TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
] ^ MAI THỊ VÂN
LỚP DH5C2
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM NGÀNH NGỮ VĂN TÌM HIỂU SỰ VẬN DỤNG
THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO TRONG
QUỐC ÂM THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI
A. PHẦN MỞ ĐẦU (4 TRANG)
B. PHẦN NỘI DUNG (48 TRANG)
C. PHẦN KẾT LUẬN (3 TRANG)
Phần nội dung của khóa luận được chia làm 2 mục:
Chương I. Khái quát thành ngữ, tục ngữ, ca dao và giới thiệu
tập thơ Quốc âm thi tập (9 trang).
Chương II. Thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập
(41 trang)
1. Nguyên nhân dẫn đến sự ảnh hưởng c
ủa thành ngữ, tục
ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập.
2. Những hình thức sử dụng và ảnh hưởng:
2.1. Sử dụng nguyên vẹn
2.2. Sử dụng sáng tạo
2.2.1. Lấy ý và thay đổi hình thức ngôn ngữ
2.2.2. Sáng tạo ra ý mới và thay đổi hình thức
ngôn ngữ
2.2.3. Rút gọn thành ngữ, tục ngữ, ca dao
2.2.4. Ghép thành ngữ, tục ngữ, ca dao
2.2.5. Tự sáng tạo ra thành ngữ, tục ngữ, ca dao
3. So sánh thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi
t
ập và thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Ngoài ra khóa luận còn có:
D. PHẦN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO (2 TRANG) Tóm tắt khóa luận tốt nghiệp Mai Thị Vân
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ,… Trang 2
965) đã phác họa một cách khá toàn diện sự ảnh h
ưởng của ca dao tục ngữ
trong toàn bộ tập thơ Quốc âm thi tập.
Nhìn chung, vấn đề “Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca
dao trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” cũng được một số tác giả lưu
tâm nhưng vẫn chưa có một tác giả nào cũng như chưa có một công trình
nghiên cứu trực tiếp nào đi sâu khám phá và tìm hiểu một cách khoa học,
đầ
y đủ và có hệ thống.
Tóm tắt khóa luận tốt nghiệp Mai Thị Vân
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ,… Trang 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ, ca dao được sử
dụng trong 254 bài thơ Quốc âm thi tập. Trong đó, chúng tôi sẽ đi sâu tìm
hiểu những bài thơ, câu thơ có sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng những phương
pháp sau:
4.1.Phương pháp thống kê, phân loại
4.2.Phương pháp phân tích, tổng hợp
4.3. Phương pháp so sánh, đố
i chiếu
4.4.Phương pháp hệ thống
5. Đóng góp của khóa luận
Thứ nhất, đề tài nghiên cứu này sẽ là bước khởi đầu mở ra những
hướng khai thác, tiếp cận mới, đạt hiệu quả cao trong việc khám phá giá trị
nội dung cũng như giá trị nghệ thuật đặc sắc của Quốc âm thi tập.
t thành ngữ. tục ngữ
Thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ hình thành do hình thức lời
nói, cách diễn đạt.
Tục ngữ là hiện tượng ý thức xã hội, hình thành do nội dung mà nó
chứa đựng.
2. Ca dao – Dân ca
Theo chúng tôi, nói đến ca dao là phần lời trong các bài hát dân ca
được dân gian diễn xướng (đã được tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa
hơi) và các bài thơ trữ tình được dân gian sáng tác và lưu truyền bằng
phương thức nói.
3. Vài nét về Quốc âm thi tập
Nguyễn Trãi là một tài năng, một nhân cách toàn diện. Nguyễn
Trãi đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ trong đó có Quốc âm
thi tập.
- Về nội dung, Quốc âm thi tập gồm có ba nội dung chính:
+
Trước hết, đó là lòng yêu nước, thương dân thiết tha sâu
nặng kết hợp với lòng yêu đời và nỗi đau đời luôn luôn thường trực trong
tâm hồn Nguyễn Trãi.
+ Thứ hai, đó là tình yêu thiên nhiên tha thiết.
+ Thứ ba là tính chất giáo huấn, luân lý thể hiện rõ rệt qua một
số bài thơ.
