Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LÊ VIẾT CHUNG
TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ LAO ĐỘNG
TRONG TIẾNG TÀY LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC THÁI NGUYÊN - 2011
THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì
một công trình nào khác.
Tác giả Lê Viết Chung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC Trang
Mục lục
Danh mục các bảng biểu
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
8
1.1.
Khái niệm hình vị, từ, ngữ, nghĩa
Khái niệm định nghĩa miêu tả
21
1.5.
Sơ lƣợc về dân tộc Tày và tiếng Tày
23
1.5.1. Sơ luợc về dân tộc Tày
23
1.5.2. Sơ lược về tiếng Tày
25
Tiểu kết
30
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ PHƢƠNG THỨC ĐỊNH
DANH LỚP TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ LAO ĐỘNG
TRONG TIẾNG TÀY
32
Dẫn nhập
32
2.1.
Đặc điểm cấu tạo lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động trong
tiếng Tày
33
2.1.1. Đặc điểm kiểu loại từ ngữ
33
Một số vấn đề về ngôn ngữ và văn hóa
42
3.1.1. Khái niệm văn hoá
42
3.1.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
43
3.2.
Nhận diện tƣ liệu qua định nghĩa miêu tả
45
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3.3.
Một số đặc trƣng văn hóa của ngƣời Tày phản ánh qua tên
gọi từ ngữ chỉ công cụ lao động
51
3.3.1. Văn hóa vật chất
51
3.3.2. Văn hóa tinh thần
64
Tiểu kết
67
KẾT LUẬN
69
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những nước thuộc khu vực Đông Nam Á
có nền kinh tế chủ đạo là kinh tế nông nghiệp. Chính từ trong lao động
đã để lại những dấu ấn nhất định trong ngôn ngữ, đó là kho tàng từ
vựng hết sức phong phú phản ánh tri thức của người Việt. Đồng thời
nền văn minh nông nghiệp cũng là sự thể hiện rõ nhất văn hóa nông
nghiệp. Văn hóa nông nghiệp của người Việt Nam có những nét
chung với các nền văn hóa nông nghiệp trong khu vực nhưng cũng
có những nét riêng làm thành bản sắc văn hóa Việt Nam.
Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó có
53 dân tộc thiểu số. Trong nền văn hóa đa dân tộc, đa ngôn ngữ, mỗi
dân tộc có những bản sắc văn hóa, tiếng nói riêng chính sự đa dạng
đó đã làm phong phú nền văn hóa Việt Nam.
Trong số các dân tộc thiểu số Việt Nam, dân tộc Tày là một
cộng đồng tộc người đông dân số nhất: 1.626.392 người (theo tài
liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009 của Ban chỉ đạo
Tổng điều tra dân số Trung ương). Địa bàn cư trú của người Tày
thường tập trung chủ yếu ở phía Bắc Việt Nam như: Cao Bằng,
Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang. Một bộ
phận di cư vào các tỉnh phía Nam. Việc trồng cây, trồng lúa là đặc
điểm văn hóa vật chất lớn nhất của người Tày.
Đối với bất cứ dân tộc nào thì ngôn ngữ là công cụ tư duy
quan trọng nhất giúp gắn kết mọi người với nhau trong cộng đồng
dân tộc, đồng thời cùng là phương tiện để bảo tồn và phát triển
Trong các công trình đã công bố các tác giả thường đề cập
đến những vấn đề như: hiện tượng vay mượn trong tiếng Tày, Nùng;
vốn từ tiếng Tày - Nùng; hoặc nghiên cứu về ngữ âm tiếng Tày
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
trong so sánh với tiếng Việt, v.v mà chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách riêng biệt về những từ ngữ chỉ công cụ lao
động trong tiếng Tày. Tuy vậy, những kết quả mà các tác giả đạt
được đã cho chúng tôi một sự hiểu biết tường tận hơn về tiếng Tày
và thật sự bổ ích khi chúng tôi bắt tay vào tiến hành đề tài luận văn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ những từ (lớp
từ), ngữ chỉ công cụ lao động của người Tày ở Thái Nguyên. Tuy
nhiên, bước đầu thu thập tư liệu, chúng tôi nhận thấy có một số vấn
đề như sau:
- Khó có sự phân biệt rạch ròi giữa những công cụ dùng trong
lao động với những công cụ dùng trong đời sống sinh hoạt. Ví dụ:
(từ) mạc pjạ "con dao" có thể dùng trong lao động và cũng có thể
dùng trong đời sống sinh hoạt. Tương tự như vậy, còn có các từ bủa
"cái búa", kẻo "cái kéo", v.v
- Mặt khác có những từ được dùng trong đời sống sinh hoạt
nhưng không thể không được xem xét đến như là những từ thuộc lớp
từ lao động, ví dụ: chốc kha "cối giã chày chân", chốc nặm "cối
nước", càn "đòn gánh", v.v
- Ngoài sự không rạch ròi giữa từ ngữ chỉ công cụ lao động
với từ ngữ chỉ công cụ trong đời sống sinh hoạt, nói cách khác hai
lĩnh vực này sử dụng chung một số công cụ, còn có những từ ngữ
- Nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo và phương thức định danh
của lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động.
