văn hóa tinh thần của người tày ở huyện bắc sơn tỉnh lạng sơn - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

HOÀNG HẢI YẾN

VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƢỜI TÀY
Ở HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa khọc:TS. HOÀNG NGỌC LA


2.3. Tín ngƣỡng dân gian 76
2.3.1. Quan niệm về hồn và các loại ma 76
2.3.2. Các hình thức tín ngưỡng liên quan đến gia đình, cộng đồng 78
2.3.3. Các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp 83
2.3.4. Các tàn dư và biểu hiện của hình thái ma thuật 85
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.3.5. Phong tục, tín ngưỡng làm nhà mới của người Tày 87
2.4. Văn học dân gian 91
2.4.1. Tự sự dân gian 91
2.4.2. Trữ tình dân gian 91
2.4.3. Tục ngữ, câu đố Tày 98
2.5. Lễ hội và trò chơi dân gian 102
CHƢƠNG 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HÓA TINH THẦN CỦA
NGƢỜI TÀY Ở HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN 107
3.1. Những yếu tố tác động đƣa đến sự biến đổi của văn hóa tinh thần
của ngƣời Tày ở Bắc Sơn 107
3.1.1. Yếu tố nội sinh 107
3.1.2. Yếu tố ngoại sinh 108
3.2. Những biến đổi của văn hóa tinh thần 117
3.2.1. Những biến đổi về tổ chức xã hội 117
3.2.2. Biến đổi của các tập tục lễ nghi liên quan đến chu kì đời người 123
3.2.3. Biến đổi trong tín ngưỡng dân gian của người Tày ở Bắc Sơn 127
KẾT LUẬN 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO 136

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU

với các thời kì lịch sử của đất nước người Tày đã sáng tạo ra những giá trị văn
hóa đặc sắc, mang đậm tính chất riêng biệt của mình, đồng thời cũng hòa
chung vào nền văn hóa chung của dân tộc, là một mảng văn hóa trong tổng
thể văn hóa Việt.
Người Tày ở Bắc Sơn chiếm 67,8 % trong tổng số 65.930 người. Gốc
bản địa, thuộc nhóm ngữ hệ Tày – Thái. Người Tày ở Bắc Sơn có mặt ở tất cả
19 xã và cả thị trấn, sinh sống trong một khoảng không gian rộng trong thung
lũng Bắc Sơn, hòa hợp với các dân tộc khác trong địa bàn của huyện. Do có
mặt sớm và là dân bản địa nên dân tộc Tày ở Bắc Sơn đã xây dựng cho mình
một nền văn hóa truyền trống phong phú và mang đậm bản sắc địa phương,
góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam.
Hiện nay đất nước đang tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước, đang có những chuyển biến mạnh mẽ trong tiến trình
hội nhập, nên vấn đề bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc đang rất được
coi trọng. Đảng ta xác định “ xây dựng một nền văn hóa tiên tiến nhưng đậm
đà bản sắc dân tộc”. Năm 1991, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta xác định: Tôn trọng lợi ích,
truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc, đồng
thời kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mĩ, các di sản văn
hóa, nghệ thuật của dân tộc. Chủ trương đó được tiếp tục khẳng định rõ hơn
trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa
VIII ( 1998 ) của Đảng “ Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng
dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để tạo những giá trị văn hóa mới
và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá
trị văn hóa truyền thống( bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm
cả văn hóa vật thể và phi vật thể ” [20;63].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3