- Về nghệ thuật:
+ Trứơc hết là thể thơ, ông đưa nhiều câu thơ sáu chữ vào
bài thất ngôn Đường luật. Ông làm cả
lối thơ đặc biệt như thủ vĩ
ngâm (bài Góc thành nam), liên hoàn (bài vịnh trúc).
Tóm tắt khóa luận tốt nghiệp Mai Thị Vân
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ,… Trang 5
2. Những hình thức sử dụng và ảnh hưởng
Nguyễn Trãi đã khai thác, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo,
thành ngữ, tục ngữ, ca dao khi đưa vào thơ Quốc âm thi tập. Có lúc, ông
lấy trọn vẹn cả từ lẫn ý. Có lúc, ông lấy ý và thay đổi hình thức ngôn ngữ.
Có lúc, ông sáng tạo ra ý mới. Có lúc, ông lại rút gọn hoặc là ghép thành
ngữ
, tục ngữ, ca dao, và nhiều khi ông “tự sáng tạo” ra tục ngữ như là cách
để bổ sung vào kho tàng ngôn ngữ dân gian.
Sau khi tiến hành khảo sát 254 bài thơ trong Quốc âm thi tập (với
1908 câu thơ), chúng tôi đã thống kê được:
- 60/254 bài có sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, chiếm tỉ lệ
23,6%.
Tóm tắt khóa luận tốt nghiệp Mai Thị Vân
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ,… Trang 6
Trong đó :
+ 20/1908 câu có thành ngữ chiếm tỉ lệ 1%.
+ 20/1908 câu có ca dao chiếm tỉ lệ 1%.
+ 52/1908 câu có tục ngữ chiếm tỉ lệ 2,7%.
Qua số lượng đã thống kê được ở trên, chúng ta có thể thấy thành
ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập chiếm tỷ lệ tương đối nhiều
2.1. Sử dụng nguyên vẹn
Trong Quốc âm thi tập, những câu thơ được Nguyễn Trãi sử dụng
nguyên vẹn c
ả ý tưởng và từ ngữ từ thành ngữ, tục ngữ chiếm tỉ lệ rất nhỏ.
Theo chúng tôi thì chỉ có khoảng 10 câu trên tổng số 1908 câu thơ trong
Quốc âm thi tập chiếm 0,5%. Trong đó tục ngữ có khoảng 6 câu chiếm
0,3%, thành ngữ có khoảng 4 câu chiếm khoảng 0,2%. Riêng ca dao thì
không có trường hợp nào được tác giả sử dụng theo hình thức này.
và những tư tưởng ấy, tình cảm ấy qua cách diễn đạt đậm chất thành ngữ,
tục ngữ, ca dao đã trở nên đầy đủ hơn, thuyết phục hơn.
2.2.2. Sáng tạo ra ý mới và thay đổi hình thức
ngôn ngữ
Trong số 254 bài thơ Quốc âm thi tập, chúng tôi đã thống kê được
22/1908 câu thơ, chiếm 1,2% được Nguyễn Trãi sáng tác với hình thức lấy
ý từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao để sáng tạo ra ý m
ới và thay đổi hình thức
ngôn ngữ.
Nguyễn Trãi có xu hướng sáng tạo ý mới từ thành ngữ nhiều hơn
so với tục ngữ và ca dao. Kết quả của những sáng tạo này là hình ảnh câu
thành ngữ mờ đi và câu thơ của Nguyễn Trãi lại sắc sảo, thâm thúy hơn rất
nhiều.
Ta hầu như không còn nhìn thấy nguyên vẹn cách diễn đạt của dân
gian trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao như đã có mà ý từ thành ngữ, t
ục ngữ,
ca dao đã chuyển hóa vào câu thơ Nguyễn Trãi, như thể chính Nguyễn Trãi
mới là người sáng tạo ra thành ngữ, tục ngữ, ca dao.
Sự sáng tạo này, một lần nữa khẳng định sự thâm nhập sâu sắc của
con người Nguyễn Trãi – tâm hồn tư tưởng - tình cảm của Nguyễn Trãi vào
trong kho tàng phong phú của thành ngữ, tục ngữ, ca dao.