- Nghiên cứu về một số đặc trưng văn hóa của người Tày
phản ánh qua tên gọi lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài từ ngữ chỉ công cụ lao động trong tiếng
Tày, luận văn hướng đến mục đích tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và
phương thức định danh của lớp từ này; từ đó thấy được một số đặc
trưng văn hóa của người Tày phản ánh qua tên gọi lớp từ chỉ công
cụ lao động.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích mà đề tài đặt ra, luận văn có
những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Trình bày một số vấn đề lý thuyết về cấu tạo từ (hình vị, từ,
và ngữ nghĩa ).
- Trình bày một số vấn đề lý thuyết về định danh.
- Trình bày một số vấn đề lý thuyết về khái niệm văn hóa và
mối quan hệ ngôn ngữ với văn hóa.
- Trình bày khái quát về vấn đề người Tày và tiếng Tày ở
Việt Nam.
- Nhận diện và xác lập danh sách từ ngữ chỉ công cụ lao động.
- Định nghĩa miêu tả danh sách từ ngữ chỉ công cụ lao động.
- Miêu tả về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và phương thức
định danh lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động.
- Trình bày một số đặc trưng văn hóa của người Tày được
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp so sánh đối chiếu được áp dụng trong chừng
mực khi chúng tôi thấy cần thiết có sự so sánh - đối chiếu giữa
những vấn đề đang xem xét với những vấn đề tương ứng trong
tiếng Việt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đóng góp về mặt
phương pháp luận cho cách thức tiến hành xác lập và nghiên cứu
một lớp từ vựng cụ thể của một ngôn ngữ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần cho việc học tập, giảng dạy tiếng Tày nói chung
và lớp từ chỉ công cụ lao động của người Tày nói riêng.
- Góp phần cho việc hiểu biết về một số đặc trưng văn hóa
của người Tày thông qua sự phản ánh của tên gọi lớp từ ngữ chỉ
công cụ lao động.
- Danh sách lớp từ chỉ công cụ lao động và định nghĩa miêu
tả của nó góp phần hỗ trợ và làm tư liệu cho việc biên soạn từ điển
ngữ văn, từ điển bách khoa chuyên ngành.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và phương thức
định danh của lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động
của người Tày
chắp dính và hoà kết.
Trên thực tế, các về đặc tính chung của hình vị ít được các
nhà ngôn ngữ học thảo luận. Tuy vậy, những dạng thức cụ thể của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
một hình vị trong một ngôn ngữ cụ thể là thế nào, hiểu ra sao về
"nghĩa" của hình vị trong ngôn ngữ ấy thì lại được bàn luận rất
nhiều. Chẳng hạn, trong tiếng Việt đã có nhiều ý kiến thảo luận
xoay quanh "khuôn vần" của từ láy tiếng Việt (ví dụ: "siếc" trong
sách siếc, giáo sư giáo siếc hay ấp trong lấp ló, ngấp nghé, thập
thò, lập loè, mấp mô hay ăn trong vuông vắn, đỏ đắn, nhỏ
nhắn, xinh xắn, thẳng thắn, may mắn … và thậm chí cả nhắn,
vắn, xắn… trong các từ này nữa) có nghĩa không, nếu có nghĩa
thì đó là nghĩa gì. Hay chính sự tổ hợp giữa "khuôn" với các
thành tố (hoặc bộ phận thành tố) trước và sau nó mới là hình
thức biểu đạt nghĩa…
Bên cạnh những ý kiến trên còn có những ý kiến tranh luận
về bản chất các đơn vị được gọi là "tiếng" (với vai trò nhất thể ba
ngôi, vừa là "âm tiết", vừa là "từ", vừa là "hình vị") trong tiếng Việt
(và cũng có thể gặp trong tiếng Tày). Từ những lí do đó, hình vị
cũng có nhiều định nghĩa khác nhau:
- "Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có nghĩa, có chức
năng làm thành tố trực tiếp tạo nên từ" [11, tr. 40].
