BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VŨ THỊ HUẾ
HÌNH ẢNH BỐN MÙA TRONG QUỐC ÂM THI TẬP
CỦA NGUYỄN TRÃI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VŨ THỊ HUẾ
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng nghiên cứu 6
4. Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Cấu trúc khoá luận 7
B. NỘI DUNG 8
CHƢƠNG 1: NGUYỄN TRÃI VÀ QUỐC ÂM THI TẬP 8
1.1. Vài nét về thời đại và con người Nguyễn Trãi 8
1.1.1. Thời đại Nguyễn Trãi - những biến động lớn lao 8
1.1.2. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ văn của Nguyễn Trãi 9
1.2. Bốn mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi 11
1.3. Thống kê phân loại 13
1.3.1. Tổng số bài thơ viết về bốn mùa của Nguyễn Trãi 13
1.3.2. Những nhận xét rút ra từ số liệu thống kê 15
hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu. Tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng” (Tố Hữu).
Nguyễn Trãi xuất thân trong một gia đình nhà Nho học, thuở nhỏ ông đã
phải chịu nhiều mất mát đau thương nhưng ông lại học rất giỏi, từng đỗ thái học
sinh và ra làm quan dưới triều nhà Hồ. Đồng thời, Nguyễn Trãi là một nhà chính
trị sáng suốt, một nhà quân sự lỗi lạc, một nhà ngoại giao thiên tài, một nhà sử
học, địa lí học và một nhà thơ, nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam. Ở
Nguyễn Trãi đã hội tụ tất cả “khí phách” “tinh hoa” nghĩa là những gì tốt đẹp
nhất của dân tộc ta. Sinh ra và lớn lên vào thời buổi lịch sử có nhiều biến động,
cuộc đời Nguyễn Trãi cũng nhiều biến động và thăng trầm. Tuy nhiên, dù ở bất
cứ hoàn cảnh nào, ông cũng là một tấm gương sáng, hết sức mẫu mực cho con
cháu ngày sau noi theo và học tập.
Với tư cách là một nhà văn, nhà thơ Nguyễn Trãi đã để lại một tác phẩm
đồ sộ - một di sản văn học quý báu muôn đời. Trong đó, Quốc âm thi tập chiếm
vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam, là tập thơ Nôm đầu tiên viết
bằng ngôn ngữ dân tộc hiện còn. Với nội dung chủ yếu về thiên nhiên. Một đề
tài quen thuộc trong văn học trung đại và đọc thơ ông ta dễ dàng nhận thấy
2
bức tranh thiên nhiên với đủ sắc màu, đủ cả về thời gian bốn mùa: xuân - hạ -
thu - đông thông qua các hình ảnh: tùng - cúc - trúc - mai. Đặc biệt bức tranh
không chỉ nói về nét đẹp của các mùa mà còn là người bạn đáng tin cậy để
trút bày tâm sự.
Quá trình tìm hiểu nội dung đề tài: Hình ảnh bốn mùa trong Quốc âm thi
tập của Nguyễn Trãi sẽ góp phần giúp chúng ta nhận thức một cách toàn diện
hơn về tài năng, phẩm giá và những đóng góp của Nguyễn Trãi trong tiến trình
văn học Việt Nam.
Mặt khác, văn chương của Nguyễn Trãi từ lâu đã được đưa vào giảng dạy
trong chương trình văn học ở bậc Trung học Cơ sở, Trung học Phổ thông. Thực
hiện khóa luận này sẽ góp phần phục vụ thiết thực và hiệu quả cho việc giảng
dạy thơ Nguyễn Trãi nói chung, thơ Nôm của ông nói riêng.
Trong cuốn Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương của Lê Trí Viễn, nhà nghiên cứu
Lê Hoài Nam đã nhận xét tình yêu thiên nhiên của bà chúa thơ Nôm: "Xuân Hương
yêu thiên nhiên và sau Xuân Hương thiên nhiên trong cái độ phát triển sung sức
của nó nhưng không cứ gì thiên nhiên, tất cả những cái gì dồi dào sức sống, biểu
hiện được cuộc sống là Xuân Hương đều trìu mến". [18, tr.162]. Có thể nói tình
yêu thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương rất phong phú và đa dạng.