2.2.3. Rút gọn tục ngữ, ca dao
Sau khi tiến hành khảo sát tập thơ Quốc âm thi tậ
p của Nguyễn
Trãi, chúng tôi đã thống kê được 8/1908 câu thơ, chiếm 0,4% được Nguyễn
Trãi lấy ý chính trong một câu tục ngữ, ca dao dài bằng cách rút gọn khuôn
vào những câu thơ cách luật
Khi rút gọn, Nguyễn Trãi vẫn trung thành với ý tưởng, nội dung
của câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao. Ông có xu hướng lược bớt những hư từ,
cảm lối nghĩ của dân gian mà ông còn nắm rất vững những quy luật sáng
tạo của thành ngữ, tục ngữ, ca dao, đặc biệt là tục ngữ.
Có thể nói, Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà thơ mà còn là một
nhà hiền triết lỗi lạc của dân tộc. Bằng tài năng và sự sáng tạo của mình,
ông đã góp phần làm cho kho tàng văn học dân tộ
c nói chung và văn hóa
dân gian nói riêng ngày càng trở nên phong phú và đa dạng.
3. So sánh thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập và
thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trong thơ Thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi đã thống
kê được 40 bài trên tổng số 141 bài chiếm 28,3% có sử dụng thành ngữ, tục
ngữ, ca dao. Như vậy, nếu xét về số lượng bài thơ có sử dụng thành ngữ, tục
ngữ, ca dao thì thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm ít h
ơn so với tập thơ Quốc
âm thi tập của Nguyễn Trãi là 20 bài nhưng nếu xét về tỉ lệ các câu thơ có
sử dụng thì thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm lại chiếm tỉ lệ cao hơn (1,2%).
Điều này cho thấy tần số xuất hiện thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ
Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm là dày hơn, đều hơn, còn trong Quốc âm thi tập
thành ngữ, tục ngữ
, ca dao chủ yếu xuất hiện ở mục vô đề (gồm 129 bài),
đặc biệt là ở tiểu mục Bảo kính cảnh giới (61 bài).
Cũng giống như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng thành
ngữ, tục ngữ, ca dao và trong tác phẩm của mình một cách sáng tạo, linh
hoạt. Có chỗ ông lấy cả ý lẫn từ, có chỗ ông chỉ lấy ý mà không lấy từ.
Tuy nhiên, đối chiếu những câu thơ của Nguy
ễn Trãi và Nguyễn
Bỉnh Khiêm, chúng ta thấy, mặc dù cả hai ông đều lấy ý từ những câu tục
ngữ, ca dao giống nhau nhưng mỗi người lại có một sự sáng tạo riêng.
Có thể nói: “Nguyễn Bỉnh Khiêm đã củng cố và hoàn chỉnh các
thành tựu mà Nguyễn Trãi đã có công khai phá. Với sự mở đầu của Nguyễn
ỉnh Khiêm. Qua đó, có thể thấy được sự kế thừa, tiếp
thu một cách sáng tạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với Nguyễn Trãi trong
việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao vào thơ Nôm của mình
Qua quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi nhận thấy việc vận dụng
thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi nổi
lên một số điể
m đáng chú ý như sau:
Về số lượng: Rất phong phú và đa dạng về số lượng cũng như
cách thức vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Quốc âm thi tập.
Điều này cho thấy tài năng của Nguyễn Trãi trong cách vận dụng thành ngữ,
tục ngữ, ca dao.
Tóm tắt khóa luận tốt nghiệp Mai Thị Vân
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ,… Trang 10
Về hình thức sử dụng: Mỗi hình thức sử dụng thành ngữ, tục ngữ,
ca dao trong thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đều thể hiện những sáng
tạo nhất định.
Đọc thơ Quốc âm thi tập, ta có cảm giác vừa quen vừa lạ bởi nó
vừa mang bóng dáng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao, vừa mang dáng dấp
của thể thơ cổ điển
Đường luật, vừa chứa đựng những nét riêng khó lẫn của
Nguyễn Trãi.
Tóm lại, khóa luận đã vạch ra một cái nhìn khá hoàn chỉnh về việc
“Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập
của Nguyễn Trãi”.