- "Hình vị cũng là đơn vị có nghĩa, cũng được tái hiện như
các từ, nhưng hình vị chỉ được phân xuất ra nhờ phân tích bản thân
các từ, chúng không tồn tại độc lập mà nhập hẳn vào từ, không tách
rời khỏi từ" [7, tr. 13].
- "Hình vị là những đơn vị có nghĩa nhỏ nhất có thể kết hợp
một thành tố có nghĩa lớn hơn hình vị. Thành tố này mới được dùng
để trực tiếp cấu tạo nên từ.
- "Thành tố cấu tạo từ" được hiểu là yếu tố bên trong từ, yếu
tố hợp thành nên từ, có thể trùng hoặc không trùng khớp với hình vị.
Điều đó, giúp chúng ta giải thích có logic đối với những trường hợp
các hình vị kết hợp với nhau, nhưng sản phẩm của sự kết hợp này
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
không thể được đánh giá là từ (không tái hiện được tự do trong lời
nói để tạo nên câu), mà chỉ nên xem là thành tố cấu tạo từ.
Khi nói tới các đơn vị cơ bản cuả ngữ pháp, người ta nói tới
đơn vị được gọi hình vị. Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của
ngôn ngữ được sử dụng (trực tiếp hoặc gián tiếp) cấu tạo nên từ. Là
đơn vị có kích thước nhất định, có ý nghĩa nhất định, có cấu trúc nội
tại tương đối ổn định, vững chắc, không thể phân tách thành các đơn
vị nhỏ hơn về nghĩa. Đơn vị này có chức năng cấu tạo nên các đơn
vị lớn hơn nó, chủ yếu là dùng để cấu tạo nên từ… và có khả năng
giải thích được cấu trúc ngữ pháp của đơn vị đó. Còn từ là đơn vị
nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự
do trong lời nói để xây dựng nên câu.
Từ những cách nhìn nhận về hình vị nói ở trên, ta thấy có thể
chấp thuận quan niệm: "Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của
ngôn ngữ được sử dụng (trực tiếp hoặc gián tiếp) cấu tạo nên từ".
Những đơn vị được coi là hình vị đều thoả mãn hai đặc điểm: có
nghĩa và không thể chia thành đơn vị có nghĩa nhỏ hơn.
1.1.2. Từ
Như chúng ta đã biết, từ là đơn vị cơ bản của từ vựng (từ
vựng, ngữ âm và ngữ pháp là ba bộ phận cấu thành của một ngôn
đưa ra lời định nghĩa chính thức hiển ngôn đối với từ, hoặc họ chỉ
đưa ra những lời định nghĩa thích hợp với lĩnh vực mà mình nghiên
cứu, hay trình bày nội dung của khái niệm "từ" bằng những ngôn từ
chung chung, ước định.
Mặc dù vậy, trên cơ sở những định nghĩa khác nhau về "từ",
có thể thấy từ có những đặc điểm đáng chú ý như sau:
- Là đơn vị có kích thước nhất định về vật chất - âm thanh, là
mặt biểu thị, mặt hình thức, hay còn gọi là "từ ngữ âm - âm vị học";
- Là đơn vị có ý nghĩa biểu thị các sự vật, hiện tượng… nhất
định, là mặt được biểu thị, nội dung;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
- Là đơn vị có cấu trúc nội tại tương đối vững chắc, ổn
định,có nghĩa mà không thể phân tách thành đơn vị nhỏ hơn;
- Là đơn vị có chức năng khi hoạt động trong lời nói, là đơn
vị để kiến tạo nên câu…
Để có cơ sở thuận lợi cho việc nghiên cứu, xây dựng đề tài
và khảo sát tư liệu chúng tôi chọn khái niệm về từ của nhóm tác giả
Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong Cơ sở
ngôn ngữ học tiếng Việt: "Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn
ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng
nên câu" [10, tr. 136].
