TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
PHẠM THỊ PHƯƠNG ANH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU
NHẬP
CÁ NHÂN CỦA NHỮNG NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
KHÔNG CƯ TRÚ TẠI VIỆT NAM
Ở CỤC THUẾ TP HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐÈI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TẠ VĂN LỢI
HÀ NỘI - 2011
2
MỤC LỤC
- V n tính thu trùng và tr nh t nh thu trùngấ đề ế ỏ ớ ế 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
1 WTO Tổ chức thương mại quốc tế
2 TNCN Thu nhập cá nhân
3 CQCT Cơ quan chi trả
4 NNT Người nộp thuế
5 NNN Người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam
6 NSNN Ngân sách nhà nước
7 TNDN Thu nhập doanh nghiệp
8 NSNN Ngân sách nhà nước
9 GTGT Giá trị gia tăng
10 DN Doanh nghiệp
11 CNTT Công nghệ thông tin
12 ĐTNT Đối tượng nộp thuế
DANH MỤC BẢNG, MÔ HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
- V n tính thu trùng và tr nh t nh thu trùngấ đề ế ỏ ớ ế 7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
lĩnh vực quản lý thu thuế, thực hiện chiến lược cải cách thu thuế ở Việt Nam đến
năm 2020, ngành thuế Việt Nam đang từng bước hoàn thiện cơ chế ĐTNT tự kê
khai, tự nộp thuế trên cơ sở tăng cường ứng dụng thông tin, đẩy mạnh tuyên truyền,
dịch vụ hỗ trợ ĐTNT và thanh tra thuế nhằm nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của
ĐTNT và hiện đại hoá công tác quản lý thuế.
Công tác quản lý thuế TNCN của những người không cư trú đến Việt Nam vì
công việc mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn gặp phải
không ít khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ cũng nhu còn chứa đựng nhiều bất cập,
hạn chế cả về cơ chế quản lý, công nghệ quản lý, bộ máy và cán bộ quản lý cần
được khắc phục. Thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời mà vẫn tạo điều kiện
i
thuận lợi khuyến khích những người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam duy trì
và mở rộng đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, giảm bớt gánh nặng cho công tác quản
lý thuế của những người không cư trú đến Việt Nam vì công việc đồng thời tuân thủ
các hiệp định tránh đánh thuế hai lần đã ký giữa Việt Nam và các nước khác là một
đòi hỏi cấp thiết là trong công tác quản lý thu. Vì vậy phải tiếp tục cải cách hệ thống
thuế để khắc phục những tồn tại và yếu kém trên, đưa ra một mô hình quản lý thu
thuế đối với các đối tượng trên như thế nào cho phù hợp với điều kiện khách quan
cũng như điều kiện vật chất cho phép là một vấn đề cấp thiết đặt ra. Những điều đó
cần phải có một sự nghiên cứu sâu sắc, phân tích kỹ lưỡng, khoa học, toàn diện. Đó
cũng chính là nội dung đề tài luận văn của tác giả.
Qua quá trình công tác thực tế tại phòng quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế
TP Hà Nội, Tác giả đã nhận thấy những khó khăn, thách thức của công tác quản lý
thuế của những người không cư trú đến Việt Nam vì công việc. Vì vậy việc nghiên
cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân của những
người không cư trú tại Việt Nam” có ý nghĩa thiết thực, mang tính thời sự cấp
bách về mặt lý luận và thực tiễn. Đó là:
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu đề tài này là làm rõ những vấn đề chung về qui
trình quản lý thuế, cả về lý luận và thực trạng qui trình quản lý thuế của những
gian qua là : thuế suất thuế TNCN của những người không cư trú còn cao; đối
tượng nộp thuế chưa được quản lý một cách toàn diện. Nguyên nhân của tình trạng
thất thu thuế của những người không cư trú tại Việt Nam trên là do : cơ quan thuế
không quản lý được số người không cư trú tại Việt Nam làm việc tại các cơ quan/
tổ chức; không quản lý được thu nhập của những người không cư trú đến Việt Nam
vì công việc; cơ sở hạ tầng, tin học hoá công tác quản lý thuế chưa hoàn thiện; công
tác tuyên truyền hỗ trợ NNT chưa đạt hiệu quả cao; năng lực công tác thanh tra
thuế TNCN còn nhiều hạn chế. Do vậy, tỷ trọng số thuế TNCN của những người
không cư trú đến Việt Nam vì công việc trên tổng số thuế TNCN Cục thuế TP Hà
nội đã thu còn thấp, số người không cư trú đến Việt Nam vì công việc do Cục thuế
TP Hà nội quản lý còn chưa tương xứng với số lượng người nước ngoài đến Hà nội
iii
vì công việc. Số thuế TNCN thất thu từ những đối tượng trờn cũn cao, gây thất thu
cho NSNN; làm mất công bằng giữa người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam và
người Việt Nam lao động ở nước ngoài.
