
vật, hiện tượng. Phải phân tích cụ thể mọi tình hình cụ thể ảnh hưởng đến sự
vật, hiện tượng.
Thứ hai: Khi nghiên cứu một lý luận, một luận điểm khoa học nào đó
cần phải phân tích nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh làm nảy sinh lý luận đó. Có
như vậy mới đánh giá đúng giá trị và hạn chế của lý luận đó. Việc tìm ra điểm
mạnh và điểm yếu có tác dụng trực tiếp đến quá trình vận dụng sau này.
Thứ ba: Khi vận dụng một lý luận nào đó vào thực tiễn phải tính đến
điều kiện cụ thể của nơi được vận dụng. Điều kiện này sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến kết quả của sự vận dụng đó.
3. Tại sao phải vận dụng quan điểm lịch sử vào quá trình xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam?
Trước tiên cần phải khẳng định rằng KTTT định hướng XHCN cũng là
một dạng vật chất. Nền kinh tế Việt Nam là một dạng vật chất xã hội theo sự
phân loại của triết học Mác-Lênin. Chính vì thế nền KTTT định hướng XHCN
4
Việt Nam cũng tồn tại, vận động và phát triển theo những nguyên lý, quy luật
của triết học Mác-Lênin, mà cụ thể là trong những điều kiện không gian thời
gian theo quan điểm lịch sử cụ thể.
Sự ra đời và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hơn 10 năm
qua đã góp phần thay đổi bộ mặt đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy

ngoài rất lớn. Thu nhập quốc dân trong nước, sản xuất chỉ đáp ứng được 80-
90% thu nhập quốc dân sử dụng. Đến năm 1985 tỷ trọng thu từ bên ngoài chiếm
10,2% thu nhập quốc dân sử dụng, nợ nước ngoài lên tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ
USD. Cũng vào các năm đó nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng khoảng trầm
trọng, siêu lạm phát ở mức 774,7% vào năm 1986 kéo theo giá cả leo thang và
vô phương kiểm soát.
Sự tàn phá của chiến tranh và nền kinh tế bao cấp yếu kém kéo dài đã để
lại nhiều hậu quả nặng nề: cơ sở vật chất thấp kém với nền KH - CN, kỹ thuật
lạc hậu, hầu hết các hệ thống máy móc trong các xí nghiệp đều do Liên Xô cũ
giúp đỡ từ trong chiến tranh nên năng suất thấp, chất lượng kém.
Điều kiện địa lý cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng mạnh mẽ đến
nền kinh tế. Về địa hình, nước ta trải dài trên nhiều vĩ tuyến, bề ngang hẹp, địa
hình phức tạp mang đậm nét của sự phân dị sâu sắc về điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội. Các đặc điểm này chi phối sự phân công lao động xã hội theo lãnh
thổ và phát triển các vùng kinh tế. Nằm ở Tây Thái Bình Dương và Đông Nam
Á, khu vực phát triển cao, ổn định, nơi cửa ngõ của giao lưu quốc tế, Việt Nam
có nhiều khả năng để phát triển nhiều loại hình kinh tế khác nhau dựa trên
những lợi thế về vận tải biển, dịch vụ viễn thông, du lịch. Tài nguyên khoáng
sản phân bố không đều trên các vùng, ngay ở mỗi vùng cũng phân tán và thiếu
đồng bộ không gắn với nhau gây khó khăn cho việc khai thác sử dụng chúng và
ảnh hưởng đến việc bố chí kinh tế của các vùng. Về dân số, nước ta có dân số
đông, nguồn lao động dồi dào nhưng phân bố cũng không đồng đều.
Về chế độ chính trị: Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một trong những
vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Theo các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác - Lênin thì kinh tế quyết định chính trị “ chính trị là sự biểu hiện
tập trung của kinh tế, chính trị không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để
6
thực hiện mục đích kinh tế.” Lênin đã chỉ rõ: “để thoả mãn những lợi ích kinh
tế thì quyền lực chính trị chỉ được sử dụng làm phương tiện đơn thuần.” Khẳng
định đó của Lênin không có nghĩa là phủ nhận vai trò quyết định của kinh tế đối

Thái Bình Dương, một khu vực được coi là có nền kinh tế năng động và có tốc
độ tăng trưởng cao nhất thế giới trong những năm gần đây. Hầu hết các nước
trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Inđônêsia đều đã tiến hành nền KTTT
được mấy thập kỷ và một số nước đã trở thành các nước công nghiệp mới
(NIC).
Như vậy thế giới và khu vực đã phát triển vượt ta khá xa về mọi mặt đặc
biệt là về kinh tế. Vì thế đã đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức trong qúa
trình phấn đấu xây dựng và cải tiến nền KTTT định hướng XHCN.
2. Thực trạng quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt
Nam dưới tác động của những điều kiện cụ thể
2.1 Giai đoạn 1986 - 1991
Đây là giai đoạn đầu chúng ta chuyển sang nền KTTT. Do chưa nhận
thức được đầy đủ những yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến nền kinh tế nên ta đã có
một số chính sách chưa đúng.
Một chính sách sai lầm trong giai đoạn này là tập trung công nghiệp hoá
- hiện đại hoá theo hướng ưu tiên cho công nghiệp nặng. Đây là một sai lầm
nghiêm trọng đã làm mất rất nhiều thời gian, tốn rất nhiều tiền bạc bởi lúc này
với xuất phát điểm và kinh tế rất thấp, cơ sở vật chất, công nghệ còn quá lạc
hậu thêm vào đó là thiếu vốn và thiếu đội ngũ các nhà khoa học tài giỏi.
Trong khi đó ta có đầy đủ điều kiện để phát triển công nghiệp nhẹ. Sự
khéo léo cần cù của người dân Việt Nam, sự ưu đãi của thiên nhiên khí hậu tạo
nên một danh mục nông sản đa dạng phong phú và nhiều loại hình sản xuất
hàng thủ công mỹ nghệ. Với những điều kiện đó ta hoàn toàn có thể phát triển
những ngành công nghiệp nhẹ mà chỉ cần ít vốn như công nghiệp chế biến thực
phẩm, đồ mỹ nghệ,
Chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nhưng trong giai
đoạn này lượng hàng hoá của chúng ta còn ít và chất lượng còn chưa tốt. Chính
vì thế, hàng hoá sản xuất ra không có sức cạnh tranh trên thị trường vì số lượng
8
hàng hoá ít nên phần lớn vẫn phải nhập khẩu và chưa xuất khẩu được hàng hoá

