báo cáo nghiên cứu khoa học ' đường lối 'đức trị' của nho giáo - từ khổng tử đến mạnh tử' - Pdf 15

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
79
ĐƯỜNG LỐI "ĐỨC TRỊ" CỦA NHO GIÁO
- TỪ KHỔNG TỬ ĐẾN MẠNH TỬ
"ĐỨC TRỊ” (‘GOVERNING BY VIRTUES’ POLITICAL LINE ) OF
CONFUCIANISM – FROM CONFUCIUS’ TO MENCIUS’ TIMES

NGUYỄN THỊ KIM BÌNH
Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Khổng Tử - người sáng lập ra Nho giáo với hạt nhân là đường lối “Đức trị”. Tuy nhiên,
phải đến Mạnh Tử đường lối “Đức trị” mới được phát triển tương đối hoàn chỉnh và trở
thành đường lối nhân chính (chính trị nhân nghĩa). Tìm hiểu quá trình phát triển đó sẽ
giúp chúng ta hiểu sâu thêm sức sống lâu bền của tư tưởng “Đức trị” trong các nước Á
Đông
SUMMARY
Confucius is the founder of Confucianism – the key thoughts base for planning &
implementing – " Đức trị” („governing by virtues‟ political line). However, it was not until
Mencius‟ time, “Đức trị” („governing by virtues‟ political line) was fully developed and this
political line became “the humane policy”. The study of this development course helps
us better understand the long-lasting vitality of “Đức trị” („governing by virtues‟political
line) in Oriental countries.

1. Đặt vấn đề
Nho học về thực chất là một học thuyết chính trị đạo đức mà biểu hiện tập trung
ở đường lối "Đức trị". Đối với các xã hội phong kiến Á Đông, đường lối "Đức trị" luôn
luôn là đường lối trị nước duy nhất trong hơn hai nghìn năm lịch sử. Một đường lối trị
nước được độc tôn lâu dài như vậy trong lịch sử rất cần được đi sâu nghiên cứu. Hơn
nữa, đối với các xã hội Á Đông đương đại, Nho học trong đó có tư tưởng "Đức trị"
không phải là vấn đề cổ xưa, càng không phải là vấn đề đã hoàn toàn thuộc về lịch sử.

hiện về mặt chính trị của nó. Có lẽ với Khổng Tử thái độ đối với dân là tiêu chuẩn quan
trọng nhất để đánh giá đức nhân của người cầm quyền: "Sai khiến dân thì phải thận
trọng như trong một cuộc tế lớn, cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người".
Trong nước không ai oán mình, trong "nhà" một đại phu không ai oán mình" (5). Ông
từng nói "Tài trí đủ để trị dân (có người hiểu là đủ để biết mọi lẽ) mà không biết dùng
đức nhân để giữ dân, thì sẽ mất dân " (6).
Sau Nhân, Khổng tử quan tâm nhiều đến "Lễ", bởi “Lễ” cần thiết để duy trì trật
tự xã hội, và có trật tự xã hội thì vua mới được tôn, nước mới được trị. Mặt khác, lễ có
nội dung luân lý của nó, trong mối quan hệ chặt chẽ không tách rời với nhân. Khổng Tử
xem điều lễ là hình thức của nhân, là chính đạo mà mọi người nên thi hành, còn nếu con
người chạy theo dục vọng của mình mà trái ngược với chính đạo tức là trái ngược với
điều nhân. Vì vậy, người cầm quyền phải giữ lễ: "Vua khiến bề tôi phải giữ lễ, bề tôi
thờ vua phải trung (hết lòng)" (7). Đáng chú ý là, trong quan niệm của Khổng Tử lễ chỉ
quan trọng khi gắn bó với điều nhân, là biểu hiện của nhân. Nếu tách rời nhân thì lễ chỉ
là vô nghĩa. "Người không có đức nhân thì lễ mà làm gì?" (8). Thật vậy không có lòng
nhân thì lễ mà làm gì? Nhà cầm quyền không có đức nhân thì lễ chỉ càng làm thủ cựu,
càng làm nghiệt ngã và tàn khốc.
Khổng Tử đề xướng "Lễ trị" nhằm ổn định xã hội. Thực hành đúng Lễ vừa là
biểu hiện của Nhân, đồng thời cũng thể hiện con người phải làm đúng bổn phẩn, thân
phận của mình, tức là phải Chính danh.
Trong công việc chính trị, theo Khổng Tử Chính danh phải đặt lên trước nhất,
bởi "Nếu danh (hiệu) không chính (xác) thì lời nói không thuận lý (vì danh hiệu không
hợp với thực tế), lời nói không thuận thì sự việc không thành; sự việc không thành thì lễ
nhạc chế độ không kiến lập được; lễ nhạc, chế độ không kiến lập được thì hình phạt
không trúng, hình phạt không trúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu (không biết
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
81
làm thế nào cho phải)"(9).
2.2. Chính sách trị dân và mẫu người cầm quyền quân tử
Tư tưởng “Đức trị” của Khổng tử còn thể hiện ở quan niệm coi nhẹ chính hình

