PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát triển của dân tộc
đó, để tồn tại cho đến ngày nay, nó đều phải dựa trên cơ sở của cái cũ và phát
triển thêm cái mới. Nền văn học của dân tộc Việt Nam cũng như vậy. Ra đời
sau văn học dân gian, văn học trung đại Việt Nam có điều kiện tiếp thu những
ánh sáng và tinh hoa từ nền văn học truyền thống mà cha ông ta đã dày công
xây dựng và để lại. Do đó văn học trung đại Việt Nam đã nhanh chóng phát
triển, sớm trở thành một bộ phận lớn của nền văn học nước nhà. Có thể nói,
văn học trung đại Việt Nam đã trở thành một mảnh đất tốt tươi, sản sinh, nuôi
dưỡng biết bao nhà thơ, nhà văn ưu tú và mỗi người có một phong cách sáng
tác riêng. Nếu đọc thơ Nguyễn Du ta bâng khuâng trước những giọt lệ cao cả,
chảy mãi ngàn đời giống như Chế Lan Viên đã đúc kết: “Tố Như ơi, lệ chảy
quanh thân Kiều” thì đến với Nguyễn Trãi ta bắt gặp một nhà quân sự làm thơ
hết sức tài tình: “Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu. Tiếng gươm khua, tiếng
thơ kêu xé lòng” (Tố Hữu).
Nguyễn Trãi là một nhà chính trị sáng suốt, một nhà quân sự lỗi lạc, một
nhà ngoại giao thiên tài, một nhà sử học, địa lý học và một nhà thơ, nhà văn
xuất sắc của văn học Việt Nam. Ở Nguyễn Trãi đã hội tụ tất cả “khí phách”,
“tinh hoa” nghĩa là những gì tốt đẹp nhất của dân tộc ta. Sinh ra và lớn lên
vào thời buổi lịch sử có nhiều biến động, cuộc đời Nguyễn Trãi cũng có nhiều
biến cố, thăng trầm. Tuy nhiên, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, ông cũng là
một tấm gương sáng, hết sức mẫu mực cho con cháu ngày sau noi theo và học
tập.
Với tư cách là một nhà văn, nhà thơ, Nguyễn Trãi đã để lại một khối lượng
tác phẩm đồ sộ - một di sản văn học quý báu muôn đời. Đúng như Phạm Văn
Đồng đã nhận xét: “…Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi là một bài ca
1
yêu nước và tự hào dân tộc”. Bước vào thế giới văn chương của Nguyễn Trãi,
người đọc như được sống trong một thế giới đa thanh, đa sắc, đa điệu. Đó là
lời sang sảng, hùng khí nhưng đầy nhân nghĩa của Bình Ngô đại cáo. Đó là
thi tập là tài liệu văn học cổ nhất hiện còn lưu giữ được của nền văn học quốc
âm. Giá trị của tập thơ không chỉ hạn hẹp ở những nét đặc sắc về nội dung mà
còn ở nghệ thuật biểu hiện. Theo tác giả Thanh Lãng, với những gì mà Quốc
âm thi tập đạt được thì Nguyễn Trãi xứng đáng là ông tổ của nền văn học cổ
điển. Không những vậy, ông còn là ông tổ của nền văn học dân tộc, nhưng có
tính chất không nguyên vì đem áp dụng luật thơ ngoại quốc vào việc chế tạo
thơ văn quốc âm, cụ thể trong việc sử dụng các loại thể hoặc thuần tuý Việt
Nam như loại thơ sáu chữ hoặc dung hoà Việt – Hán như lối bảy chữ xen sáu
chữ… Tác giả bài viết còn đánh giá cao Nguyễn Trãi ở công khai sinh một
nghệ thuật dùng ngôn ngữ của dân gian. Đây là điểm mới mẻ hơn các nhà thơ
văn sống sau ông hơn ba bốn thế kỷ. Cuối cùng, Nguyễn Trãi được đánh giá là
người dựng một cái mốc trên đà tiến của ngữ ngôn – một ngữ ngôn uyển
chuyển, tế nhị trong việc diễn tả mọi tình ý một cách độc đáo [12. tr. 805].
