báo cáo nghiên cứu khoa học 'tư tưởng nhàn dật của nguyễn trãi trong 'quốc âm thi tập' và của nguyễn bỉnh khiêm trong 'bạch vân quốc ngữ thi tập'' - Pdf 15

Báo cáo nghiên cứu
khoa học:

"Tư tưởng nhàn dật của
Nguyễn Trãi trong Quốc
âm thi tập" và của
Nguyễn Bỉnh Khiêm
trong "Bạch Vân quốc
ngữ thi tập"
hồ thị huế t tởng nhàn dật của nguyễn trI , tr. 38-43 38

t tởng nhàn dật của nguyễn tri
trong quốc âm thi tập và của nguyễn bỉnh khiêm
trong bạch vân quốc ngữ thi tậphồ thị huế
(a)
Tóm tắt. Bài viết đi sâu chỉ ra sự khác biệt trong t tởng nhàn dật, thể hiện

phơng thức thể hiện: Nguyễn Trãi nổi
bật trong phong thái một nghệ sĩ,
Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi bật trong
phong thái một triết nhân. Theo đó, nếu
nhàn dật đối với Nguyễn Trãi chủ yếu
đợc thể hiện thành những dòng mạch
tâm trạng qua những áng thơ trữ tình
thì t tởng nhàn dật của Nguyễn Bỉnh
Khiêm nghiêng về thể hiện những vấn
đề nhận thức qua những bài thơ giàu
tính triết lí. Tuy nhiên, sự khác biệt ấy
chỉ mang tính tơng đối vì thảng hoặc
một số bài của Nguyễn Trãi và Nguyễn
Bỉnh Khiêm diễn ra sự ngợc lại: trữ
tình đối với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và
triết lí trong thơ Nguyễn Trãi.

đây,
chúng tôi tạm phân định nét nổi trội
hơn của từng tác giả để nhìn rõ hơn cho
việc luận giải về vấn đề đợc bàn tới.
2. Tính chất nghệ sĩ trong thơ nhàn
Nguyễn Trãi biểu hiện ở một tâm hồn
giàu rung cảm trớc thiên nhiên tạo vật,
ở tâm thế vừa phóng khoáng quảng đại
trớc tự nhiên, vừa chất chứa nhiều tâm
sự u uẩn, tất cả cùng đan xen hòa quyện
trong một nội tâm phong phú và vô cùng
sâu sắc. Thơ Nôm Nguyễn Trãi đợc viết
dới các đề mục: Ngôn chí, Mạn thuật,

những tâm sự về khát vọng, về lí tởng
cao đẹp. Những dòng mạch tâm trạng ấy
mỗi lúc nh càng thấm sâu, lan rộng và
chuyển tải thành những hình tợng thơ
dồi dào cảm xúc. Đó có thể là niềm khát
khao đợc cống hiến đến độ thôi thúc
giục giã:
Niềm cũ sinh linh đeo ắt nặng,
Cật chng hồ hải đặt cha an.
Những vì chúa thánh âu đời trị,
Há kể thân nhàn tiếc tuổi tàn.
(Tự thán - bài 2)
Còn một lòng âu việc nớc,
Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung.
(Thuật hứng - bài 23)
Đó có thể là sự chua xót, bất mãn
trớc thế thái nhân tình đen bạc, lòng
ngời hiểm hóc, quanh co:
Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc,
Cho hay đờng lợi cực quanh co.
(Ngôn chí - bài 19)
Đó có thể là nỗi cô đơn, khép kín của
một tài năng lớn bị hờ hững, bỏ quên:
Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ,
Trời ban tối, ớc về đâu.
(Ngôn chí - bài 13)
Ngời tri âm ít, cầm nên lặng,
Lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu.
(Tự thuật - bài 10)
Đó có thể là niềm hoài niệm da diết