Một thành tựu quan trọng nữa là trong điều kiện nền kinh tế thế giới với
sự cạnh tranh rất khốc liệt gây ra sự phân cực giàu nghèo mạnh mẽ với nhiều
cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, Đảng ta kịp thời rút kinh nghiệm và đã
có những đường lối, chính sách định hướng cho nền kinh tế phát triển theo đúng
định hướng XHCN, hướng thị trường hàng hoá vào ưũy đạo cạnh tranh lành
mạnh cùng phát triển. Chính vì vậy nền KTTT của ta chẳng những không xảy ra
khủng hoảng mà còn tránh được ảnh hưởng tiêu cực từ những cuộc khủng hoảng
kinh tế ở các nước trong khu vực và thế giới mà cụ thể là cuộc khủng hoảng tiền tệ
vào năm 1997. Tuy nhiên nền kinh tế nước ta so với khu vực và thế giới vẫn là một nền
kinh tế kém phát triển, cần có nhiều biện pháp để phát triển theo kịp các quốc gia khác.
KTTT đã ra đời và phát triển qua nhiều gia đoạn và cho đến bây giờ nó
vẫn là kiểu kinh tế xã hội tiến bộ nhất. Trải qua các giai đoạn phát triển, KTTT
ngày càng được hoàn thiện và được áp dụng trên nhiều quốc gia. Nền KTTT
định hướng XHCN ở Việt Nam mặc dù mới ra đời cách đây hơn một thập kỷ
nhưng cũng đã trải qua nhiều thăng trầm, không ngừng vận động và luôn biến
đổi dưới sự tác động của nhiều yếu tố cả bên ngoài lẫn bên trong bản thân nền
kinh tế. Các yếu tố này vừa không ngừng có ảnh hưởng đến sự phát triển của
nền KTTT vừa chịu sự tác động của chính nền KTTT đó. Như vậy, trải qua mỗi
giai đoạn lại hình thành nên những yếu tố mới khiến cho công cuộc xây dựng và
phát triển nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam ngày càng phức tạp, đòi hỏi
phải có sự phân tích kỹ lưỡng chi tiết kịp thời từng yếu tố. Chính vì vậy quan
điểm lịch sử cụ thể luôn là quan điểm gắn liền với quá trình xây dựng nền
KTTT định hướng XHCN Việt Nam.
III. Một số giải pháp nhằm xây dựng nền KTTT theo định hướng XHCN
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang từng bước xây dựng cơ sở vật
chất để đẩy mạnh quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN nhanh
chóng đưa đất nước trở thành nước công nghiệp hóa hiện đại hóa. Và việc
nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng để tìm ra các giải pháp nhằm khắc
phục những mặt yếu kém phát huy những mặt mạnh đang là vấn đề bức thiết. Cụ
thể :

đổi tích cực: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 22,7% năm 1990
lên 30,3% năm 1995, tỷ trọng dịch vụ từ 38,6% lên 41,5%. Bắt đầu có tích luỹ
từ nội bộ nền kinh tế. Vốn đầu tư cơ bản toàn xã hội tăng từ 15,8% GDP năm
1990 lên 27,7% năm 1995. Lạm phát bị đẩy lùi từ 67,1% năm 1991 xuống
12,4% đầu năm 1995. Quan hệ sản xuất được điều chỉnhphù hợp hơn với yêu
cầu của lực lượng sản xuất. Số hộ có thu nhập trung bình số hộ giàu tăng lên, tỷ
lệ hộ nghèo giảm.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế nước ta vẫn còn
những hạn chế nhất định, đất nước ta vẫn còn chậm phát triển so với khu vực và
thế giới. Chúng ta cần phải áp dụng các giải pháp hợp lý để cải thiện tình hình,
đặc biệt chú trọng đến sự vận dụng đến sự vận dụng sáng tạo để có được một
nền KTTT hoàn chỉnh, phát huy hết tính ưu việt của nó và tránh được những sai
lầm của nền KTTT của các quốc gia khác.
Từng bước thực hiện các giải pháp để đề ra, Việt Nam sẽ có thêm tự tin
bước vào thế kỷ 21 với những thách thức mới, cơ hội mới. Nền KTTT định
hướng XHCN Việt Nam sẽ ngày càng phát triển ổn định và nhanh chóng đuổi
kịp trình độ của thế giới, trở thành một nước công nghiệp phát triển trong tương
lai không xa.
D.TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SÁCH:
- Nguyễn Sinh Cúc “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
- NXB Chính trị quốc gia TP - HCM, năm 1996.
- Giáo trình “Triết học Mác - Lênin” - Tập II, NXB Chính trị quốc
gia, 1997.
12
2. TẠP CHÍ:
- Nghiên cứu trao đổi số 11 tháng 6 năm 1998.
- Triết học số 4 (110) - tháng 8 - 1998.
- Những vấn đề kinh tế thế giới số 1 (45) năm 1997.
- Cộng sản số 4 (2-2000).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status