Cũng bàn về việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Trãi, trong bài Một vài
nhận xét bước đầu về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Trãi, sau khi nhận xét về
ngôn ngữ trong thơ chữ Hán, tác giả Nguyễn Tài Cẩn – Vũ Đức Nghiêu có
nói về ngôn ngữ trong thơ Nôm: Nói đến ngôn ngữ trong thơ Nôm Nguyễn
Trãi, điểm đầu tiên nổi bật là sự phong phú của tác giả về mặt dùng từ [20, tr.
181]. Tác giả bài viết đã thống kê toàn bộ các bài trong Quốc âm thi tập và
phát hiện ra Nguyễn Trãi đã dùng hơn một vạn một ngàn lượt từ (11.067),
trong đó có tất cả 2.235 từ khác nhau. Tác giả bài viết còn thống kê chi tiết số
từ xuất hiện một lần (2.122 từ) cho đến những từ xuất hiện từ mười lần trở lên
3
(272 từ). Thế là trong kho từ của Quốc âm thi tập, gần 46 trường hợp Nguyễn
Trãi đã không dùng từ lặp lại một lần nào – một tỷ lệ khá cao nếu đem so sánh
ngay với cả thể loại truyện ký của các nhà văn hiện đại [20, tr. 182]. Điều đó
chứng tỏ khả năng vận dụng từ ngữ phong phú, điêu luyện của Nguyễn Trãi.
Cuối cùng, để làm nổi bật vai trò của Nguyễn Trãi đối với nền thơ dân tộc, tác
giả bài viết còn khẳng định: Chúng ta quý Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta
khá nhiều thơ Nôm. Nhưng còn đáng quý hơn nữa là Nguyễn Trãi đã để lại cho
cạnh đó, đọc Quốc âm thi tập, tác giả bài viết còn phát hiện ra một vấn đề
khác: vấn đề chất liệu trong tiếng Hán mà Nguyễn Trãi đã dùng nhiều [12, tr.
820]. Song dùng nhiều tiếng Hán không có nghĩa là Nguyễn Trãi nghiêng về
nền Hán văn của Trung Hoa, không có nghĩa là Nguyễn Trãi đã đồng hoá kho
từ vựng và văn liệu Hán học. Trái lại, với ý thức dân tộc sâu sắc, với tấm lòng
yêu nước nồng nàn, Nguyễn Trãi đã cố gắng xây dựng ngôn ngữ văn học dân
tộc trên cơ sở ngôn ngữ của nhân dân và ngôn ngữ của văn học dân gian [5, tr.
257]. Đây là thành tựu lớn nhất mà trong bài viết Nguyễn Trãi và tấm lòng ưu
ái “đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”, tác giả Đinh Gia Khánh đã nhận
xét.
Nếu như tác giả trên chú ý khai thác đặc sắc nghệ thuật của quốc âm ở
phương diện ngôn ngữ thì tác giả Phạm Luận lại tiếp cận tập thơ ở phương
diện thể loại. Trong bài Nguyễn Trãi và thể thơ Việt Nam trong Quốc âm thi
tập, tác giả bài viết đã đối chiếu, so sánh khá tỉ mỉ những vần thơ quốc âm với
thơ Đường, từ đó khẳng định Nguyễn Trãi đã vận dụng thi pháp thơ Đường
một cách thành thạo. Nguyễn Trãi đã có sự sáng tạo khéo léo, tài tình: số lớn
các bài thơ đều ít nhiều có chỗ viết khác niêm luật thơ Đường. Điều này thể
hiện ở những câu 7 tiếng có cách ngắt nhịp (3/4) khác lối ngắt nhịp của thể
5
thơ Đường (4/3) [12, tr. 840], ở việc dùng câu 6 tiếng xen với câu 7 tiếng
trong bài thơ bát cú cũng như tứ tuyệt [12, tr. 841].