Tác giả Nguyễn Huệ Chi trong bài viết: Sự đa dạng và thống nhất trên
quá trình chuyển động một phong cách và dấu hiệu chuyển mình của tư duy thơ
dân tộc cũng đã nhận định: "Trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập, cảnh vật
được quy ước bằng xuân, hạ, thu, đông, bằng 12 tháng, bằng năm canh Và
đọc hết bài này đến bài khác sẽ thấy các vòng quay tháng năm, tháng năm trở
thành hình thức biểu hiện nghệ thuật của thơ". [1, tr70]
Trong cuốn Thi hào Nguyễn Khuyến - đời và thơ do Nguyễn Huệ Chi chủ
biên, nhà nghiên cứu đã nhận định: "Nguyễn Khuyến đã đưa lại cho bức tranh
làng cảnh Việt Nam cũng như khung cảnh sinh hoạt của nông thôn Việt Nam
hương vị, màu sắc, đường nét, sức sống như nó vẫn tồn tại, mà ủ kín trong đó là
cái hồn muôn đời của con người, đất nước Việt Nam". [1, tr25]
Trong sáng tác của Nguyễn Trãi bức tranh thiên nhiên hiện lên một cách
sinh động và đầy hấp dẫn. Trong cuốn Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm do
Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn, các nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến những
4
hình ảnh thiên nhiên được sử dụng trong tác phẩm văn học thời kì trung đại.
Nguyễn Thiên Thụ viết: "Thi nhân thường yêu cái đẹp mà cái đẹp phong phú,
gần gũi nhất ta đó là thiên nhiên. Thi nhân thường để tâm hồn đi theo dòng
nước chảy và lòng thi nhân vui tươi, rộn rã khi thấy mặt trời lên, khi nghe chim
ca và nhìn thấy hoa nở thắm". [13, tr.668]
Trong cuốn: Văn học Việt Nam (nửa cuối thể kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX) của
Nguyễn Lộc, nhà nghiên cứu đã khẳng định sự thành công của mảng sáng tác về
thiên nhiên: "Đề tài về thiên nhiên xuất hiện khá nhiều trong văn học giai đoạn này
đại muốn diễn đạt về thời gian trong năm hay theo mùa Mùa xuân phải có
lan, mai, chim oanh, ong bướm và có cả tấm lòng người quân tử Mùa hè
phải có hoa sen, lựu, chim cuốc, tiếng ve kêu Mùa thu phải có hoa cúc
vàng, lá ngô đồng, tiếng thu xào xạc Và mùa đông nhất thiết phải có tùng,
trúc, gió heo may, tiếng chim nhạn kêu, Và trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi nói riêng hình ảnh bốn mùa được xuất hiện lần lượt, khoác trên
mình những nét đặc trưng riêng, và nét đặc trưng đó được chứng minh bằng
các ý kiến, nhận xét sau đây:
Trong cuốn Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm do Nguyễn Hữu Sơn
tuyển chọn ở phần thiên nhiên và thời gian, tác giả Nguyễn Thiên Thụ đã đề cập
trực tiếp đến bốn mùa trong văn học trung đại: "Thiên nhiên đã khoác những
chiếc áo màu khác nhau tùy theo từng thời gian: cỏ, cây, hoa, lá, núi rừng, sông,
hồ, bầu trời, đã thay đổi theo từng mùa, từng tháng. Những thay đổi đó làm
lòng người đổi thay và lòng thi nhân thêm cảm xúc". [13, tr.675]. Nguyễn Hữu
Sơn với bài nghiên cứu Cảm quan mùa xuân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi cho
rằng: "Trong thơ Nguyễn Trãi mùa xuân được cảm nhận như là biểu tượng của