Cuối cùng, trong quá trình thực hiện, khóa luận không tránh khỏi
những thiếu sót, sơ suất, những kiến giải chủ quan của người viết.
Chúng tôi hy vọng sẽ
được trở lại đề tài này trong những công
Lời cảm ơn!
]
^Khóa luận hoàn thành là nhờ sự quan tâm, giúp đỡ của
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học An Giang, Khoa Sư Phạm, các
thầy cô trong tổ bộ môn Ngữ Văn, giáo viên hướng dẫn, thư viện
trường Đại Học An Giang cũng như bạn bè trong và ngoài lớp.
Tất cả đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động viên chúng
NỘI DUNG Trang
A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài..................................................................................... 4
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................ 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.......................................................... 6
4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................ 6
5. Đóng góp của khóa luận......................................................................... 6
6. Cấu trúc khóa luận ................................................................................. 7
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương I
. Khái quát thành ngữ, tục ngữ, ca dao và giới thiệu tập thơ
Quốc âm thi tập.......................................................................................... 8
1. Thành ngữ, tục ngữ ................................................................................ 8
1.1. Thành ngữ ........................................................................................... 8
1.2. Tục ngữ ............................................................................................... 9
1.3. Phân biệt thành ngữ, tục ngữ............................................................... 11
2. Ca dao, dân ca ........................................................................................ 12
2.1. Khái niệm............................................................................................ 12
2.2. Đặc điểm thi pháp ............................................................................... 12
2.3. Phân biệt tục ngữ, ca dao .................................................................... 14
3. Vài nét về Quốc âm thi tập..................................................................... 15
Chương II
. Thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập
1. Nguyên nhân dẫn tới sự ảnh hưởng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao ..... 21
2. Những hình thức sử dụng và ảnh hưởng................................................ 22
2.1. Sử dụng nguyên vẹn............................................................................ 23
2.2. Sử dụng sáng tạo ................................................................................. 26
2.2.1. Lấy ý và thay đổi hình thức ngôn ngữ ............................................. 26
2.2.2. Sáng tạo ra ý mới và thay đổi hình thức ngôn ngữ .......................... 34
2.2.3. Rút gọn thành ngữ, tục ngữ, ca dao ................................................. 40
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ… Mai Thị Vân
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP ngành Ngữ Văn
Trang 4
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Văn học dân gian là nguồn suối trong lành của tình đất nước, là bầu sữa ngọt
ngào của hồn dân tộc, là kiểu mẫu nghệ thuật của tiếng nói Việt Nam” (Đinh Gia
Khánh, 1983: 22). Đặc biệt là thành ngữ, tục ngữ, ca dao. Từ lâu, chúng được coi như
những viên ngọc quý, là nguồn thi liệu vô cùng quý giá được rút ra từ chính cuộc sống
của quần chúng nhân nhân. Tuy nhiên, làm thế nào để khai thác hết giá trị của nguồn thi
li
ệu ấy. Đó là một vấn đề đã, đang và sẽ tiếp tục đặt ra đối với mọi người. “Đọc các tác
phẩm sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao, ta thấy gần gũi, dễ hiểu, khi đã đi vào
lòng người thì không bao giờ quên được” (Nhiều tác giả, 2005: 48). Bởi vậy, việc tìm
hiểu, khám phá cũng như vận dụng sáng tạo thành ngữ, tục ngữ, ca dao vào trong các
tác phẩ
m văn chương không còn là điều mới lạ. Bắt đầu từ các thi sĩ thời trung đại như:
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương … cho đến các thi sĩ
trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi”. 2. Lịch sử vấn đề
Nhìn chung, vấn đề “Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong
Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” cũng được một số nhà nghiên cứu lưu tâm. Cụ thể
như sau:
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ… Mai Thị Vân
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP ngành Ngữ Văn
Trang 5
Trong bài viết về Nguyễn Trãi “Thời đại – con người – văn nghiệp” (Lê Bảo,
1997: 18 – 24), tác giả Lê Bảo đã chỉ ra một số cách thức vận dụng thành ngữ, tục ngữ,
ca dao trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Đây không phải là bài viết trực tiếp nói
về vấn đề thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập nên tác giả mới chỉ đề cập
đến vấn
đề trên một cách sơ lược, khái quát và ngắn gọn nhất. Tuy chưa đi sâu nhưng
bài viết đã khơi gợi ra nhiều điều lí thú có liên quan đến vấn đề mà chúng tôi đang tìm
hiểu.