Cũng là tác giả Phạm Luận trong bài viết Thể loại thơ trong Quốc âm thi
tập của Nguyễn Trãi và thi pháp Việt Nam, sau khi căn cứ vào hình thức loại
biệt trong tổ chức chất liệu ngôn ngữ, tác giả đã chỉ ra ba thể thơ mà Nguyễn
Trãi sử dụng là thể luật Đường, thể thất ngôn, thể câu 6 chữ xen với câu 7
chữ. Ngoài ra, tác giả còn khẳng định trong quá trình sáng tác thơ bằng tiếng
Việt Nguyễn Trãi đã tiếp thu sâu sắc thi pháp luật Đường… [12, tr.856]. Và từ
những tiềm năng quý báu của thể thơ Trung Quốc này, Nguyễn Trãi đã có một
cố gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam, một thi pháp Việt Nam ở giai đoạn
văn học chữ Nôm mới bắt đầu được hình thành và phát triển [12, tr. 856]. Điều
một vài đặc sắc nghệ thuật như một hiện tượng riêng lẻ. Chính vì vây, với
công trình khoá luận này, trên cơ sở kế thừa và phát triển thành quả của
những người đi trước, chúng tôi muốn đưa ra một cái nhìn hệ thống và tương
đối toàn diện hơn. Từ đó khẳng định tài năng, vai trò, vị trí cũng như những
đóng góp của Nguyễn Trãi cho nền văn học dân tộc.
7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu của đề tài là đặc sắc thơ Nôm Nguyễn Trãi
được làm rõ trên phương diện nghệ thuật.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là Thơ Quốc âm Nguyễn Trãi, sách do Bùi
Văn Nguyên (biên khảo, chú giải và giới thiệu), của Nxb Giáo dục, năm 2003.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra, trong
luận văn này chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp thông dụng
trong nghiên cứu văn học như:
- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh.
- Phương pháp phân tích, chứng minh.
- Phương pháp tổng hợp.
5. Bố cục khoá luận
Ngoài phần Mục lục, phần Mở đầu, phần Kết luận và phần Tài liệu tham
khảo, luận văn của chúng tôi gồm có hai chương chính:
Chương I. NGUYỄN TRÃI – “KHÍ PHÁCH”, “TINH HOA” CỦA DÂN
TỘC VIỆT NAM
Chương II. QUỐC ÂM THI TẬP – SỰ KẾT TINH NÉT ĐẶC SẮC VỀ
NGHỆ THUẬT THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI
8
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. NGUYỄN TRÃI - “KHÍ PHÁCH”, “TINH HOA” CỦA
DÂN TỘC VIỆT NAM
lượng lẫn chất lượng. Trong lúc giặc Minh đang ráo riết để thực hiện ý đồ của
mình, Hồ Quý Ly đã ép Trần Thiếu Đế nhường ngôi cho mình, nhanh chóng
lật đổ nhà Trần (1400). Hồ Quý Ly lên ngôi vua với mong muốn chấn chỉnh
lại kỷ cương triều đình, bảo vệ đất nước. Nhưng ngay từ đầu, họ Hồ đã phải
đối mặt với một tình thế quá gay go – phải kế thừa một “gia tài phá sản” nặng
nề. Năm 1407, không thể chống chèo được nữa, “gia tài phá sản” ấy đã hoàn
toạn sụp đổ. Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt, nhà Minh sát nhập nước ta vào
lãnh thổ của chúng và đổi nước ta thành quận Giao Chỉ.
Từ khi đất nước rơi vào tay giặc Minh, đế chế này đã thi hành một bộ máy
hành chính, một chế độ quan liêu hà khắc vô cùng. Những tưởng chính sách
tàn bạo của chúng sẽ thiêu chết tinh thần yêu nước, ý thức tự cường của nhân
dân ta nhưng nhà Minh đã lầm. Người trước ngã, người sau đứng lên, sự
nghiệp đấu tranh của nhân dân Việt Nam vẫn được ấp ủ trong một nhóm
người lâu nay đang họat động bí mật ở vùng thượng du Thanh Hoá mà nổi bật
nhất là thiên tài Nguyễn Trãi.
Sau mười năm (1418 – 1428) kháng chiến gian khổ “máu trộn bùn tươi”,
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã toàn thắng. Cuộc khởi đã mở ra một kỷ nguyên
mới cho dân tộc, giang sơn thu về một mối, cả dân tộc bước vào cuộc trung
hưng lần thứ hai. Không chỉ tổ quốc dựng “đài xuân dân tộc” mà chế độ
phong kiến cũng đạt đến độ hoàng kim nhất ở nửa cuối thế kỷ XV.