vẻ đẹp toàn mĩ, hoàn chỉnh, phổ biến". [13, tr.535]. Cùng trong cuốn Nguyễn
Trãi về tác gia và tác phẩm với bài nghiên cứu cảnh tình mùa hè Lê Trí Viễn đã
khẳng định rõ: “Ông vẫn vui với hè cũng là một thứ lạ. Xưa, thơ thích xuân, mến
thu chứ mấy ai đoái hoài tới hè”. [13, tr.541]. Và thơ thu trong thơ Nguyễn Trãi
được nêu rõ trong bài viết thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi của Nguyễn Thiên
Thụ: “Mùa thu làm cho cảnh sông thêm tình tứ vì nước thêm trong, trăng sáng,
trời xanh cao”. [13, tr.676]
6
Đặc biệt, thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi được rất nhiều các nhà
nghiên cứu quan tâm. Trong Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm do Nguyễn
Hữu Sơn tuyển chọn, Nguyễn Thiên Thụ đã nhận định: "Với Nguyễn Trãi cũng
như các thi nhân khác, thiên nhiên là nguồn mĩ cảm vô cùng phong phú, đã làm
cho tâm hồn thi nhân rung động Thi nhân như là một kẻ đi tìm cái đẹp và thiên
liệu phong phú và đủ tin cậy, đáp ứng được mục đích đặt ra tôi tiến hành những
phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Sử dụng phương pháp này tôi có thể tập hợp, thống kê những nguồn tư
liệu có liên quan đến đề tài tôi đang nghiên cứu.
5.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Từ những tư liệu đã tập hợp, thống kê được tôi sử dụng phương pháp phân
tích tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu. Phương pháp này được sử
dụng như một phương pháp chính trong quá trình nghiên cứu nội dung đề tài.
5.3. Phương pháp văn học sử
Nền văn học trung đại Việt Nam trải qua gần X thế kỉ, với nhiều giai
đoạn, nhiều thế kỉ nên việc sử dụng phương pháp văn học sử sẽ đảm bảo được
tính lôgic trong quá trình khảo sát phục vụ cho việc nghiên cứu khóa luận. Hơn
nữa tư tưởng tác phẩm luôn chịu sự chi phối của thời đại.
6. Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham
khảo, khóa văn của tôi gồm có 3 chương chính:
Chƣơng 1: Nguyễn Trãi và Quốc âm thi tập
Chƣơng 2: Bốn mùa - những giá trị biểu đạt
Chƣơng 3: Một vài phƣơng diện trong hình thức biểu đạt
8
B. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NGUYỄN TRÃI VÀ QUỐC ÂM THI TẬP
1.1. Vài nét về thời đại và con ngƣời Nguyễn Trãi
1.1.1. Thời đại Nguyễn Trãi - những biến động lớn lao
Mỗi cá nhân sinh ra đều gắn với một thời đại nhất định. Chính thời đại đó
đã ảnh hưởng đến phẩm chất, tài năng cũng như hệ tư tưởng, ý thức của cá nhân,
Nguyễn Trãi cũng như vậy. Nguyễn Trãi sống ở giai đoạn lịch sử sôi động với
Nguyễn Trãi.
Sau 10 năm (1418 - 1428) kháng chiến gian khổ “máu trộn bùn tươi”
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã toàn thắng. Cuộc khởi nghĩa đã mở ra một kỉ
nguyên mới cho dân tộc, giang sơn thu về một mối, cả dân tộc bước vào trung
hưng lần thứ hai. Không chỉ Tổ Quốc dựng “đài xuân dân tộc” mà chế độ phong
kiến cũng đã đạt đến độ hoàng kim nhất ở nửa cuối thế kỉ XV.
Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi không thể tách rời với hai tên chữ Nguyễn
Trãi. Sau khi lên ngôi hoàng đế (1428). Lê Lợi đã phong cho Nguyễn Trãi làm
quan phục hầu, được ban quốc tính (họ Lê). Trong lúc như vậy triều đình nhà Lê
có nhiều mâu thuẫn và kéo dài cho đến tận đời Lê Thái Tông, tình hình chia rẽ
lại càng kịch liệt. Nguyễn Trãi không thể có một cơ hội nào để thi thố tài năng
nữa. Cuộc đời của một con người vì dân, vì nước này bị thời đại này khép lại
bằng “Vụ án trại vải” mà lịch sử gọi là án “thiên cổ kì oán”.
Tìm hiểu Nguyễn Trãi người thực hiện đề tài này không thể tìm hiểu ông
như một cá nhân nhà trí thức yêu nước nào đó - mà tìm hiểu ông với tư cách là
một nhân vật lịch sử, một nhà văn hoá lớn với những tác phẩm đã phản ánh cả
một thời đại lịch sử. Với những tư tưởng ở nhiều điểm như là phát ngôn cho cả
một dân tộc thời Nguyễn Trãi. Chính thời đại cuối Trần, đầu Lê đã tạo ra người
anh hùng - bậc vĩ nhân, làm “rạng rỡ non sông đất nước ta” như Nguyễn Trãi.
Từ đó ta có thể hiểu rõ hơn về con người, tài năng, phẩm chất của Nguyễn Trãi
sau này.
1.1.2. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ văn của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi (1380 - 1442), hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (nay thuộc
Chí Linh, Hải Dương) sau rời về làng Ngọc Ổi (nay thuộc Nhị Khê, Thường
10
Tín, Hà Nội). Cha là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo, học giỏi, đỗ Thái
học sinh. Mẹ là Trần Thị Thái, con quan tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý
tộc. Ông ngoại và cha đều là người có lòng yêu nước thương dân. Nguyễn Trãi
đã được thừa hưởng tấm lòng vì dân, vì nước ấy.
1464, Lê Thánh Tông mới giải toả và ca ngợi ông bằng hai câu thơ nổi tiếng :
Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo
(Lòng Ức Trai toả rạng văn chương)
Nguyễn Trãi là một thiên tài nhiều mặt hiếm có. Bình ngô đại cáo tuy viết
bằng chữ Hán nhưng xứng đáng là áng “Hùng văn muôn thuở”. Quốc âm thi tập
là tập thơ tiếng Việt (chữ Nôm) sớm nhất có giá trị lớn còn lại đến ngày nay.
Nguyễn Trãi đã góp phần xây đắp nền móng vững trãi cho văn học dân tộc.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng - Trên đường tìm hiểu sự nghiệp thơ văn
Nguyễn Trãi do Chương Thâu chủ biên từng nói: “Từ bài Bình ngô đại cáo qua
các bức thư gửi các tướng tá xâm lược đến thơ chữ Hán và chữ Nôm… ngòi bút
thần của Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta những tác phẩm gồm nhiều thể văn
và tất cả đều hay và đẹp lạ thường” [15, tr.15]. Nhìn chung các tác phẩm của
Nguyễn Trãi dù là chữ Hán hay chữ Nôm thì chúng đều có sự thống nhất về mặt
nội dung. Điều đó thể hiện ở hai điểm nổi bật là tinh thần yêu nước nồng nàn và
lí tưởng đấu tranh vì chính nghĩa. Về nghệ thuật thì các tác phẩm thể hiện sự
phong phú về thể loại và có nhiều đóng góp cho nghệ thuật thơ ca nước nhà.
Những tác phẩm của Nguyễn Trãi còn lại đến ngày nay là tài sản vô giá của văn
học dân tộc, là niềm tự hào chính đáng của các thế hệ người Việt Nam xưa nay.
