Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC TRẦN THẾ HOÀNG HÀNH VI DỰ PHÒNG NHIỄM HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT
Ở NGƯỜI CANH TÁC CHÈ XÃ LA BẰNG, HUYỆN ĐẠI TỪ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 60.72.73
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN QUANG MẠNH Thái Nguyên, 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lêi c¶m ¬n
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Y tế
Công cộng, Bộ môn Y học cộng đồng - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên,
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành Luận văn.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn
TS. Nguyễn Quang Mạnh - người thầy luôn tận tình dành nhiều thời gian
hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
tốt nghiệp của mình.
Trần Thế Hoàng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐBV : Biết đọc biết viết
CBYT : Cán bộ y tế
GDSK : Giáo dục sức khoẻ
HBM : Health Belief Model
HCBVTV : Hoá chất bảo vệ thực vật
HVSK : Hành vi sức khoẻ
NXB : Nhà xuất bản
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TT GDSK : Truyền thông giáo dục sức khoẻ
TT : Truyền thông
YTTB : Y tế thôn bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Hành vi 3
1.2. Thuyết hành vi 5
KHUYẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 27
Bảng 3.2. Thời gian canh tác và thu hoạch chè sau phun hoá chất bảo vệ
thực vật chè của đối tượng nghiên cứu 28
Bảng 3.3. Kiến thức của người canh tác chè 29
Bảng 3.4. Thái độ của người canh tác chè về dự phòng nhiễm hoá chất
bảo vệ thực vật 31
Bảng 3.5. Hành vi phun hoá chất bảo vệ thực vật và xử lý dụng cụ sau
phun 33
Bảng 3.6. Mức độ hành vi dự phòng nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật ở
người canh tác chè 42
Bảng 3.7. Tỷ lệ người canh tác chè được truyền thông giáo dục sức khoẻ 43
Bảng 3.8. Nguồn truyền thông giáo dục sức khoẻ cho người canh tác chè 43
Bảng 3.9. Nhu cầu truyền thông giáo dục sức khoẻ dự phòng nhiễm hoá
chất bảo vệ thực vật 44
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa hành vi dự phòng nhiễm hoá chất bảo vệ
thực vật với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 45
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa hành vi dự phòng nhiễm hoá chất bảo vệ
thực vật với kiến thức thức, thái độ, truyền thông 46
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
không mang trang bị phòng hộ (89,5%); thuốc dính vào da khi pha chế
(75,5%); do bình phun bị rò rỉ (35,0%); phun không đúng kỹ thuật (54,7%);
phun với liều lượng cao hơn mức khuyến cáo và do sử dụng một số loại thuốc
đã bị hạn chế hoặc cấm sử dụng [16]; do ít sử dụng kính mắt (4,0%) [7]; vứt
chai lọ tùy tiện hoặc dùng lại sau khi phun (23,88%) [32]. Ngoài những
nguyên nhân trên, việc thực hiện các hành vi không tắm rửa sau khi phun,
không chú ý đến chiều gió, không chú ý đến thời tiết, thiếu kiến thức hoặc
thái độ xem thường vệ sinh lao động ở người canh tác chè đều liên quan đến
nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật [12], [14].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Xã La Bằng là một xã miền núi thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.
Xã có tổng số dân là 3767 người trong đó có 40% là người dân tộc thiểu số.
Tổng diện tích của xã là 12,2 km
2
với diện tích trồng chè toàn xã là 328ha.
Phát triển cây chè là thế mạnh kinh tế của xã tuy nhiên trong quá trình canh
tác, người canh tác chè phải thường xuyên tiếp xúc với hóa chất bảo vệ thực
vật và đây là một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sức
khỏe của người canh tác chè. Đã có một số đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của
hóa chất bảo vệ thực vật đến sức khỏe người canh tác chè nhưng chưa có đề
tài nào nghiên cứu về hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật của
người canh tác chè tại xã La Bằng. Để tìm hiểu về hành vi dự phòng nhiễm
hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè tại xã La Bằng, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu: “Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở
người canh tác chè xã La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên” với mục tiêu:
1. Đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ
thực vật ở người canh tác chè xã La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên năm 2011.
mỗi chúng ta.
Kiến thức là sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng và bắt nguồn từ sự học
tập, trải nghiệm và là yếu tố tiền đề/dẫn dắt đến hành vi. Ví dụ: bà mẹ không
biết rõ lịch tiêm chủng (kiến thức) thì không đưa con đi tiêm chủng (hành vi).