Xuân Diệu trong bài viết “Đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” (Xuân Diệu,
2000: 64-69) có đề cập đến sự ảnh hưởng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ
Nguyễn Trãi. Tác giả đã trích dẫn được một s
ố câu thơ tiêu biểu và phân tích sự ảnh
hưởng của tục ngữ trong các câu thơ đó thông qua việc so sánh, đối chiếu các câu tục
ngữ trong dân gian. Bài viết đã mở ra một hướng khai thác khá hay, có tác dụng rất lớn
cho việc nghiên cứu của chúng tôi.
Nhưng cũng giống như bài viết của tác giả Lê Bảo (Lê Bảo, 1997: 18 – 24), bài
viết này cũng không trực tiếp đi sâu nghiên cứu sự ảnh hưởng của thành ngữ, tục ng
ữ,
ca dao trong toàn bộ tập thơ Quốc âm thi tập. Do vậy nó vẫn còn mang tính khái quát
và sơ lược.
Tóm lại, theo những tư liệu mà chúng tôi thu thập được thì đề tài “Tìm hiểu sự
vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập của Nguyễ
n Trãi” là một
đề tài mới chưa có công trình nghiên cứu nào tiến hành tìm hiểu với cấp độ và quy trình
tương tự. Dù vậy chúng tôi cũng thừa nhận đã tiếp thu không ít những thành quả của
các nhà nghiên cứu đi trước, nhất là của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên.
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ… Mai Thị Vân
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP ngành Ngữ Văn
Trang 6
Chúng tôi hy vọng rằng khóa luận này sẽ góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu
một cách cụ thể, đầy đủ hơn vấn đề “Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao
trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
. Đối tượng nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ, ca
dao được sử dụng trong thơ
Quốc âm thi tập. Từ đó phát hiện ra cách thức sử dụng
thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập.
. Phạm vi nghiên cứu
Do khóa luận đi sâu vào vấn đề thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi
tập nên phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là 254 bài thơ trong Quốc âm thi tập. Trong
đó, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu những bài thơ, câu thơ có sử dụng thành ngữ, tục ngữ,
ca dao. Ngoài ra, chúng tôi sẽ tìm hiểu m
ột số vấn đề có liên quan như: cơ sở lí luận về
thành ngữ, tục ngữ, ca dao; thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Ở đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê để lựa chọn các câu thơ
có sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong 254 bài thơ ở tập thơ Quốc âm thi tập. Tiếp
khai thác, tiếp cận mới, đạt hiệu quả cao trong việc việc khám phá giá trị nội dung cũng
như giá trị nghệ thuật đặc sắc của Quốc âm thi tập. Đồng thời qua việc “Tìm hiểu sự
vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” sẽ giúp
ta hiểu thêm v
ề tài năng của Nguyễn Trãi trong việc vận dụng ngôn ngữ dân tộc vào
trong tác phẩm văn chương.
Ngoài ra đề tài còn có ý nghĩa sư phạm thiết thực góp phần phục vụ cho công tác
giảng dạy sau này của người nghiên cứu. Như chúng ta đã biết thành ngữ, tục ngữ, ca
dao và thơ văn Nguyễn Trãi là những nội dung quan trọng chiếm thời lượng lớn trong
chương trình phổ thông. Vậy làm thế nào để giúp học sinh nh
ận thức được hết cái hay,
cái đẹp cũng như giá trị của các câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao và những áng văn bất hủ
của dân tộc. Đó chính là nhiệm vụ của người giáo viên Ngữ Văn.
Vì vậy chúng tôi hy vọng đề tài sẽ góp phần phục vụ đắc lực cho công việc
giảng dạy thành ngữ, tục ngữ, ca dao cũng như thơ Nguyễn Trãi nói riêng và công việc
giảng dạy Ngữ V
ăn nói chung.