Như vậy, từ có tính hoàn chỉnh cả về mặt ngữ âm và về mặt
ngữ nghĩa (dù là nghĩa từ vựng hay nghĩa ngữ pháp). Chính tính
hoàn chỉnh về âm và nghĩa như vậy đã khiến cho từ được sử dụng
độc lập để tạo câu. Trong định nghĩa vừa nêu, có hai đặc điểm nổi
bật của từ cần chú ý:
- Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa: Từ có hình thức phổ biến là
tính thành ngữ.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học thì ngữ là:
Kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các
hư từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn
đạt một khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các
hiện tượng của thực tại khách quan. Đó là một kết cấu cú pháp được
tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ
thuộc - theo quan hệ phù hợp, chi phối hay liên hợp. Trong một số
ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp gọi là
thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là thành tố
phụ. Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tạo nên danh ngữ),
động từ (tạo nên động ngữ), tính từ (tạo nên tính ngữ), ngữ còn
được gọi là cụm từ, từ tổ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Ngữ là phương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng,
quá trình, phẩm chất. Ý nghĩa ngữ pháp của ngữ được tạo nên bằng
quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở một kiểu
quan hệ nào đó giữa chúng. Ngữ thường chia ra hai kiểu: Ngữ tự do
và ngữ không tự do (ngữ cố định). Ngữ tự do bao gồm những ý
nghĩa từ vựng độc lập của tất cả các thực từ tạo thành ngữ; mỗi liên
hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ tự do là mối liên hệ linh hoạt
và có sức sản sinh (kiểu như đọc sách). Còn trong ngữ không tự do
thì tính độc lập về từ vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi
hoặc bị mất và ý nghĩa từ vựng của ngữ trở nên giống như ý nghĩa
của một từ riêng biệt (kiểu như vui tính, bền gan, sân bay, đường
sắt) [50, tr. 176].
1.1.4. Nghĩa
- Thuyết điều kiện chân trị ("nghĩa của một biểu thức là sự
đóng góp của nó vào điều kiện chân trị của câu chứa nó") [31, tr. 57].
Trên cơ sở những quan niệm trên thì ông cho rằng không một
thuyết nào có hội đủ tất cả những yếu tố để thỏa mãn cho câu trả
lời: Nghĩa là gì?
Quan tâm về vấn đề này, hiện có không ít định nghĩa về
nghĩa, đặc biệt về nghĩa của từ. Sở dĩ như vậy là vì khái niệm nghĩa
rất trừu tượng (so với từ và các đơn vị ngôn ngữ khác). Về mặt lý
thuyết, căn cứ để hiểu nghĩa là: các đơn vị đang xét (từ và hình vị)
được sử dụng trong sự quy chiếu về một sự vật hiện tượng nào đó,
với yêu cầu người nói, người nghe phải cùng nghĩ về sự vật hiện
tượng ấy. Nhờ sự quy chiếu như vậy, sự sử dụng các đơn vị này trong
cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn nó mới không gây nên sự lẫn lộn.
Nghĩa các đơn vị đang xét mang tính quy ước là nhờ người
nói và người nghe (sử dụng cùng một ngôn ngữ) ước định với nhau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
âm thanh này biểu thị sự vật hiện tượng này, âm thanh kia biểu thị
sự vật hiện tượng kia v.v… Như vậy, mặt vật chất và ý nghĩa có liên
hệ mật thiết, quy định ràng buộc và là điều kiện tồn tại của nhau.
Đồng thời, cũng như các đơn vị ngôn ngữ, nghĩa của các đơn vị này
(từ và hình vị) cũng chỉ tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ. Tách ra
khỏi hệ thống, chúng không tồn tại.
Từ sự phân tích trên có thể chấp nhận một quan niệm chung:
Hiện thực được phản ánh vào nhận thức, tạo nên mối quan hệ liên
tưởng thường trực liên tục với một hình thức âm thanh nhất định,
nhờ đó sự phản ánh này được hiện thực hoá bằng ngôn ngữ. Mối
liên hệ này được hiểu là nghĩa.
pháp. Xét về nghĩa thì từ và hình vị không khác nhau (đều là đơn vị
nhỏ nhất có nghĩa) sự khác nhau ở chúng chỉ là chức phận của
chúng. Tuy nhiên vì từ là đơn vị trực tiếp cấu thành lời nói và là sự
kiện tâm lý ngôn ngữ tương đối hiển nhiên thường trực đối với
nguời bản ngũ.Vì vậy trong tài liệu nghiên cứư về ngôn ngữ học,
người ta thường chú ý đến ý nghĩa của từ. Điều đó lý giải vì sao từ
được chú ý hơn so với hình vị.
1.2. KHÁI NIỆM TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ LAO ĐỘNG
1.2.1. Vị trí của từ chỉ công cụ lao động trong lớp từ vựng
của một ngôn ngữ
Từ vựng là đơn vị cơ bản nhất của ngôn ngữ. Không có từ
vựng thì không thể tạo thành câu để diễn đạt được ý tưởng. Từ
vựng là một trong ba bộ phận cấu thành của một ngôn ngữ. Có thể
nói toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của con người nói riêng
và cả thế giới khách quan nói chung đều được phản ánh trong
ngôn ngữ và được lưu lại trong vốn từ vựng của ngôn ngữ. Từ
đây, có thể nhận ra vốn từ vựng của một ngôn ngữ được phân chia
theo thực tại khách quan thành các trường từ vựng ngữ nghĩa hoặc
theo cách sử dụng.