4
- Cuốn “Văn hoá Tày - Nùng” của Lã Văn Lô, Hà Văn Thư, NXB Văn
hoá, xuất bản năm 1984 [42]. Cuốn sách đã giới thiệu khá đầy đủ về xã hội,
con người và văn hoá của hai dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam. Tuy nhiên
nhiều đặc trưng văn hoá mang tính địa phương, trong đó có Bắc Sơn chưa
được các tác giả quan tâm và đề cập một cách đầy đủ.
- Cuốn “Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam” do NXB Viện KHXH và
Viện dân tộc học xuất bản năm 1992 [12]. Đây là cuốn sách đề cập tương đối
đầy đủ về điều kiện tự nhiên, dân cư Tày, Nùng, lịch sử tộc người, kinh tế
truyền thống, đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, tổ chức xã hội
của các tộc người Tày, Nùng ở Việt Nam.
- Cuốn “Văn hoá truyền thống Tày - Nùng” của nhóm tác giả Hoàng
Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược, Vương Toàn do
NXB văn hoá dân tộc xuất bản năm 1993 [56]. Là tác phẩm tìm hiểu tương
đối toàn diện trên lĩnh vực văn hoá của hai dân tộc Tày, Nùng : xã hội và văn
hoá của người Tày, Nùng; chữ Nôm của người Tày, Nùng
- Cuốn “Phong tục tập quán của người Tày ở Việt Bắc” của tác giả
Hoàng Quyết, Tấn Dũng, NXB Văn hoá dân tộc xuất bản năm 1994 [57] đã
tập trung nghiên cứu sâu về đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Tày ở khu
Việt Bắc, với những phong tục tập quán, về tín ngưỡng, lễ hội từ xa xưa của
người Tày.
- Cuốn “Tục cưới xin của người Tày” của Triều Ân, Hoàng Quyết, do
NXB Văn hóa dân tộc xuất bản năm 1995 [3] giới thiệu các thủ tục, lễ nghi
của dân tộc Tày ở Việt Nam.
- Cuốn “Tìm hiểu bản sắc văn hoá Việt Nam” (cách nhìn hệ thống loại
hình) của Trần Ngọc Thêm do NXB Thành phố Hồ Chí Minh (1997) [60] đã
tiến hành phân loại các hình thái tín ngưỡng, những nét đặc trưng trong phong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


6
+ Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Bắc
Sơn ( 1930 - 1954) [40].
+ Lịch sử Đảng bộ huyện Bắc Sơn 1955 – 1985 [41]. Các cuốn sử này
ít nhiều đề cập tới bản sắc văn hóa của dân tộc Tày ở Bắc Sơn.
Trong những năm gần đây công tác sưu tầm, nghiên cứu, khôi phục văn
hóa Tày ở Lạng Sơn đã được đẩy mạnh, có một số công trình tiêu biểu:
- Cuốn “Tục lệ Lạng Sơn (trước năm 1920)”, do Viện nghiên cứu Hán
Nôm và Sở Văn hóa Thông tin Lạng Sơn biên soạn, Nxb VHDT xuất bản
năm 1998 [70] đã phản ánh đầy đủ những quy tắc, tập tục, diện mạo, bản sắc
văn hóa riêng của từng làng, xã. Các làng, bản người Tày là đối tượng nghiên
cứu chính của công trình.
- Cuốn “Địa chí Lạng Sơn” do UBND tỉnh biên soạn, Nxb Chính trị
Quốc gia xuất bản 1999 [66] là một công trình “bách khoa” về mảnh đất, lịch
sử và đời sống văn hóa các dân tộc trong tỉnh, giúp chúng ta có cái nhìn toàn
diện hơn về văn hóa Tày xứ Lạng.
- Cuốn “Lễ hội dân gian Lạng Sơn”, do Hoàng Văn Páo chủ biên, Sở
VH Lạng Sơn xuất bản năm 2002 [53] giới thiệu đầy đủ diễn trình của các lễ
hội và những vấn đề có liên quan đến lễ hội như truyền thuyết và di tích, trong
đó, lễ hội dân gian của người tày và người Nùng chiếm một phần chủ yếu.
- Cuốn “Nghi lễ then giải hạn (hắt khoăn) của người Tày” của Nguyễn
Thị Hoa, Hội VHNT Lạng Sơn xuất bản năm 2004 [30] giới thiệu về diễn
xướng then của người Tày ở Xứ Lạng.
- Cuốn “Đặc điểm dân ca đám cưới Tày – Nùng xứ Lạng” của Lộc Bích
Kiệm, Hội VHNT Lạng Sơn xuất bản năm 2004 [36] đi sâu tìm hiểu về một
loại hình dân ca đặc biệt của hai dân tộc này ở Lạng Sơn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7