6. Cấu trúc khóa luận
Khóa luận chia làm 3 phần
A. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Đóng góp của khóa luận
6. Cấu trúc khóa luận
B. Phần nội dung
Chương I. Khái quát thành ngữ, tục ngữ, ca dao và giới thiệu tập thơ Quốc
âm thi tập.
Chương II. Thành ngữ, tụ
ca dao và cách thức sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao của Nguyễn Trãi trong Quốc
âm thi tập.
1. Thành ngữ, tục ngữ
1.1. Thành ngữ
1.1. 1. Khái niệm
Chúng tôi đã sưu tầm được rấ
t nhiều ý kiến khác nhau của các nhà ngôn ngữ học
xung quanh vấn đề khái niệm thành ngữ, chẳng hạn như:
- “Thành ngữ vốn là những tổ hợp từ mang tính chất tự do, được nhiều người
dùng, cùng tham gia sửa đổi dần dần, gọt giũa dần dần trong trường kỳ lịch sử, cuối
cùng trở thành những từ cố định” (Cù Đình Tú, 2001: 149).
- “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ
cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc,
hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thường ngày,
đặc biệt là trong khẩu ngữ” (Hoàng Văn Hành, 1994: 21).
- “Thành ngữ là những cụm từ cố định, hay những ngữ cố định, có nội dung ngữ
nghĩa sâu rộng” (Đái Xuân Ninh, 1978: 3).
- “Thành ngữ là đơn vị tương đương với từ, có tính chất cố định, bền chặt v
ề kết
cấu, mang ý nghĩa biểu trưng” (Nguyễn Nhã Bản, 2005: 21).
Qua những định nghĩa vừa nêu trên, chúng tôi nhận thấy thành ngữ vừa là một
hiện tượng ngôn ngữ vừa là một yếu tố mang đậm tính dân gian. Nó là một cụm từ cố
định, tương đối bền vững và hoàn chỉnh về cấu trúc - ý nghĩa, có tính hình tượng và gợi
cảm cao, có chức năng hoạt động như một từ, đượ
c sử dụng trong đời sống và trong văn
học.
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ… Mai Thị Vân
đề, một ngữ
cố định nào đó trong câu phức hợp, thì nó có giá trị như môt cụm từ chủ vị.
Nhưng không phải thành ngữ nào cũng là cụm từ chủ vị cố định, khi vận động, nó cũng
có biến thể.
Có thể nói ba đặc tính trên có liên quan chặt chẽ với nhau, đặc tính nọ bổ sung
cho đặc tính kia.
1.2. Tục ngữ
1.2.1. Khái niệm
Cũng như thành ngữ, khái niệm tục ngữ cũng được nhiề
u nhà nghiên cứu phát
biểu dưới các hình thức khác nhau, dưới đây là một vài khái niệm tiêu biểu:
- Đỗ Bình Trị thì cho rằng: “Tục ngữ là những câu nói gọn chắc, xuôi tai, diễn
đạt những kinh nghiệm lâu đời của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con
người và xã hội. Nó thường được nhân dân vận dụng trong suy nghĩ, trong nói năng và
trong những hoạt động thực tiễn của mình (Đỗ Bình Trị, 2001: 231).
- Bùi Mạnh Nhị cũng đư
a ra một khái niệm: “Tục ngữ là những câu nói dân gian
ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh và thường mang nhiều nghĩa, thể hiện những
kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt, được nhân dân áp dụng vào đời sống, tư duy và
lời ăn tiếng nói hàng ngày (Bùi Mạnh Nhị, 1997: 242).
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ… Mai Thị Vân
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP ngành Ngữ Văn
Trang 10
Theo chúng tôi, Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của dân gian, thường có dung lượng
ngắn gọn, nội dung hàm súc mà ở đó dân gian đã thể hiện trí tuệ sâu sắc và thâm thúy
về những kinh nghiệm, triết lý về tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống.