10
Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi không thể tách rời với hai tên chữ Nguyễn
Trãi. Sau khi lên ngôi hoàng đế (1428), Lê Lợi đã phong cho Nguyễn Trãi
làm Quan phục hầu, được ban quốc tính (họ Lê). Nhưng giữa lúc “trăm họ”
đang chờ đợi một cuộc sống thái bình với vua hiền, tướng giỏi thì bản chất
của chế độ đã bộc lộ. Triều đình nhà Lê đầy rẫy những mâu thuẫn gay gắt
giữa các phe phái hòng thôn tính, thanh trừ, lật đổ lẫn nhau. Bản thân Lê Lợi -
vốn là một vị tướng tài ba trên chiến trường – nay lại nghe lời ton hót của bọn
nịnh thần, sát hại một số công thần như: Trần Nguyên Hãn (1429), Phạm văn
Xảo (1430). Riêng Nguyễn Trãi cũng bị nghi ngờ và đã từng bị giam cầm
ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành, phát triển nhân cách cũng như tài năng
của Nguyễn Trãi.
Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh, không đi theo quý tộc nhà
Trần mà ra làm quan cho nhà Hồ, vừa thể hiện nhiệt huyết một lòng vì dân, vì
nước, vừa thể hiện tư tưởng tiến bộ:
Một thân lẫn khuất đường khoa mục
Hai chữ mơ màng việc quốc gia.
Tuy nhiên, không bao lâu sau khi lên ngôi với những cải cách táo bạo,
năm 1407, nhà Hồ bị thất sủng. Giặc Minh chiếm lĩnh và thống trị nước ta.
Nguyễn Trãi đau đớn trước cảnh nước mất nhà tan, ông khắc sâu lời cha dặn:
Con trở về lâp chí, rửa thẹn cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu.
Nguyễn Trãi trở về xuôi nhưng vừa về đến Đông Quan, ông đã bị giặc Minh
bắt giam. Suốt thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan, mặc dù kẻ thù ra sức mua
chuộc, Nguyễn Trãi vẫn luôn giữ được tấm lòng trong sạch của mình và ấp ủ
tấm ân tình giúp vua, giúp nước:
Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
12
Có nhân, có chí, có anh hùng.
Năm 1417, Nguyễn Trãi bỏ trốn khỏi Đông Quan, đến Lỗi Giang (Thanh
Hoá), gặp Lê Lợi và dâng Bình Ngô sách. Đó là cuốn sách bàn về chiến lược
đánh giặc Minh, với phương châm cơ bản “không nói đánh thành giỏi mà bàn
về cách đánh vào lòng người”. Đường lối chiến lược của Nguyễn Trãi được
Lê lợi và Bộ tổng tham mưu nghĩa quân chấp nhận và tiến hành thắng lợi.
Nhìn lại hành trình lịch sử gian nan mười năm đấu tranh của Nguyễn Trãi,
Đặng Thai Mai đã đánh giá cao vai trò của ông: Nguyễn Trãi không chỉ xuất
hiện như một nhà chiến lược đại tài mà còn là một nhà tổ chức cỡ lớn và cũng
là một nhà ngoại giao khôn khéo, khi cứng rắn, khi mềm dẻo nhưng không bao
giờ khoan nhượng về nguyên tắc.
Vừa tham gia trù hoạch quân mưu, giúp Lê Lợi dự thảo các văn kiện chính
trị, ngoại giao, Nguyễn Trãi đồng thời cũng phấn đấu để trở thành “nhà thơ –
thời cũng là một học giả uyên bác, một nhà văn, một nhà thơ lỗi lạc; Một đời
sống lộng lẫy và… một kết cục quá tàn nhẫn; Đó là vận mệnh của Nguyễn Trãi
[13, tr.20].
Nguyễn Trãi là “khí phách”, là “tinh hoa” của dân tộc, một biểu tượng rất
đẹp của thiên tài Việt Nam. Ông là một bậc toàn tài hiếm có trong lịch sử,
một bậc đại công thần khai quốc nhưng trái lại là người chịu nhiều oan khiên.
Mặc dù con người Nguyễn Trãi không còn nữa, hoạt động của ông đã thuộc
về quá khứ nhưng tấm gương về tâm hồn, đạo đức, tài năng, lý tưởng Nguyễn
Trãi sẽ còn sống mãi với non sông Việt Nam.