Từ đó tác giả đã đưa ra đánh giá chung về công tác quản lý thu thuế TNCN
của những người không cư trú đến Việt Nam vì công việc : Công tác trên cũng đã
đạt được kết quả : số lượng cơ quan/tổ chức có NNN làm việc, người nước ngoài
không cư trú tại Việt Nam tự giác kê khai thuế cao, số thuế nộp NSNN của những
đối tượng trên cũng đã tăng đáng kể qua các năm thể hiện ý thức tự giác tuân thủ
luật thuế. Tuy nhiên có những nguyên nhân dưới đây đã hạn chế kết quả đạt được
trên : Thuế suất thuế TNCN đối với người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam
còn cao, số lượng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần ký kết giữa Việt Nam và các
nước còn thấp, các văn bản pháp lý hiện hành vẫn chưa tạo điều kiện thuận lợi cho
việc quản lý thu thuế đối với người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam và cơ sở
hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý thu thuế TNCN của những người không cư trú
đến Việt Nam vì công việc ngành thuế nói riêng và của toàn xã hội nói chung còn
yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý thuế đối với những đối tượng trên.
Từ những phân tích, đánh giá trên, luận văn đưa ra những quan điểm cơ bản
cần quán triệt và những định hướng nhằm tăng cường quản lý thuế TNCN của
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU
NHẬP
CÁ NHÂN CỦA NHỮNG NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
KHÔNG CƯ TRÚ TẠI VIỆT NAM CỦA CỤC
THUẾ TP
HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TẠ VĂN LỢI
HÀ NỘI - 2011
ii
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nước, nó vừa đảm bảo nguồn thu cho
ngân sách Nhà nước, vừa là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Để sử dụng hiệu
quả công cụ thuế, về cơ bản hệ thống chính sách thuế gồm có thuế gián thu và thuế
trực thu. Thuế gián thu như thuế Giỏ trị gia tăng, thuế Tiêu thụ đặc biệt, thuế Xuất
nhập khẩu. Thuế trực thu như thuế Thu nhập cá nhân, thuế Thu nhập doanh nghiệp.
Theo thông lệ của các quốc gia, thuế trực thu sẽ chiếm tỷ trọng lớn, ngược lại, giảm
dần thuế gián thu. Việt Nam đang bước vào hội nhập sâu, rộng với kinh tế quốc tế
và tiến trình chuyển đổi dần cơ cấu tỷ trọng tăng dần của các sắc thuế trực thu đang
là xu hướng tất yếu.
Thuế TNCN ra đời năm 1990 dưới tên gọi “Phỏp lệnh thuế đối với người có
thu nhập cao” và đã trải qua 6 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1992, 1994, 1997,
1999, 2001, 2004 để phù hợp với những điều kiện về kinh tế - xã hội. Luật thuế
TNCN ra đời để thể chế hóa đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước về lĩnh
vực tài chính đã đặt ra yêu cầu mới trong công tác quản lý thuế TNCN. Luật có hiệu
lực từ 01/01/2009. Ngay từ khi ra đời, Thuế TNCN tại Việt Nam cũng đóng một vai
trò đáng kể trong nguồn thu ngân sách và là nghĩa vụ của tất cả những người lao
động. Thuế TNCN điều tiết thu nhập cá nhân căn cứ trờn cỏc nguyên tắc: lợi ích,
công bằng và khả năng nộp thuế.
pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện công tác quản lý thuế thu nhập cá
nhân tại Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
Hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN của những người không cư trú tại
Việt Nam của Cục thuế TP Hà nội . Để đạt được mục đích trên, cần phải thực hiện
các nhiệm vụ sau :
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân và công tác quản lý thuế
TNCN .