8
- Các tác phẩm mang tính lí luận chung và chuyên khảo về văn hoá như
“ Văn hoá một số vấn đề lí luận” của Trương Lưu, Cơ sở văn hoá Việt Nam
của Trần Ngọc Thêm, về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng cộng
sảng Việt Nam do Ban tư tưởng - văn hoá trung ương xuất bản, Nghị quyết
BCH Trung Ương Đảng lần thứ 5 ( Khoá VIII ), các công trình nghiên cứu đề
cập đến văn hoá Tày . . .
+ Nguồn tư liệu khảo sát, điền dã
Do có điều kiện thuận lợi là đang sinh sống và công tác tại địa bàn
Huyện nên dễ dàng tiếp xúc với các nhân chứng của lịch sử, quan sát và tham
gia các lễ hội, được chứng kiến các phong tục tập quán, lễ nghi của đồng bào
địa phương. Qua đó chúng tôi có được những tư liệu, những hiểu biết hết sức
quý báu. Đây là nguồn tài liệu rất quan trọng, đồng thời cũng là yếu tố quyết
định giúp chúng tôi hoàn thành tốt đề tài của mình
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng
phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, phương pháp điền dã
dân tộc học, ghi chép, tổng hợp phân tích các yếu tố đặc trưng văn hóa tộc
người Tày ở địa phương.
5. Đóng góp của đề tài.
- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về văn hóa tinh thần của người
Tày ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Góp phần làm rõ nét những bản sắc văn
hóa Tày ở địa phương, đồng thời khẳng định và bổ sung thêm các nét tương
đồng với văn hóa dân tộc Tày ở các địa phương khác và với các dân tộc khác.
Thông qua việc tìm hiểu văn hóa tinh thần của dân tộc Tày, đề tài làm
nổi bật lên những đặc trưng văn hóa tinh thần của dân tộc Tày, giúp cho các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9

huyện Văn Quan, Chi Lăng, phía Tây tiếp giáp với huyện Võ Nhai tỉnh Thái
Nguyên, phía Nam tiếp giáp với huyện Hữu Lũng, phía Bắc nối liền với
huyện Bình Gia. Đây là một địa bàn rất cơ động là cửa ngõ giao lưu kinh tế
văn hóa xã hội giữa hai tỉnh Lạng Sơn và Thái Nguyên.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Đất đai: là huyện miền núi, ở độ cao 400m trung bình so với mặt biển,
với đặc điểm là nhiều núi đá vôi và nhiều rừng gỗ quý. Có nhiều ngọn núi cao
song cao nhất là ngọn Khau Kiêng: 1.107m. Xen kẽ giữa các dãy núi đá vôi là
các thung lũng khá bằng phẳng thuận lợi canh tác. Bắc Sơn có diện tích tự
nhiên toàn huyện là 67.577 ha (697,9km
2
). Trong đó đất lâm nghiệp có diện
tích 41.210 ha, còn lại là núi, suối, hồ và đất canh tác. Diện tích đất nông
nghiệp và khả năng nông nghiệp không nhiều chỉ có 14.260 ha, còn lại là bãi
chăn nuôi, do thiếu nước nghiêm trọng nên chưa thể canh tác được.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Đất đai huyện Bắc Sơn có 8 loại xen kẽ lẫn nhau, chủ yếu là đất đỏ
vàng trên đất sét (chiếm trên 42% diện tích tự nhiên), đất đỏ vàng trên đá
magma axit (chiếm trên 28%), đất vàng trên đá cát (chiếm 3,4%), đất phù sa
(chiếm 1,2%) và các loại đất tụ dốc, đất nâu đỏ trên đá vôi Đa phần đất đai
có độ dày canh tác trên 50cm nhưng độ dốc lớn, hiếm nước nên hướng phát
triển cây trồng cạn, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và cây lấy gỗ phù
hợp hơn.
Là một huyện miền núi cao, phần lớn diện tích là rừng và đồi núi, nên
ruộng đất chủ yếu là ruộng bậc thang, phân tán hoặc là ở ven đồi, chân núi
hoặc ven suối, khá màu mỡ, thuận lợi cho trồng lúa, hoa màu và các loại cây
công nghiệp như hồi, trẩu, sở, thuốc lá, mía, dâu . . .cây ăn quả như mận, đào,