1.2.2. Đặc điểm
Như chúng ta đã biết, tục ngữ được coi là “túi khôn của dân gian”. Phải chăng
đây chính là lý do đã thúc đẩy các nhà ngôn ngữ học và vă
Về quan hệ ngữ nghĩa: Tục ngữ thể hiện bằng nhiều phán đoán giản đơn: người
sống đống vàng, tấc đất tấc vàng…. Hoặc suy luận dựa trên mối quan hệ giữa các vế
gồm có: quan hệ tương đồng: đất lề quê thói; quan hệ t
ương phản: miệng nam mô bụng
bồ dao găm; quan hệ điều kiện - nhân quả: ở hiền gặp lành; quan hệ so sánh: thương
người như thể thương thân; quan hệ phụ thuộc: con sâu làm rầu nồi canh; quan hệ liệt
kê: thứ nhất cày nỏ thứ nhì bỏ phân…
- Vần nhịp và tính chất hòa đối trong tục ngữ
Vần là chất keo gắn liền các yếu tố
ngôn từ trong tục ngữ, làm thành những kết
cấu vững chắc, bền vững, làm cho tục ngữ dễ nhớ, dễ thuộc, dễ lưu truyền. Cách gieo
vần trong tục ngữ rất phong phú và đa dạng: vần liền hay còn gọi là vần lưng: ăn vóc
học
hay, ăn chắc mặc bền…, vần cách: không thầy đố mày làm nên, thứ nhất cày ải thứ
nhì rải
phân…).
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ… Mai Thị Vân
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP ngành Ngữ Văn
Trang 11
Nhịp cũng là một yếu tố quyết định sự bền vững của tục ngữ, giúp dễ nhớ, dễ
truyền, có nhạc điệu. Ví dụ: Ăn cây nào/rào cây ấy, đời cha ăn mặn/đời con khát
nước…; Ngoài ra, cách cấu tạo cân đối hài hòa thể hiện dưới nhiều hình thức cụ thể
khác nhau như đối thanh, đối ý, đối cân, đối lệch…
1.3. Phân biệt thành ngữ, tục ng
ữ
Thành ngữ và tục ngữ vốn là hai phạm trù khác nhau của hai ngành ngôn ngữ
học và văn học. Tuy nhiên giữa chúng có mối quan hệ thâm nhập, giao hòa lẫn nhau. Vì
vậy việc xác định ranh giới chính xác làm cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa thành
ngữ và tục ngữ đã và đang được các nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học quan tâm.
kết cấu một trung tâm. Ngoài ra
còn có kết cấu hai trung tâm.
Có thể thêm các trợ từ để nhấn
mạnh nội dung.
Chủ yếu là kết cấu hai trung tâm.
Có thể thêm các hư từ chỉ quan hệ
đã tỉnh lược để làm rõ mối quan hệ
giữa các bộ phận trong thông báo.
Chức năng
Là những đơn vị có sẵn mang
chức năng định danh, dùng để
gọi tên sự vật, tính chất, hành
động.
Có chức năng thông báo, thông báo
một nhận định, một kết luận về một
phương diện nào đó của thế giới
khách quan.
Vận dụng
trong lời nói
Dùng làm một bộ phận để tạo
thành câu.
Có khả năng độc lập tạo thành câu,
cũng có khi dùng làm bộ phận để tạo
thành câu.
Kết luận
tổng quát
Là một hiện tượng ngôn ngữ
hình thành do hình thức lời nói,
cách diễn đạt.
tiếng láy, tiếng đưa hơi…) (Đỗ Bình Trị, 2001: 256-257). Tương tự là ý kiến của Chu
Xuân Diên, Nguyễn Nhã Bản…
Có thể nói, cho tới thời điểm này, các nhà nghiên cứu vẫn chưa hoàn toàn thống
nhất khi đưa ra định nghĩa về
ca dao - dân ca. Nhưng qua những định nghĩa trên, chúng
ta có thể thấy nội hàm khái niệm ca dao đã được giới thuyết tương đối rõ ràng và đầy
đủ. Theo chúng tôi, nói đến ca dao là trong các bài hát dân ca được dân gian diễn xướng
(đã được tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) và các bài thơ trữ tình được dân
gian sáng tác và lưu truyền bằng phương thức nói.