- Phân tích thực trạng công tác quản lý thuế TNCN đối với các cơ quan, tổ
2
chức có người nước ngoài làm việc và người không cư trú đến Việt Nam làm việc
trên địa bàn Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN đối với
loại hình ĐTNT này trên địa bàn Hà Nội
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý thuế TNCN của những người không
cư trú tại Việt Nam của Cục thuế TP Hà nội,
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý
thuế TNCN của những người không cư trú ở Việt Nam trên địa bàn Hà Nội.
+ Về thời gian: Nghiên cứu công tác quản lý thuế TNCN của những người
không cư trú ở Việt Nam của Cục thuế TP Hà nội từ năm 2008 đến nay và tầm nhìn
đến năm 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để
nghiên cứu, phân tích, so sánh, nhận xét, đánh giá vai trò, ảnh hưởng, tác động của
chính sách và thực trạng công tác quản lý thuế TNCN của những người không cư
trú ở Việt Nam trên địa bàn Hà Nội. Bờn cạnh đó thông qua việc điều tra, khảo sát
thu thập tài liệu, đề tài sử dụng phương pháp thống kê làm công cụ phân tích số liệu
để chứng minh cho các vấn đề nghiên cứu .
Thuế là sản phẩm tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát
triển của Nhà nước, để thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước mà
xã hội giao cho. Mặt khác, Nhà nước là người thay mặt xã hội để cung cấp những
hàng hóa công cộng thuần túy, do vậy Nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình
quy định các sắc thuế bắt buộc các thành viên trong xã hội đóng góp để trả cho việc
sử dụng hàng hóa công cộng cho người dân. nên thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa
là phạm trù lịch sử, mang tính pháp lý cao từ sự xuất hiện của bộ máy nhà nước
Thuế là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các tổ chức kinh tế
– xã hội cũng như mọi thành viên trong xã hội, khoản thu đó mang tính bắt
buộc, không được hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định.
Căn cứ theo đối tượng đánh thuế, thuế được chia thành: thuế TNCN, thuế thu
nhập DN; thuế tài sản; thuế tiêu dùng.
Căn cứ theo tính chất điều tiết thì thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu
và thuế gián thu.
- Thuế gián thu : Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản
của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ.
Người tiêu dùng những hàng hóa, dịch vụ đó là người chịu loại thuế này. Thuế gián
thu có đặc điểm là người nộp thuế theo luật và người chịu thuế không đồng nhất với
nhau. Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ. Người
nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, còn người chịu thuế là
người tiêu dùng các hàng hóa đó, họ mua hàng hóa với giá cả trong đó có cả thuế.
- Thuế trực thu : là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của
5
người nộp thuế. Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế theo luật quy định
đồng nhất với người phải chịu thuế. Theo quy định của luật, thuế thu trực tiếp vào
thu nhập của người nộp thuế. Như vậy, thuế trực thu làm cho khả năng và cơ hội
chuyển dịch gánh nặng thuế cho người khác khó khăn hơn. Về nguyên tắc, loại thuế
này mang tính chất thuế lũy tiến, vỡ nú tính đến khả năng của người nộp thuế,
người có thu nhập cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn, còn người có thu nhập thấp thì
nộp thuế ít hơn.
thủ tục thu, nộp thuế hết sức phức tạp. Số thu động viên vào Ngân sách thường chậm
và chi phí quản lý thu thuế khá tốn kém.