đổi ít nhiều nhưng về cơ bản vẫn có những đặc điểm trên. Trong mùa lạnh,
các đợt gió mùa đông bắc có năm đến sớm, có năm đến muộn; có đợt kéo dài,
có đợt ngắn, góp phần tạo ra tính thất thường của khí hậu, có ảnh hưởng xấu
đến sản xuất và đời sống của nhân dân.
Lượng mưa bình quân của huyện Bắc Sơn là 1500mm, mưa tập trung
chủ yếu ở các trận mưa có cường độ lớn vào mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 9,
còn từ tháng 10 đến tháng 3 lượng mưa ít chỉ còn khoảng 358mm. Nhiệt độ
trung bình trong năm là 20
0
c đến 22
0
c, độ ẩm trung bình từ 80 – 85% thích
hợp với sự phát triển của các loài động thực vật nhiệt đới, ở những nơi núi cao
khí hậu mát mẻ như ở núi Khau Kiêng thuận lợi cho sự phát triển của thảm
thực vật á nhiệt đới và cây ôn đới.
Tuy nhiên, do nằm trong cánh cung núi Bắc Sơn, mở rộng về phía Bắc,
trực tiếp đón gió mùa từ phương bắc thổi vào và giữ lại một phần bởi các dãy
núi cao ở phía nam của huyện nên mùa đông ở Bắc Sơn thường đến sớm và
kéo dài, có phần khắc nghiệt hơn so với các vùng khác. Hàng năm, vào nhiều
thời điểm của mùa đông, nhiệt độ thường xuống thấp dưới 10
0
c, xuất hiện
sương muối, sương giá, làm chết nhiều gia súc và cây trồng nhiệt đới, mọi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
hoạt động canh tác, sản xuất hầu như bị ngưng trệ vì thiếu nước và lạnh nên
cây trồng không thể phát triển được.
Sông ngòi: Bắc Sơn không có con sông nào chảy qua, nhưng có 5 con

14
1.2. Dân tộc, dân cƣ
Bắc Sơn, vùng đất có giàu tiềm năng phát triển kinh tế, xã hội, với vị trí
địa lí và điều kiện tự nhiên thuận lợi nên từ thời nguyên thủy đã có con người
sinh sống. Tại Bắc Sơn các nhà khoa học đã phát hiện được những dấu tích
thuộc thời đại đồ đá tiêu biểu thuộc vào nền văn hóa Bắc Sơn, là nền văn hóa
khảo cổ có vị trí rất quan trọng trong thời đại đồ đá mới ở Việt Nam, với
chiếc rìu mài lưỡi - rìu mài Bắc Sơn. Như vậy, cách đây hàng ngàn năm con
người với nền văn minh lúa nước đã có mặt ở một số nơi thuộc huyện Bắc
Sơn ngày nay, họ là những chủ nhân đầu tiên của vùng đất này, đó chính là
người Tày cổ.
Theo niên giám thống kê của huyện thì tính đến năm 2009 dân số của
huyện Bắc Sơn đã lên tới 65.930 người, mật độ trung bình là khoảng 95
người/ km
2
, bao gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau như Tày, Nùng,
Dao, Mông, Kinh và dân tộc Hoa, dân tộc Sán Dìu.
Bảng thống kê một số dân tộc ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
STT
Dân tộc
Số lƣợng ( ngƣời)
Tỉ lệ(%)
1
Tày
44.719
67,8
2
Dao
7775
11,8

thuộc thời đại đồ đá mới. Theo ý kiến của nhóm tác giả Hoàng Ngọc La,
Hoàng Hoa Toàn, Nguyễn Anh Tuấn, trong cuốn “Văn hóa dân gian Tày”,
có thể xã hội được phản ánh trong truyền thuyết này có thể tương ứng với xã
hội nguyên thủy của người Tày thời đại đá mới, trong đó bao gồm cả di tích
ở Bắc Sơn. Tại vùng núi Bắc Sơn, đã từng tồn tại nền văn hóa Bắc Sơn nổi
tiếng, thuộc sơ kì đồ đá mới, cách ngày nay khoảng 8.000 đến 10.000 năm,
với nền nông nghiệp lúa nước sơ khai và chủ nhân của nền văn hóa này
chính là người Tày cổ.
Người Tày vốn là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, họ thường canh
tác ở các cánh đồng ven sông, suối, các thung lũng, là những nơi thuận tiện về
nguồn nước. Tuy sống về nghề nông nhưng đồng bào khá thành thạo các
nghề thủ công nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho cuộc sống hàng ngày.
Địa bàn sinh sống của người Tày chủ yếu tại các cánh đồng lòng chảo,
các thung lũng lớn. Tập trung đông nhất là ở các xã như xã Long Đống với
3.640 người trong tổng số 3.941 người của xã, Đồng Ý có 2.666 trong tổng số
3.906, Vũ Lăng với 4.626 trong tổng số 4.975 người . . .
Nhìn chung trải qua quá trình sinh sống, di cư, lập bản nhiều dân tộc đã
đến định cư ở vùng đất Bắc Sơn. Thông qua các hoạt động kinh tế, văn hóa
các dân tộc đã có sự giao lưu về văn hóa, tạo nên một nền văn hóa đa dạng,
nhưng cũng mang nhiều đặc trưng riêng của từng dân tộc, trong đó nổi lên là
dân tộc Tày mà chúng tôi sẽ trình bày cụ thể ở phần sau của luận văn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
1.3. Hoạt động kinh tế của dân cƣ
Hoạt động kinh tế của người Tày ở Bắc Sơn được chia làm 2 yếu tố
chính: kinh tế sản xuất (bao gồm: nông nghiệp, chăn nuôi, tiểu thủ công
nghiêp gia đình), kinh tế khai thác nguồn lợi tự nhiên (bao gồm: săn bắt,
hái lượm).