giới. Sự chủ quan hoá ngoại vật khiến
cho thế giới nh có linh hồn, có tâm
trạng. Chẳng hạn, trong thú thởng
trăng của ông chúng ta vừa bắt gặp một
tầm vóc đĩnh đạc, đờng hoàng, vừa
phiêu diêu phóng túng. Nhiều khi, ông
vô hình hoá những cái hữu hình, trọng
lợng hoá những cái không trọng lợng.
Cách thởng trăng vì thế trong thơ ông
thật ấn tợng:
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,
(Ngôn chí - bài 10)
Hái cúc ơng lan hơng bén áo,
Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn.
(Thuật hứng - bài 15)
Trong thú vui uống rợu, ngâm thơ
thởng lãm cảnh vật, Nguyễn Trãi cũng
hồ thị huế t tởng nhàn dật của nguyễn trI , tr. 38-43 40

thể hiện theo một cách rất riêng, đầy
khí vị, rất nghệ sĩ:
Con cờ quảy, rợu đầy bầu,
Đòi nớc đòi non chơi quản dầu.
(Trần tình - bài 5)

khao khát chiếm hữu vẻ đẹp thiên
nhiên, ngoại vật. Hình nh khi phát huy
hết mọi giác quan nghệ sĩ thì sự kiểm
soát thẩm mỹ quan thuộc ý thức hệ Nho
giáo phải lùi chỗ nhờng đờng cho
những xúc động sâu sắc. Thi hứng cũng
từ thẩm mỹ quan giàu rung cảm ấy mà
trỗi dậy, trào dâng:
Qua đòi cảnh chắp câu đòi cảnh
(Tự thán - bài 5)
Tuyết đợm trà mai câu dễ động,
Đìa in bóng nguyệt hứng thêm dài.
(Tự thán - bài 14)
Trong sự thu nhận, chiếm lĩnh vẻ
đẹp thiên nhiên, cảm quan nghệ sĩ của
Nguyễn Trãi toả đi khắp mọi nơi, vào
từng ngõ ngách không gian để chiếm
lĩnh, để thu nhận tất cả những cử động
âm thanh, màu sắc, hơng vị phong
phú:
Am rợp chim kêu hoa xẩy động,
Song im hơng tịn khói sơ tàn.
Ma thu tới ba đờng cúc,
Gió xuân đa một luống lan.
(Ngôn chí - bài 16)
Rồi hóng mát thuở ngày trờng,
Hoè lục đùn đùn tán rợp trơng.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hơng.
Lao xao chợ cá làng ng phủ,


41

cảm xúc, vừa bén nhạy về năng lực cảm
nhận và vô cùng rộng mở, khoáng đạt
trớc tự nhiên. Tâm hồn ấy luôn luôn
khát khao đợc hoà nhập, đợc lắng
nghe, đợc quan sát, cảm nhận, chiếm
lĩnh tất cả những biến thái tinh vi của
tạo vật để chiếu ứng vào cõi lòng vốn
sẵn ngự trị nhiều u uẩn, khuất khúc.
Chính t chất nghệ sĩ đã giúp Nguyễn
Trãi viết nên những áng thơ nhàn đậm
đà sắc thái trữ tình; trong đó đan xen,
hoà thấm rất nhiều trạng huống tình
cảm khác nhau.
Đó cũng chính là biểu hiện riêng
làm nên sự khác biệt của t tởng nhàn
Nguyễn Trãi so với ngời cách ông cả
thế kỷ: bậc nhàn Nho Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
3. Khác với Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm lại có cách bộc lộ t tởng
nhàn theo một chiều hớng khác, ở đó có
sự gặp gỡ giữa những vần thơ đậm màu
sắc triết lí với một t duy tỉnh táo, sắc
sảo.
Tính chất triết lí trong Bạch Vân
Quốc ngữ thi tập là một đặc trng nổi
bật, quán xuyến thể hiện trên nhiều