2.2. Đặc điểm
- Nhân vật trữ tình
Trong ca dao truyền thống, chủ thể tr
ữ tình luôn đồng nhất với nhân vật trữ tình.
Nhân vật đó gồm một số kiểu nhất định. Đó là cô gái và chàng trai trong quan hệ bạn
bè, lứa đôi; Người vợ, người chồng, người mẹ…trong quan hệ đời sống gia đình…
Nhân vật trữ tình thường gắn với những đại từ nhân xưng trong ca dao như anh,
em, chàng, thiếp…và kể cả những hình ảnh xưng hô ẩn dụ như mậ
n, đào, trúc, mai…tất
cả đều không có dấu ấn cá nhân
- Kết cấu
Xuất phát từ những tiêu chí khác nhau đã có nhiều cách phân loại kết cấu ca dao
khác nhau. Tuy nhiên ở đây cả ba nhà nghiên cứu đều thống nhất chia hình thức kết cấu
của ca dao làm hai kiểu chính gồm: lối đối đáp và lối đối đáp kể chuyện. Hai hình thức
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ… Mai Thị Vân
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP ngành Ngữ Văn
Trang 13
kết cấu ấy nương tựa vào nhau, bổ sung cho nhau trong việc thực hiện chức năng biểu
hiện cảm hứng trữ tình của đời sống dân tộc.
- Hệ thống hình ảnh và ngôn ngữ
• Về hệ thống hình ảnh: có thể nói hệ thống hình ảnh trong ca dao rất
trưng, ẩn dụ…rất đậm nét. Về điểm này, ngôn ngữ ca dao có quan hệ với ngôn ngữ
trong thơ ca của văn học viết. Các nhà thơ từ cổ chí kim đã học hỏi, vận dụ
ng rất phổ
biến ca dao vào trong sáng tác của mình (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Du, Hồ Xuân Hương, …). Ngược lại, các tác giả dân gian cũng tiếp nhận ít nhiều ngôn
ngữ, văn học viết trong cách diễn đạt, lựa chọn từ ngữ. Chẳng hạn như trong câu ca dao
sau:
Lửng lơ vầng quế soi thềm
Hương đưa bát ngát càng thêm bận lòng.
Tính chất giản dị cũng là đặc điểm của ngôn ngữ
ca dao. Đó là sự giản dị đã
được kết tinh từ lời ăn tiếng nói của nhân dân.
Lên non đón gió lấy trầm
Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ… Mai Thị Vân
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP ngành Ngữ Văn
Trang 14
Xui ong lấy mật, giục tằm ngả tơ.
Gắn liền với tính giản dị là tính sinh động. Ca dao biểu hiện cảm nghĩ một cách
gợi cảm, miêu tả sự vật một cách gợi hình.
- Thể thơ
Các thể thơ trong ca dao đều là những thể thơ dân tộc. Bao gồm thể lục bát và
lục bát biến thể, song thất lục bát và song thất lục bát biến thể, thể vãn và thể h
ỗn hợp.
Trong đó thể lục bát được dùng rộng rãi nhất trong ca dao và trở thành một thể thơ tiêu
biểu của ca dao. Đây là thể thơ hàm chứa nhiều đặc điểm ngôn ngữ dân tộc về vần,
nhịp, thanh điệu, được sử dụng phổ biến không chỉ trong văn học dân gian mà còn ở cả
văn học viết. Có thể nói, thơ lục bát rất phù hợp với ngôn ngữ
dân tộc. Nó không chỉ có
khả năng phản ánh nhiều phương diện của cuộc sống mà nhạc điệu của thể thơ này cũng
rất phù hợp với các giai điệu dân ca Việt Nam ngọt ngào, trữ tình mà đa dạng biến hóa.
phương thức sử dụng của ca dao lại thiên về hát và ngâm. Chẳng hạn như “Muốn xác
định thể loại của những câu trên, ta phải xem xét chúng trong những trường hợp sử
dụng và phương thức diễn xướng c
ụ thể. Khi chúng được dùng theo phương thức nói –
luận lí thì chúng là tục ngữ. Còn khi chúng được dùng theo phương thức hát - trữ tình
thì chúng là ca dao” (Hoàng Tiến Tựu, 1998: 131).