1.2. Bốn mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
Thi nhân thường yêu cái đẹp, mà cái đẹp phong phú, gần gũi ta nhất đó là
thiên nhiên. Thi nhân thường để tâm hồn đi theo đám mây bay, theo dòng nước
chảy, và lòng thi nhân vui tươi rộn rã khi thấy mặt trời lên, khi nghe chim ca, và
nhìn thấy hoa nở thắm. Nguyễn Trãi là một thi nhân cho nên Nguyễn Trãi đã yêu
thiên nhiên, ca tụng thiên nhiên. Thời lệnh môn, hoa mộc môn, cầm thủ môn là
những bài thơ ca tụng thiên nhiên đậm đà nhất, thiết tha nhất của Nguyễn Trãi.
Thiên nhiên ở đây bao gồm: cỏ cây, hoa lá, núi rừng, sông hồ, chim muông
Với Nguyễn Trãi cũng như các thi nhân khác, thiên nhiên là nguồn mĩ
cảm vô cùng phong phú, đã làm cho tâm hồn thi nhân rung động. Thi nhân như
12
13
Hay: Một lành xảy nảy bỗng hòe trồng
Một phút xuân qua một phút trông
Có thủa ngày hòe dương tán lục
Đùn đùn bóng rợp cửa tam công.
(Hòe)
Hoa cúc nở đưa hương ngào ngạt báo hiệu mùa thu đến. Hoa cúc vàng
khiêm nhường trang điểm cho bầu trời thu đầy sương mù và hơi gió lạnh:
Nào hoa chẳng bén, khí đầm hâm
Có mấy bầu sương, nhị mới đâm
Trùng cửu chớ hiềm thu đã muộn
Cho hay thu muộn tiết càng thơm.
(Cúc)
Cây tùng bốn mùa vẫn xanh tươi dù cho các loài thảo mộc khác đã thay
đổi theo tiết trời báo hiệu mùa đông buốt giá đã tới.
Thu đến cây nào chả lạ lùng
Một mình lại thuở ba đông
Làm tuyền ai rặng giá làm khách
Tài đông lương cao ắt cả dòng.
(Tùng)
Như vậy, thông qua hình ảnh bốn mùa - bức tranh thiên nhiên hiện lên vô
cùng phong phú, sinh động và đầy sự độc đáo. Đó không chỉ là bức tranh phong
cảnh mà đó còn là bức tranh tâm trạng của con người Nguyễn Trãi được thể hiện
qua nhiều cung bậc khác nhau.
1.3. Thống kê phân loại
1.3.1. Tổng số bài thơ viết về bốn mùa của Nguyễn Trãi
Con người có rất nhiều cách cảm nhận thời gian trong năm. Các nhà thơ
thời trung đại thường tính thời gian bằng những cách cảm nhận hết sức tinh tế
đó là thời gian theo mùa, theo vòng tuần hoàn. Trong số các nhà thơ trung đại,
5
Thời lệnh môn
1
6
Thơ tiếc cảnh
7
7
Vãn xuân
1
8
Xuân hoa tuyệt cú
1
9
Tích cảnh – Bài 3
0
10
Tích cảnh – Bài 5
0
11
Tích cảnh – Bài 7
1
12
Mai
1
13
Đào hoa – Bài 1
2
14
Đào hoa – Bài3
0
15
25
Ngôn chí – Bài 7
0
26
Ngôn chí – Bài 8
1
27
Mạn thuật – Bài 12
1
28
Mạn thuật – Bài 14
0
29
Hạ
Hạ cảnh tuyệt cú
4
4
30
Hoè
1
31
Ngôn chí – Bài 20
3
32
Bảo kính cảnh giới
6
33
Thu
1.3.2. Những nhận xét rút ra từ số liệu thống kê
Qua khảo sát, thống kê những bài thơ viết về hình ảnh bốn mùa trong
Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi chúng tôi rút ra những nhận xét sau:
Số lượng bài thơ viết về bốn mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
xuất hiện với tần số cao 16,9%. Hình ảnh bốn mùa trong Quốc âm thi tập rất
phong phú và đa dạng. Một năm có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông, ở mùa nào
Nguyễn Trãi cũng đều có thơ, đặc biệt là những bài thơ viết về mùa xuân chiếm
10,6% và mùa thu 3,16% đó là một số lượng lớn. Tuy nhiên, thơ viết về mùa hạ
chiếm 1,6% và mùa đông 1,18% một con số không nhiều nhưng cũng đủ làm
nên tên tuổi của ông.