được giải phóng mạnh mẽ, cho nên, ông phải đảm đương sứ mệnh người thừa kế, bảo
vệ và phát triển tư tưởng của Khổng Tử trong thời đại mới. Có thể khẳng định với Mạnh
Tử, học thuyết của Nho gia do Khổng Tử sáng lập đã được phát triển nâng lên một tầm
mức mới trở thành Nho giáo Khổng Mạnh. Đó là đường lối "Nhân chính" của Mạnh Tử
với những nội dung chủ yếu sẽ lần lượt được trình bày dưới đây.
3.1. Đề cao sức mạnh nhân nghĩa
Mạnh Tử cũng đã kế thừa và phát triển tư tưởng của Khổng Tử về "tính tương
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
82
cận, tập tương viễn" và đi đến luận điểm nổi tiếng: "Nhân tính chi thiện giã" (cái bản
tính của người ta vốn thiện). Từ đó ông khẳng định sức mạnh vô địch của nhân nghĩa:
"Đối với người nhân dẫu kẻ địch có đông cũng chẳng làm gì được mình. Này, nếu một
vị quốc quân thích làm nhân chính, trong thiên hạ chẳng ai địch nổi" (14). Không ai
địch nổi người nhân đức là ý niệm chính trị mà Mạnh Tử suốt đời tin tưởng theo đuổi.
Quả thật là Mạnh Tử rất nhất quán trong quan niệm lấy nhân đức làm nguyên tắc chỉ
đạo chính trị của mình. Trước sau như một ông luôn luôn chỉ nói đến nhân nghĩa, chỉ đề
cao nhân nghĩa. Quan điểm của ông thật rõ ràng: "Người ưa điều thiện thì dư sức cai trị
thiên hạ nếu nhà cầm quyền ưa điều thiện, ắt người trong bốn biển sẽ khinh thường
đường xa muôn dặm mà đến với mình, để mách bảo điều thiện với mình" (15). Người
nhân là người vô địch trong thiên hạ, bởi vì "điều nhân thắng điều bất nhân, cũng như
nước thắng lửa".
3.2. Coi trọng dân
Nếu Khổng Tử hết sức coi trọng "dân tín", coi đó là điều quan trọng nhất không
thể bỏ được trong phép trị nước, thì Mạnh Tử nhận thức một cách sâu sắc rằng: "Kiệt và
Trụ mất thiên hạ tức mất ngôi thiên tử ấy vì mất dân chúng hễ được dân chúng tự
nhiên sẽ được thiên hạ hễ được lòng dân tự nhiên sẽ được dân chúng" (16). Ông nói:
"Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" nghĩa là trong nước nhân dân là quan trọng
nhất, thứ đến mới là quốc gia (xã tắc) vua là thứ bậc xem nhẹ nhất. Bởi dân vốn là gốc
nước, có dân mới có nước, có nước mới có vua, ý dân là ý trời. Từ đó Mạnh Tử chủ
trương thi hành một chế độ "báo dân" và khuyến cáo các bậc vua chúa: "Nếu người bực