Thái độ là một phản ứng được đánh giá thích hay không thích hoặc
khuynh hướng hướng tới sự vật, hiện tượng, một tình huống, một người, một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
nhóm người mà biểu hiện bằng niềm tin, cảm giác hoặc một hành vi dự định.
Thái độ là yếu tố cơ bản dẫn đến hành vi. Ví dụ: nếu người canh tác chè nhận
thức rằng không đeo khẩu trang khi tiếp xúc hóa chất bảo vệ thực vật
(HCBVTV) sẽ có nguy cơ nhiễm HCBVTV (thái độ), họ sẽ thực hiện đeo
khẩu trang (hành vi).
Niềm tin là sự tin tưởng chắc chắn rằng một sự kiện, quan điểm là
đúng, là có thật mặc dù có thể không đúng, không có thật. Niềm tin này
thường do cha mẹ, ông bà, và những người thân mà ta thương yêu, kính trọng
truyền đạt, khuyên bảo hoặc có được từ kinh nghiệm bản thân. Người ta
thường có xu hướng tiếp nhận niềm tin mà không kiểm chứng lại xem niềm
tin đó có đúng không. Ví dụ: có những nhóm người cho rằng phụ nữ có thai
không nên ăn thịt một số động vật vì nếu ăn đứa trẻ sau này sinh ra có thể có
hành vi hoặc một số đặc điểm giống như con vật mà người mẹ đã từng ăn
(niềm tin), vì vậy họ sẽ không ăn thịt động vật (hành vi).
Giá trị là điều mà chúng ta coi là quan trọng để định hướng cho các
hành động. Khi được nhận thức một cách đầy đủ, các giá trị sẽ trở thành
những tiêu chuẩn cho sự yêu thích và lựa chọn. Ví dụ: người tập thể dục thể
thao thấy người khỏe mạnh, ăn ngon, ngủ tốt (giá trị) thì họ sẽ tiếp tục tập thể
dục thể thao thường xuyên (hành vi).
* Yếu tố củng cố/duy trì
hành vi chính là cơ sở để can thiệp giúp cá nhân thay đổi hành vi theo hướng
có lợi cho sức khỏe.
1.2. Thuyết hành vi
Có nhiều thuyết cơ bản về thay đổi cho hành vi sức khỏe như: mô hình
giảm nguy cơ AIDS, mô hình các giai đoạn thay đổi, thuyết về hành động có
lý do và mô hình BASNEF, mô hình niềm tin sức khỏe [26], [27], [41]. Tuy
nhiên, thuyết mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model - HBM) là mô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
hình được sử dụng phổ biến nhất trong khoa học hành vi sức khỏe để giải
thích sự thay đổi/duy trì hành vi sức khỏe cá nhân cũng như hướng dẫn cho
các can thiệp thay đổi hành vi sức khỏe. Mô hình này đã được phát triển trong
những năm 1950 bởi nhà nghiên cứu tâm lý xã hội Mỹ Hochbaum,
Rosenstock và Kegels để giải thích lý do người dân Mỹ không tham gia vào
chương trình sàng lọc bệnh lao. Sau đó mô hình đã được tác giả Becker bổ
sung thêm và xây dựng từ năm 1974 [37], [41].
Mô hình niềm tin sức khỏe đã được áp dụng để giải thích hành vi như
hành vi xét nghiệm HIV của thanh niên trong nghiên cứu của tác giả Caroline
W. Karibu [35] khi tác giả sử dụng HBM làm khung lý thuyết của nghiên cứu
và chỉ ra rằng việc nhận thức về mối đe dọa nhiễm HIV ở giới trẻ sẽ dẫn tới
hành vi xét nghiệm HIV (1/2 số thanh niên có quan hệ tình dục không làm xét
nghiệm nhiễm HIV vì họ cho rằng họ không có nguy cơ nhiễm HIV). Các tác
giả Hazavehei SM, Taghdisi MH, Saidi M đã sử dụng HBM trong nghiên cứu
hành vi dự phòng bệnh loãng xương ở nữ học sinh trung học tại Garmsar, Iran
[39]. Tác giả đã chia nữ học sinh làm 3 nhóm, 1 nhóm tham gia chương trình
can thiệp giáo dục dự phòng bệnh loãng xương theo mô hình HBM, 1 nhóm
tham gia chương trình giáo dục theo phương pháp truyền thống và một nhóm
chứng. Tác giả tiến hành đánh giá kết quả trước can thiệp, ngay sau can thiệp
(Mô hình niềm tin sức khỏe Becker, 1974[41])
* Nhận thức sự nhạy cảm
Là niềm tin của cá nhân hướng đến các yếu tố nguy cơ sức khỏe. Ví dụ,
nhận thức rằng không sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục có nguy cơ
mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục Nhận thức được yếu tố nguy cơ
là cơ sở làm nền tảng cho việc thúc đẩy hành vi có lợi cho sức khỏe của họ.