* Một cây bút sáng tác dồi dào
Nguyễn Trãi là một tài năng lỗi lạc hiếm có. Ông đã hướng ngòi bút của
mình theo hai hướng chữ Hán và chữ Nôm. Ở phương diện nào ông cũng có
14
những thành công nhất định. Tác phẩm của Nguyễn Trãi sau khi ông qua đời
cũng chịu nhiều số phận long đong. Những tác phẩm của Nguyễn Trãi bị lệnh
tiêu huỷ. Hai mươi hai năm sau, 1464 Lê Thánh Tông truyền lệnh sưu tầm tác
phẩm của Nguyễn Trãi nhưng rồi bị thất tán. Do đó, mãi đầu thế kỷ XIX, tác
phẩm của ông mới được tìm lại và nửa cuối thế kỷ XIX mới được khắc in.
Nhờ vào tình yêu thơ văn Nguyễn Trãi của biết bao thế hệ, những tác phẩm
ấy được bảo tồn.
Về chữ Hán có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng. Ở lĩnh vực chính trị, quân sự
có tác phẩm Quân trung từ mệnh tập, bao gồm một số thư từ văn bia, biểu
chiếu mà Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết để đối nội và đối ngoại. Bình Ngô đại
cáo vừa là “áng thiên cổ hùng văn” trong lịch sử, tổng kết đầy đủ và xúc động
về cuộc kháng chiến anh dũng chống giặc Minh xâm lược vừa là bản tuyên
ngôn về lòng yêu hoà bình của dân ta. Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn soạn 28 bài
gồm: phú, chiếu, biểu, tấu, bi kí, lục…Trong đó đáng chú ý là bài Phú núi Chí
Linh, Chuyện cũ về cụ Băng Hồ. Ở lĩnh vực lịch sử, có tác phẩm Lam Sơn
thực lục và Văn bia Vĩnh Lăng: Nguyễn Trãi ghi lại quá trình khởi nghĩa Sơn,
khẳng định tư tưởng gắn bó với dân là điều kiện tiên quyết của mọi thắng lợi.
1.2. Nguyễn Trãi trong lịch sử phát triển văn hoá, văn học Việt Nam
1.2.1. Nguyễn Trãi – người chiến sĩ xuất sắc trên mặt trận văn hoá
Như trên đã viết, Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên trong một thời kỳ lịch sử
đầy thăng trầm và biến động. Thời kỳ này đất nước đang mang trong mình
những sự suy vi về kinh tế - chính trị, sự quá độ về văn hoá. Cuộc đấu tranh
giữa mô hình văn hoá truyền thống và đổi mới diễn ra một cách gay gắt đã tác
động sâu sắc vào trái tim, tâm hồn của người con yêu nước, suốt đời “thân
nhàn nhưng tâm không nhàn” – Nguyễn Trãi. Hãy hình dung lại cái tiến trình
16
văn hoá trước đấy cho đến thời Nguyễn Trãi, chúng ta sẽ thấy được vai trò to
lớn mà vị anh hùng này đảm nhận.
Hàng ngàn năm trước Công Nguyên, trước khi bị phong kiến phương Bắc
đô hộ, người Việt đã có một lối sống riêng gắn liền với một nền văn minh độc
đáo – văn minh Đông Sơn. Nền văn minh mà cha ông đã dày công xây dựng
này đã ăn sâu vào đời sống tư tưởng của nhân dân trở thành chuẩn mực của
văn hoá đương thời. Chiến tranh ập đến, các triều đại bành trướng phương
Bắc đã ráo riết những âm mưu và hoạt động nhằm thủ tiêu nền văn hoá mà
chúng ta vừa mới tạo dựng. Khác với những dòng giao lưu văn hoá hoặc thâm
nhập văn hoá thông thường, cuộc xâm lăng và bành trướng văn hoá này thực
sự là một cuộc chiến tranh văn hoá tàn khốc nhất trong lịch sử văn hoá Việt
Nam. Bởi lẽ những chính sách văn hoá của phong kiến phương Bắc nấp sau
những tên gọi “cải cách”, “giáo hoá” là một “trò phù thuỷ” nhằm nô dịch và
đồng hoá dân tộc ta. Thực tiễn lịch sử đặt ra cho chúng ta một sự cố gắng, nỗ
lực, một câu hỏi làm sao để bảo vệ nền văn hoá nước nhà. Và trong cuộc xâm
lăng đó, phong kiến phương Bắc đã không thực hiện được nguyên vẹn ý đồ
của chúng. Chúng đã vấp phải làn sóng đấu tranh kiên cường, ý chí đấu tranh
quật khởi bảo vệ thành tựu văn hoá buổi đầu của cha ông. Tất nhiên cũng từ
trong cuộc xâm lăng đó, văn hoá đất Việt đã bị giải thể ít nhiều. Song điều
đáng ghi nhận là với bản chất thông minh, khôn khéo của những người con
dân tộc, nền văn hoá Việt Nam không dẫm chân tại chỗ mà có sự giao lưu,
ông bác bỏ những chính sách đồng hoá của chúng (như chính sách không cho
hát chèo ở cung đình, cấm múa hát lý liên trước xa giá…). Trong Bình Ngô
đại cáo, Nguyễn Trãi nhấn mạnh sự “dị thù” về cương vực lãnh thổ, về văn
hoá giữa hai nước Việt – Hoa:
18
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc – Nam cũng khác.