sau tôn sùng "Vương đạo" phản đối "Bá đạo". Mạnh Tử coi việc giảm hình phạt phải là
một chính sách của đức trị. Ông nói: Vua cần phải thi hành phép cai trị nhân - đức đối
với dân: Giảm hình phạt, bớt thuế - liễm, khiến dân siêng lo việc cày sâu cuốc bẫm, làm
vườn làm tược". Theo Mạnh Tử cần phải nhẹ hình phạt bởi nếu "dân khờ khạo mà phạm
luật nước, đó không phải là tội của họ, mà chính là tội của nhà cầm quyền chẳng biết
giữ gìn, giáo hoá họ" (22). Có một điều nhất quán giữa Khổng - Mạnh trong chủ trương
nhẹ hình là cả hai ông đều xem chính hình và thưởng phạt khéo có thể giúp cho sự giáo
hoá dân chúng. Mạnh Tử, cũng xem trọng giáo hoá như Khổng Tử, nhưng cái mới ở
ông là rất quan tâm đến việc quảng bá giáo dục, thông qua việc xây dựng hệ thống
trường học rộng khắp. Ông chủ trương hình thành một mạng lưới trường học đa dạng từ
làng xã đến kinh đô, từ trường hương học đến trường quốc học; đó là những tường, tự,
học, hiệu, để giáo hoá dân chúng. Như vậy, so với Khổng Tử chủ trương giáo hoá của
Mạnh Tử có tính quảng bá và phổ cập hơn. Ngoài việc chú ý đề cao giáo dục đạo đức
nhân luân như Khổng Tử, Mạnh Tử còn thấy được trách nhiệm của người trị dân là phải
dạy dân cấy gặt, chăn nuôi, trồng dâu nuôi tằm, dệt vải nhằm tạo ra nhiều của cải vật
chất hơn. Ông chỉ rõ: "Vua Thuấn đã cho ông hậu tắc việc dạy dân cấy gặt và gieo trồng
năm giống lúa chín, nhân dân nhờ đó mà sống" (23). Có thể thấy rõ quan điểm giáo dục
và giáo hóa dân của Mạnh Tử thể hiện một bước tiến mới so với Khổng Tử trước đó và
là một nội dung quan trọng hợp thành đường lối chính trị nhân nghĩa mà Mạnh Tử đã
suốt đời cổ vũ.
4. Kết luận
Đường lối đức trị của Nho giáo từ Khổng Tử tới Mạnh Tử lấy nhân nghĩa làm
gốc, coi trọng vai trò của dân tuy đã thể hiện được những quan điểm nhân bản khá sâu
sắc. Đường lối đó nặng "đức" "nhẹ hình", khuyến khích người đời từ thường dân đến
bậc vua chúa đều phải tu thân rèn đức theo mẫu người quân tử. Học thuyết “Đức trị”
của Khổng, Mạnh chứa đựng hầu hết các giá trị tinh hoa của Nho giáo tiên Tần và ngày
nay vẫn rất cần được chúng ta tiếp tục nghiên cứu sâu thêm nữa và chắc chắn sẽ còn tìm
được trong đó nhiều bài học bổ ích.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
84

[22] Đoàn Trung Còn (dịch giả), Tứ Thơ, Hạ Mạnh Tử, in tại nhà in riêng Trí Đức Tòng
Thơ, SG 1950, tr.179.
[23] Đoàn Trung Còn (dịch giả), Tứ Thơ,Thượng Mạnh Tử, in tại nhà in riêng Trí Đức
Tòng Thơ, SG 1950, tr.169.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status