đời, chủ động trớc cuộc đời. Trong thời
loạn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xây dựng
một triết lí nhàn nh là một thái độ
khôn ngoan để vững vàng sống một cách
an nhiên, thanh giản nhng cũng đầy
hứng thú. Theo ông, công danh là lụy:
Thuả áng công danh nhiều phải luỵ,
Trong nơi ẩn dật mới nên mầu.
(Bài 9)
Nẻo có công danh thì có luỵ,
Cho hay dù có chẳng bằng chăng.
(Bài 18)
Trong đạo học Khổng Nho, Khổng
Tử đã đề cập quan niệm về giàu - nghèo
trong sự tơng quan đối lập và theo
thuyết thiên mệnh. Ông cho Tử sinh
hữu mệnh, phú quý tại thiên (sống chết
có mệnh, giàu sang tại trời). Mạnh Tử
thì xem sự đối lập phú quý - bần tiện
nh là tình huống thử thách lơng tâm,
nh là hoàn cảnh để bộc lộ đạo đức nhà
Nho: phú quý bất năng dâm, bần tiện
bất năng di, uy vũ bất năng khuất
(Mạnh tử) (không bị mê đắm vì giàu
sang, không bị lay chuyển vì nghèo hèn,
không bị khuất phục bởi uy quyền bạo
lực). Phú quý với Nguyễn Bỉnh Khiêm
chỉ nên xem là chiêm bao:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,


không nên oán giận, ghen tị:
Giữ miệng cho hay, chớ nói năng,
Thìn lòng hôm sớm hãy khăng khăng.
Tranh khôn ắt có bề rắp rảnh,
Chịu dại làm chi hãy thốt thăng.
Mảng tiếng dữ lành tai quản đắp,
Thấy lời hơn thiệt mặt bằng chăng.
(Bài 72)
Nguyễn Bỉnh Khiêm làm nhiều thơ
Quốc âm, nhng số bài hiện còn không
nhiều. Theo Tựa dẫn của tác giả Bùi
Văn Nguyên trong cuốn Thơ văn
Nguyễn Bỉnh Khiêm, tập 1, NXB Giáo
dục, Hà Nội, 1989, thơ Quốc âm của
Nguyễn Bỉnh Khiêm còn lại 177 bài.
Trong những bài thơ ấy, Nguyễn Bỉnh
Khiêm cũng đã thể hiện là con ngời
giàu lí trí, lịch lãm, biết thích nghi một
cách hợp lí nhất để sống an nhiên, vững
vàng trong thời loạn. Nguyễn Bỉnh
Khiêm dờng nh biết giới hạn, biết kìm
giữ đến mức trung tính mọi sự phơi bày
tâm trạng, biểu lộ cảm xúc để hớng đến
sự quan sát thật tỉnh táo, đầy đủ mọi
thế thái nhân tình, để nghiệm ra những
điều tởng nh chân lí. Nếu thơ nhàn
Nguyễn Trãi giàu cảm xúc tâm trạng thì
thơ nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm lại giàu
màu sắc trí tuệ.
Chính hình thức biểu đạt ấy cùng

Chính quan niệm nhàn dật đạt đến ý vị
triết học đó đã tạo nên một Nguyễn
Bỉnh Khiêm không thể lẫn lộn với bất kì
một tác gia trung đại nào khác. trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 1b-2009 43

tài liệu tham khảo

[1] Trần Trọng Kim, Nho giáo, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2003.
[2] Mai Quốc Liên (chủ biên), Kiều Thu Hoạch, Quảng Tuân, Nguyễn Khuê, Nguyễn
Trãi toàn tập tân biên, NXB Văn học, Hà Nội, 2003.
[3] Bùi Văn Nguyên (phiên âm, chú thích và giới thiệu), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Bạch Vân Quốc ngữ thi tập, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1989.
[4] Nguyễn Hữu Sơn (tuyển chọn và giới thiệu), Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm,
NXB Giáo dục, 2001.
[5] Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Giáo dục,
Hà Nội, 1999. Summary


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status