Nguyễn Trãi khi viết về hình ảnh bốn mùa không đơn thuần chỉ miêu tả
vẻ đẹp của thiên nhiên mà qua đó nó còn cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ.
16
Mỗi mùa thể hiện một tâm trạng khác nhau. Mùa xuân là mùa đầu tiên trong
năm, tượng trưng cho sự khởi đầu mới mẻ với sắc xuân đầm ấm, tươi vui. Mùa
hạ với cái nắng vàng gay gắt cùng với tiếng ve, tiếng cuốc kêu… mang đến âm
thanh rộn rã của sự sống. Đến mùa thu, Nguyễn Trãi có một mảng thơ dành
riêng cho mùa thu, đó là bức tranh thu đẹp thanh sơ và giản dị với hình ảnh hoa
cúc, điển hình cho mùa thu ở nông thôn Việt Nam. Còn về đông, dường như mọi
cảnh vật đều trở nên tiêu điều, xơ xác, qua đó gửi gắm một nỗi buồn sâu sắc.
Tiểu kết chƣơng 1
Có thể nói, bức tranh thiên nhiên bốn mùa trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi rất đa dạng và phong phú với những hình ảnh sinh động, gần gũi
với con người. Đến với đề tài này chúng ta có thể tiếp cận với rất nhiều bài thơ
viết về thiên nhiên của Nguyễn Trãi. Điều này cho thấy Nguyễn Trãi là một
người rất tài năng trong nhiều lĩnh vực, không chỉ là một con người yêu thiên
nhiên mà còn là một nhà cách mạng với tấm lòng yêu nước sâu sắc đã để lại
xanh hơn bởi mầm non hoa lá. Biểu tượng của sự sống, sức sống mùa xuân "chồi
thức tốt lạ mười phân" đã vượt lên, lấn át củi khô cằn, đơn lẻ, lạc lõng của một
cành trúc mùa đông. Qua đó, nhà thơ khẳng định một quy luật tất yếu của tự
nhiên là sự sinh ra và mất đi, mùa đông có lạnh giá đến đâu thì cũng đến lúc phải
nhường chỗ cho xuân tới, cho muôn hoa đua nở, chim ca ríu rít. Đó cũng là quy
luật của đời người, ai ai cũng phải trải qua quá trình sinh ra, trưởng thành và mất
đi không có gì là vĩnh cửu cả. Mỗi mùa đông qua đi và xuân lại đến con người lại
được đánh dấu bằng một mốc mới, một thay đổi mới trong cuộc đời mình. 18
Nguyễn Trãi - con người đam mê nhập cuộc với mùa xuân, ông càng thấu
hiểu về vẻ đẹp của mùa xuân, từ những cái nhỏ nhặt nhất của mùa xuân mang
lại. Đối với các nhà thơ khác mùa xuân trong họ chỉ dừng lại là miêu tả vẻ đẹp,
sắc trời mùa xuân nhưng với Nguyễn Trãi thì lại khác mùa xuân không chỉ là
đẹp mà nó còn là một điểm mốc để nhắc nhở quy luật tuần hoàn. Xuân đến - con
người thêm tuổi mới, như đứa trẻ thơ mới lọt lòng từ mùa xuân năm nay nhưng
sang mùa xuân năm sau, bi bô trong tiếng gọi "mẹ, mẹ " Thời gian trôi đi
không chờ đợi ai cả, mùa xuân được nhà thơ tính theo ngày:
Ba xuân thì được chín mươi ngày
Sinh vật lòng trời chẳng tày
Rỉ bảo đông phong hời hợt ít
Thế tình chớ tiếc, dửng dưng thay!