Nhưng mặt khác, Nguyễn Trãi cũng đánh giá cao nhiều biểu hiện của văn
hoá Trung Hoa. Trên cơ sở của những hiểu biết về nền văn hoá đó, Nguyễn
Trãi đã sử dụng nhiều yếu tố tích cực trong hoạt động xây dựng văn hoá Đại
Việt. Giữa một khuôn khổ của những chủ trương, chính sách mà Trung Hoa
đưa ra chúng ta thấy: Ông dựa theo thể thức của thiên Vũ cống nổi tiếng của
Trung Hoa thời xưa để viết nên Dư địa chí của nước nhà, sử dụng thể cáo và
văn tự, điển cố Trung Quốc để xây dựng nên thiên Bình Ngô đại cáo, tranh cãi
xem nên lựa chọn hoặc là thể chế nhà Chu ở phương Bắc để định ra chế độ âm
nhạc và triều nghi của cung đình nước Việt, thậm chí dùng cả những chi tiết
biểu đạt như “vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu thuấn” của văn hoá Trung Hoa
để trình bày suy tư và ước vọng của mình [12, tr. 1011].
Đối với toàn thể dân tộc Việt Nam, Nguyễn Trãi lại thi hành một chính
sách đối nội tế nhị, khéo léo. Trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi khuyên “Người
nước ta không được bắt chước ngôn ngữ và y phục của các nước Ngô, Chiêm
để làm loạn phong tục trong nước”. Ông coi trọng việc giáo dục, luôn giành
thời gian và tâm huyết của mình vào việc răn dạy con cháu, các bậc tướng tá
trong triều và ngay cả việc góp ý cho vua chúa. Ông đã từng tranh luận với
Lương Đăng trong việc soạn nhạc. Ông cũng luôn có ý thức sử dụng nguồn
thi liệu dân tộc vào việc sáng tác văn chương. Nguyễn Trãi tắm mình vào
luồng văn hoá dân gian, gắn bó mật thiết với những sinh hoạt và truyền thống
đó một cách thắm thiết nhất.
20
khẳng định dứt khoát sự tồn tại trong thực tế dòng văn học tiếng Việt. Từ đây
dòng văn học chữ Nôm sẽ phát triển song song với dòng văn học chữ Hán,
làm cho văn học dân tộc phát triển phong phú, toàn diện và mạnh mẽ hơn.
Quốc âm thi tập được chia làm 4 mục lớn: Vô đề (192 bài); Thời lệnh môn (21
bài); Hoa mộc môn (34 bài); Cầm thú môn (7 bài). Nhìn chung, bố cục tập thơ
vẫn dựa theo công thức phổ biến thời bấy giờ nhưng đã được chỉnh lý, chọn
lọc theo ý đồ riêng của tác giả. Trong đó quan trọng nhất là mục Vô đề gồm
13 chủng loại nhỏ: từ Ngôn chí, Mạn thuật, Trần tình … đến Huấn nam tử.
Nói mục này quan trọng nhất vì nó chứa đựng đầy đủ nhất tâm tư, tình cảm và
tấm lòng sắt son của Nguyễn Trãi với đất nước với nhân dân. Qua Quốc âm
thi tập, Nguyễn Trãi muốn gửi gắm một triết lý tình thương bao la, một chủ
nghĩa nhân đạo rộng lớn đến con người và cảnh vật. Qua Quốc âm thi tập,
Nguyễn Trãi cũng muốn khẳng định vai trò to lớn của tập thơ – nhịp cầu nối
giữa hai nền thơ ca của dân tộc. Đó là thơ ca dân gian và thơ ca bác học. Nhịp
cầu ấy được thể hiện rõ nét thông qua những khám phá về nội dung và những
phát minh về hình thức nghệ thuật.