nếp đủ để dùng quanh năm, nhất là vào các dịp tết. Lúa tẻ được trồng nhiều
hơn, là thực phẩm chính trong các bữa ăn hàng ngày của đồng bào Tày.
- Nương rẫy (rấy): Nhìn chung dân tộc Tày ở Bắc Sơn trồng lúa nước
là chủ yếu, ngoài ra đồng bào còn tận dụng đất soi bãi hoặc có nơi làm thêm
nương để trồng hoa màu và cây ăn quả. Nương rẫy hầu hết thuộc 2 loại:
nương bằng và nương dốc. Các nương này được khai phá bên cạnh các chân
núi, trên các sườn núi. Đất nương thường màu mỡ, nhất là nương mới khai
phá từ rừng già. Nương rẫy chủ yếu trồng ngô, khoai, sắn, các loại đậu đỗ,
bông, chàm nhưng chủ yếu và phổ biến nhất vẫn là trồng ngô và sắn. Phương
thức canh tác thường xen canh, gối vụ, đặc biệt các nương ngô thường được
xen canh các loại đậu, bí, vừng, hoặc trồng ngô được 1 – 2 năm, đất bị bạc
màu đồng bào chuyển sang trồng sắn.
- Vườn và một số cây đặc sản: Phần lớn các gia đình đều có vườn cạnh
nhà hoặc ven đường, ven suối gần bản. Vườn trồng các loại rau, cây gia vị
như gừng, tỏi, nghệ, kiệu . . . và một số loại cây ăn quả: chuối, đu đủ, cam,
chanh, hồng, lê, mận . . . quy mô của vườn từ vài chục đến vài trăm mét
vuông. Sản phẩm của vườn không chỉ cung cấp một phần thực phẩm, hoa quả
cho nhu cầu hàng ngày, mà còn cung cấp sản phẩm trao đổi ở chợ nhất là lê,
mận, quýt.
Bên cạnh những mảnh vườn đa canh kể trên thì từ lâu ở Bắc Sơn đã
xuất hiện những mảnh vườn chuyên canh chuyên trồng các loại quả như:
hồng, na, lê, mác mật, vườn mía . . . đặc biệt là vườn mận ở Bắc Sơn rất phổ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
biến, có những bản của người Tày chuyên trồng mận đường như ở thôn An
Ninh II và thôn Minh Quang xã Long Đống hầu như nhà nào cũng có một
vườn mận, có những vườn mận rộng hàng hecta, là nguồn thu nhập chính
trong năm của gia đình. Sản lượng mận mỗi năm thu hoạch trên hàng nghìn