(Thơ tiếc cảnh - Bài 11)
Mỗi một mùa thì có tháng, "Ba xuân thì được chín mươi ngày" thời gian
có hạn, ba tháng trôi đi lại nhường chỗ cho ba tháng tiếp theo cứ thế cứ thế xuân
- hạ - thu - đông lần lượt nhường chỗ cho nhau. Đó là một quy luật hiển nhiên
của đất trời, mùa xuân vĩnh hằng mang bao điều tự nhiên, vui tươi háo hức
nhưng tuổi xuân của con người thì chỉ có một lần. Do đó, con người phải biết
đỗ quyên kêu, có hoa hòe nở rộ báo hiệu hè sang, thời khắc giao mùa giữa
xuân và hạ:
Rỗi, hóng mát thuở ngày trường
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tịn mùi hương.
(Bảo kính cảnh giới - Bài 43)
Ở đây, nhà thơ miêu tả cảnh mùa hè với những hình ảnh thân quen: hòe,
thạch lựu hiên, đây là những dấu hiệu đặc trưng mà quen thuộc của mùa hè,
dưới ngòi bút của ông, chúng đã trở nên thú vị, độc đáo.
Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, khiếu quan sát tinh tường và một
trực cảm nhạy bén trước sự biến đổi của thiên nhiên, cùng với tình yêu hương
20
sắc, dường như không một phút nào nhà thơ ngừng theo dõi bức tranh tứ mùa
của mình, những đặc trưng của từng mùa đó. Mùa hè ở Việt Nam thường bắt
đầu vào những ngày đầu của tháng tư khi những cơn mưa phùn gió đông với tiết
trời mát mẻ, ẩm thấp đã hết thì mùa hạ lại đến thay vào đó là cái oi bức, nóng
nực khác hẳn với mùa xuân. Hơn nữa nếu để ý thì ta sẽ thấy thời gian ban ngày
của mùa kéo dài hơn so với ban đêm. Điều này khiến ai vô tình nhất cũng nhận
ra đặc trưng của từng mùa.
Cũng đề cập tới quy luật tuần hoàn, các tác giả thời Hồng Đức cũng dùng
các hình ảnh của thiên nhiên để báo hiệu mùa hè đã tới, tạo nên một bức tranh
mùa hè thật sinh động gắn liền với cuộc sống của người dân quê:
Nước nồng sùng sục đầu rô trỗi
Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè.
(Lại vịnh nắng mùa hè - HĐQÂTT)
Như vậy có thể thấy, mùa hè ở Việt Nam là rất điển hình với thời tiết
nóng nực, ngột ngạt. Sự oi bức đó cũng đi vào trong thơ nhà thơ Trần Đăng
Khoa trong bài thơ “hạt gạo làng ta” đã cho chúng ta hiểu rõ hơn về tiết trời
Quy luật của thiên nhiên là vào thu cây cỏ đều biến đổi, trơ trụi lá, trở nên
lạnh lùng, nhưng lại có một số loài cây ngược lại quy luật ấy, cứ tiếp tục xanh
tươi bất chấp giá rét, cũng giống như sức mạnh và nghị lực của con người:
Thu đến cây nào chẳng lạnh lùng
Một mình lạt thuở ba đông.
(Tùng - Bài 1)
Mùa thu đến, mùa thu đi nhắc nhở thời gian đang dần về cuối, một vòng
tuần hoàn trong năm gần khép lại cũng giống như thời khắc cuộc đời của con
người đã vào tuổi xế chiều, tuổi con người sắp được nghỉ ngơi. Tuổi con người
già theo năm tháng không có sự lặp lại nhưng với thiên nhiên thì lại khác, sự lặp
lại của năm này với năm khác hoàn toàn giống nhau, không có sự phai mờ. Sự
chuyển mùa giữa mùa này với mùa khác vẫn như thế:
Đông đã muộn, lại sang xuân
Xuân muộn thì hè lại đổi lần
Tính kể từ mùa cỏ nguyệt
Thu âu là nhẫn một hai phân.
(Thu nguyệt tuyệt cú)