Ví dụ, người cao huyết áp nhận thức rằng ăn mặn, uống rượu/bia sẽ có nguy
Nhận thức
về sự nhạy
cảm tới
bệnh “X”
Nhận thức
về tính
trầm trọng
của bệnh
“X”
Biến số nhân khẩu học
(Tuổi, giới, dân tộc,
kinh tế xã hội,
kiến thức)
Nhận thức về mối
đe dọa tới bệnh “X”
Nhận thức lợi
ích của hành vi
dự phòng so với
những rào cản
* Nhận thức lợi ích
Là quan điểm của cá nhân về lợi ích thực hiện hành vi khuyến nghị để
làm giảm yếu tố nguy dẫn đến bệnh tật. Ví dụ, người dân nhận thức rằng tập
thể dục thường xuyên sẽ làm cơ thể khỏe mạnh, phòng được bệnh tật (lợi ích);
đánh răng sau khi ăn, trước khi đi ngủ sẽ phòng sâu răng (lợi ích) Nhận thức
lợi ích khi thực hiện hành vi dự phòng giúp người làm GDSK xác định những
mong đợi mà quần thể đích phải đạt được.
* Nhận thức rào cản
Nhận thức rào cản là quan điểm của cá nhân về các yếu tố gây cản trở
hành vi dự phòng. Ví dụ, người dân nhận thức rằng không có nơi tập luyện là
yếu tố cản trở cho hành vi tập thể dục thường xuyên. Bất cứ một hành vi sức
khỏe nào cũng có yếu tố “rào cản” của nó. Việc xác định yếu tố gây cản trở
hành vi có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược làm thay đổi HVSK. Chỉ khi
cá nhân nhận thức được yếu tố “lợi ích” lấn án/áp đảo yếu tố gây “cản trở” thì
hành vi đó mới có khả năng thực hiện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
* Yếu tố bổ trợ
Bốn yếu tố nhận thức đã nêu trên là chịu sự tác động bởi các biến số
như tuổi, giới, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế (các yếu tố xã hội học). Vì
thế, tác giả Becker đã bổ sung vào mô hình các yếu tố này đã ảnh hưởng gián
tiếp đến hành vi sức khỏe thông qua nhận thức của cá nhân.
* Yếu tố nhắc nhở (Động lực cho thay đổi)
Yếu tố nhắc nhở đề cập đến vai trò của truyền thông làm thay đổi hành
vi. Đó là những sự kiện hoặc những thứ làm thúc đẩy quá trình thay đổi
hành vi. Ví dụ, lời khuyên từ những người khác, tranh ảnh, các phương
tiện truyền thông đại chúng (yếu tố nhắc nhở)
Trong giáo dục và nâng cao sức khỏe, xác định yếu tố nhắc nhở sẽ quyết
dân chưa qua đào tạo và đa số người dân mù chữ do đó họ không biết về những
tác hại cảnh báo cho người sử dụng ghi trên bao bì đựng HCBVTV [47].
Người canh tác nhận thức rõ tác hại của HCBVTV và đồng ý phải sử
dụng đầy đủ các biện pháp dự phòng nhiễm HCBVTV [38], phần lớn người
nông dân đồng ý nên sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân khi canh tác
(99,2%) [50].
Việc thực hành các giải pháp dự phòng nhiễm HCBVTV của người lao
động trong lĩnh vực nông nghiệp chưa cao, chỉ có 25% người sử dụng
HCBVTV mặc quần áo bảo hộ lao động và số người đeo găng tay trong quá
trình sử dụng HCBVTV cũng chiếm tỷ lệ không cao (43%) [34]. Theo nghiên
cứu của Hong Zhang và Yonglong Lu (2007) tại các tỉnh phía Bắc Trung
Quốc cho thấy hầu hết người dùng HCBVTV không sử dụng đầy đủ các biện
pháp phòng ngừa [49]. Tỷ lệ người nông dân sử dụng giày dép, mặt nạ và
găng tay khi tiếp xúc với HCBVTV thấp (31%, 14% và 9%) [36]. Số người
không bao giờ sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân nào tại thời điểm phun
HCBVTV cũng khá cao (22,1%), số không sử dụng mũ và không đeo kính
bảo hộ lao động chiếm tỷ lệ trên 50% (50,0% và 64,6%) [42] như vậy chứng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
tỏ còn tỷ lệ rất lớn người dân chưa thực hiện các biện pháp cá nhân nhằm dự
phòng nhiễm HCBVTV.