Về nội dung, tiếp thu những thành tựu của nền văn học dân gian và các tác
phẩm của nền văn học viết trước đó, Quốc âm thi tập thể hiện lòng yêu nước
thương dân với lý tưởng nhân nghĩa cao đẹp. Bên cạnh đó, tập thơ còn ca
ngợi chí khí thanh cao, cuộc đời giản dị của một vị anh hùng dân tộc. Đồng
thời qua Quốc âm thi tập, người đọc có thể nhận ra một tâm hồn phong phú,
đa dạng và rất lãng mạn của Ức Trai, một con người mẫu mực với những triết
lí giáo dục đạo đức sâu sắc. Chính nhờ Nguyễn Trãi mà những giá trị của
truyền thống, những phong tục, tập quán, những lời giáo huấn chân tình mà
sâu sắc của cha ông mới được truyền lại qua bao thế hệ.
Về phương diện nghệ thuật, Quốc âm thi tập được đánh giá là đã tạo nên
sự bứt phá của dòng thơ Nôm Việt Nam: “Đến Nguyễn Trãi với Quốc âm thi
21
tập mới là một sự bứt lên thành một tiếng Việt văn chương với nhiều sáng tạo:
Nguyễn Trãi đã đem đến cho tập thơ của mình một phong vị dân tộc đậm đà,
một nét thuần Việt độc đáo.
CHƯƠNG II. QUỐC ÂM THI TẬP – SỰ KẾT TINH NÉT ĐẶC SẮC VỀ
NGHỆ THUẬT THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI
2.1. Nhìn lại thơ Nôm trong tiến trình phát triển thơ ca của dân tộc
23
Cho đến nay người ta vẫn chưa biết chính xác thơ Nôm ra đời ở thế kỷ
nào. Chỉ biết nó ra đời sau văn học viết bằng chữ Hán. Trước đó nền văn học
chữ Hán đang trên đà phát triển và thu được nhiều thành tựu rực rỡ. Nhiều thể
loại văn học, nhiều tác phẩm Hán học lớn ra đời, góp phần tích cực vào sự
nghiệp đấu tranh giành và giữ nền độc lập của dân tộc.
Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân xâm lược Nam Hán, thiết lập nhà
nước phong kiến Việt Nam. Đất nước độc lập, yêu cầu phải có một thứ chữ
viết riêng. Nhu cầu bức thiết ấy đã thúc đẩy sự ra đời của chữ Nôm. Chữ Nôm
được dần dần hoàn thiện và đến thế kỷ XIII, người Việt đã dùng nó vào trong
sáng tác văn chương. Các tác giả thế kỷ X – XIV đã sử dụng chữ Nôm để
Việt hoá thành công hai thể loại văn học ngoại nhập, đó là thơ Đường luật và
phú. Người có công đầu tiên trong việc này là Hàn Thuyên. Đại Việt sử ký
toàn thư đã từng ghi lại: “Nhâm ngọ (Thiên Bảo) năm thứ tư (1282). Mùa thu,
tháng tám… Bấy giờ có cá sấu đến sông Lô. Vua sai Thượng Thư Hình bộ là
Nguyễn Thuyên làm văn ném xuống sông. Con cá sấu tự mất đi. Vua cho là
việc này giống như việc của Hàn Dũ, cho đổi họ là Hàn Thuyên. Thuyên lại
giỏi làm thơ phú quốc âm. Nước ta thơ phú dùng nhiều quốc âm, thực bắt đầu
từ đây”. Lấy hiện tượng Hàn Thuyên, nhiều ý kiến cho rằng thơ Nôm Đường
luật ra đời từ đó. Tên tuổi Hàn Thuyên gắn liền với hai chữ Hàn luật. Tiếc
rằng hiện nay chưa tìm thấy thơ Nôm Đường luật của Hàn Thuyên. Song sự
kiện được ghi chép lại trong Đại Việt sử ký toàn thư, chúng ta hoàn toàn có
thể tin tưởng được. Bởi đây là một bộ sử chính thức, ghi lại những sự kiện
quan trọng của nước ta thời bấy giờ.
Sự ra đời của thơ Nôm Đường luật là một bước ngoặt lớn trong tiến trình
25