cha ông để lại cho con cháu, gắn bó mật thiết đối với đời sống văn hóa của
người Tày ở Bắc Sơn.
Thuốc lá là cây công nghiệp ngắn ngày được trồng rất nhiều ở Bắc Sơn.
Thuốc lá Bắc Sơn thơm ngon nổi tiếng, thường được trồng ở những chân
ruộng cạn, các nương bằng nơi chân núi nơi thuận tiện nước tưới. Ở Bắc Sơn
mỗi năm có hai vụ thuốc lá : vụ Đông – Xuân cho thu hoạch vào tháng cuối
tháng 3 đầu tháng 4, vụ Thu – Đông cho thu hoạch vào cuối tháng 11 đầu
tháng 12 nhưng chủ yếu là trồng vụ Đông – Xuân. Trước đây, đồng bào chủ
yếu trồng thuốc lá sợi nâu để hút. Nhiều năm trở lại đây, thuốc lá sợi vàng
ngày càng được trồng nhiều vì loại này cho năng suất cao hơn hẳn thuốc lá
sợi nâu trước kia.
Cây quế vốn thích hợp với điều kiện khí hậu ở Bắc Sơn nên từ lâu cư
dân ở đây đã trồng loại cây này để làm thuốc, lấy tinh dầu, làm gia vị và lấy
gỗ. Cây quế được trồng ở vườn nhà và trong các thung lũng hoặc trên các
ngọn đồi thấp. Hiện nay, diện tích trồng quế ngày càng được mở rộng, đặc
biệt là ở các xã Tân Tri và xã Vạn Thủy. Cây quế ngày càng có vị trí quan
trọng trong đời sống của đồng bào ở Bắc Sơn.
Với nhiều loại cây trồng phong phú, từ rau xanh, cây gia vị, hoa quả
đến các loại cây công nghiệp, vườn đã chứng tỏ vai trò quan trọng trong đời
sống đồng bào dân tộc Tày ở Bắc Sơn, nhất là các vườn cây chuyên canh,
ngày càng góp phần quan trọng vào việc cải thiện kinh tế các gia đình. Cùng
với sự thuận lợi về giao thông và sự phát triển thương mại – du lịch của
huyện, sự quan tâm của huyện về việc duy trì và phát triển các vườn cây đặc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

20
sản đã làm cho đồng bào dân tộc Tày ở Bắc Sơn có thêm động lực để mở rộng
và phát triển, góp phần thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong đời sống của đồng bào
dân tộc Tày nói riêng và của các dân tộc trong huyện nói chung.

nuôi hầu như vẫn giữ nguyên kiểu cổ truyền. Đồng bào nuôi giống lợn đen địa
phương khá to, gọi là lợn lang đầy năm có thể đạt trọng lượng khoảng 1 tạ.
Họ quan niệm nuôi lợn mõm đen có vệt trắng hoặc mõm trắng có vệt đen (mu
pác mai) thì vừa hay ăn chóng lớn vừa đem may mắn đến cho gia đình. Thức
ăn cho lợn chủ yếu là chuối, rau lang, ngô sắn do đồng bào tự trồng. Lợn có
thể thả rông hoặc nuôi trong chuồng, trước đây đồng bào nuôi lợn theo cách
sinh đẻ tự nhiên, lợn nái tự tìm ổ đẻ trong rừng, sau khi đàn con tương đối lớn
(khoảng hơn một tháng) lợn mẹ mới dẫn đàn con về chuồng. Ngày nay, có
nhiều gia đình nuôi lợn với qui mô lớn, mang tính chất kinh doanh hàng hóa,
áp dụng phương thức chăn nuôi mới, trở thành nguồn thu nhập chính và quan
trọng nhất của gia đình.
Đồng bào dân tộc Tày ở Bắc Sơn đã có tập quán nuôi gà, vịt nhằm cải
thiện đời sống và phục vụ cho các ngày lễ, tết, đặc biệt người Tày hay nuôi gà
thiến để ăn tết âm lịch và đi xêu bố mẹ vợ. Thông thường đồng bào nuôi gà
thả đồi là chính, gần đến những ngày tết đồng bào mới nhốt lại vỗ béo. Mỗi
gia đình thường nuôi vài chục con gà, nhà nuôi nhiều thì lên đến hàng trăm
con. Vịt cũng được nuôi nhiều, nhất là ở những vùng gần suối, thung lũng, có
cánh đồng rộng lớn như xã Long Đống, Quỳnh Sơn có những đàn vịt lớn từ
vài trăm đến nghìn con. Trước đây, vào thời thuộc Pháp, ở khu vực Mỏ Nhài
còn có cả lò ấp vịt, chuyên cung cấp vịt con cho đồng bào trong vùng. Vịt
thường được nuôi và thả luôn trên các con suối và cánh đồng. Nhà nuôi vịt
thường làm lều ra ngoài cánh đồng để tiện cho việc chăn nuôi.
Các gia đình ở những vùng thấp thường có ao thả cá. Ao thường được
đào gần nhà, vừa để thả cá vừa có cầu để rửa, đa phần là ao nhỏ. Đồng bào

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

22
thường thả một số loại cá như: trắm cỏ, mè, chép, trôi . . .nhưng chủ yếu là để
phục vụ nhu cầu của gia đình, nhằm cải thiện bữa ăn hàng ngày, không mang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status