Bên cạnh tỷ lệ sử dụng phương tiện bảo hộ lao động còn thấp thì tỷ lệ
người dân vẫn ăn uống trong khi làm việc với HCBVTV chiếm tỷ lệ cao
(79,4%). Có 64,0% người dân cất giữ HCBVTV không đảm bảo an toàn và tỷ
lệ cất giữ HCBVTV gần thức ăn chiếm tới 29,4%, chỉ có 66,9% người dân
thỉnh thoảng tắm rửa sau khi phun và có 2,9% người dân có thói quen không
thay quần áo sau khi phun HCBVTV [49].
Các nghiên cứu đã chỉ ra nhận thức của người dân về: ăn, uống, hút
trang, kính mắt,ủng chỉ chiếm tỷ lệ 22,3% [12].
Trong thực tế, chè thường được trồng thành luống và ở trên đồi nên
khi phun HCBVTV, người canh tác chè thường phun theo địa hình, hướng
trước mặt và đi theo luống chứ họ không để ý đến hướng gió, có trên 24%
người dân không quan tâm đến địa hình và hướng phun [30] mà chỉ muốn
phun sao cho thuận tiện và nhanh nhất. Theo tác giả Nguyễn Tuấn Khanh:
Số người dân trồng chè có hiểu biết đầy đủ cách chọn thời tiết mát để phun,
biết phun giật lùi, biết phun xuôi chiều gió đạt tỷ lệ thấp 29,6 % [13]. Việc
người dân không biết chọn thời tiết, hướng phun, hướng gió mà thường
phun một cách tùy tiện là yếu tố nguy cơ gây nhiễm HCBVTV rất cao.
1.4.2.2. Thái độ dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật
Trong các nghiên cứu đã thực hiện, phần lớn người canh tác chè có
thái độ tích cực đối với nhiễm HCBVTV. Họ luôn lo lắng cho sức khỏe của
chính mình và gia đình. Đa phần người dân đồng ý với việc nên cất
HCBVTV trong tủ riêng (62,19%). Tỷ lệ người dân có thái độ đồng ý với
việc luôn đeo khẩu trang, luôn mặc áo bảo hộ khi phun HCBVTV, thái độ
về việc đảm bảo thời gian cách ly giữa các lần phun, và thái độ không mua
nếu như nhãn mác HCBVTV không rõ ràng (hư hỏng) chiếm từ 93,53%
đến 97,01% [34].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Phần lớn người canh tác chè có tâm lý lo lắng khi sử dụng HCBVTV sẽ
ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân (97,4%), và số người cho rằng cần thiết
phải sử dụng các loại phương tiện bảo vệ cá nhân, đồng ý với việc không thu
hoạch chè sớm sau phun nhằm dự phòng nhiễm HCBVTV cũng chiếm tỷ lệ
rất cao (98,7 %; 96,9%) [13].
1.4.2.3. Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật
Người dân khi pha thuốc trừ sâu thường pha với nồng độ đậm đặc hơn
1.4.2.3. Các yếu tố liên quan đến hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ
thực vật
Theo tác giả K’ Vởi, Đỗ Văn Dũng [32] khi nghiên cứu về kiến thức,
thái độ và thực hành về HCBVTV cho thấy có sự liên quan giữa trình độ học
vấn của người dân; kiến thức và thái độ đúng về HCBVTV với thực hành
đúng về hóa chất bảo vệ thực vật của người nông dân trồng rau.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
1.5. Khung lý thuyết nghiên cứu
Biến phụ thuộc
Biến độc lập
Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu
- Tuổi
- Giới
- Dân tộc
- Trình độ học vấn,
- Năm canh tác chè
Hành vi dự phòng
nhiễm HCBVTV
- Đeo kính mắt
- Sử dụng khẩu
trang
- Sử dụng găng tay
- Sử dụng mũ nón