1.1.3 Nguyên tắc và phương pháp đánh thuế TNCN
1.1.3.1 Nguyên tắc đánh thuế TNCN
a) Nguyên tắc đánh thuế theo tình trạng cư trú và nguyên tắc đánh thuế theo
nguồn phát sinh thu nhập
Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng của thuế
TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cỏch tớnh thuế cho phù hợp. Khi tiến hành xác
định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư trỳ” và
“nguồn phát sinh thu nhập”.
Theo tiêu thức “nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước
phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới,
còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho
phần thu nhập phát sinh tại nước đó. Nếu các nước áp dụng nguyên tắc này, chính
sách thuế thu nhập sẽ mang tính trung lập, không làm ảnh hưởng đến quyết định
đầu tư trong nước hay nước ngoài của nhà đầu tư.
Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân phải nộp
thuế TNCN ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước
đó mà không phải nộp thuế TNCN đối với những khoản thu nhập phát sinh ở nước
ngoài. Nguyên tắc này đảm bảo cho NNT trong nước và nước ngoài được đối xử
như nhau trên phương diện thuế.
- Vấn đề tính thuế trùng và trỏnh tớnh thuế trùng
7
Thuế TNCN là loại thuế trực thu tớnh trờn thu nhập của cá nhân, xuất phát từ
các nguyên tắc trong việc xác định quyền tính thuế mà tất cả các nước thường sử
dụng, bao gồm:
+ Thuế tính tại nguồn phát sinh thu nhập tức là thu nhập phát sinh tại đâu thì
nơi đó có quyền tính thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập đó
+ Thuế tính tại nước mà cá nhân mang quốc tịch
+ Thuế vừa có thể tính theo từng loại thu nhập vừa tính theo thu nhập tổng
hưởng chế độ miễn giảm thuế thì tại nước cư trú vẫn thừa nhận cho trừ số thuế coi
như đã nộp ở nước ngoài.
Trong quá trình thực hiện hiệp định tránh đánh thuế hai lần các cơ quan thuế
phải thường xuyên trao đổi thông tin để phối hợp, ngăn chặn những hành vi tiêu
cực, khai man, trốn thuế, thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế theo mục tiêu đặt ra
và đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội đối với người dân.
b) Nguyên tắc đánh thuế trên cơ sở thu nhập chịu thuế hiện hữu
Thuế TNCN chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế trên nguyên tắc :
Mọi khoản thu nhập của cá nhân trong kỳ tính thuế không phân biệt nguồn
phát sinh đều có thể đưa vào thu nhập chịu thuế sau khi loại bỏ những khoản được
pháp luật quy định không phải chịu thuế thu nhập
Thu nhập chịu thuế phải là thu nhập ròng nghĩa là thu nhập sau khi đã trừ các
chi phí tạo ra thu nhập đó và các khoản được phép giảm trừ
Thu nhập chịu thuế phải là thu nhập có thực, xác định được, tính toán được và
phù hợp với khả năng quản lý
c) Nguyên tắc đánh thuế trên cơ sở thu nhập năm
Để đảm bảo tính hiện thực của thuế TNCN, nhà nước quy định khoảng thời
gian làm cơ sở cho việc xác định thu nhập chịu thuế phát sinh tạm tính là tháng
hoặc quý và xác định chính xác số thuế TNCN phải nộp sau một năm .
Khi cá nhân cú cỏc hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế TNCN, số thuế TNCN
phải được tính và nộp vào NSNN sau một kỳ tính thuế thường là tháng hoặc quý. Kỳ
tính thuế đầu tiên được tính từ ngày bắt đầu hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế đến
ngày cuối cùng của tháng hoặc quý, kỳ tính thuế cuối cùng được tính từ ngày đầu tiên
của tháng hoặc quý đến ngày kết thúc hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế. Hàng tháng,
9
các cá nhân có thu nhập chịu thuế và các tổ chức, cá nhân trả các khoản thu nhập
thuộc diện chịu thuế TNCN cho cá nhân thực hiện khấu trừ thuế có trách nhiệm khai
thuế số thuế phát sinh trong tháng trước và nộp tờ khai cho cơ quan thuế.
Số thuế NNT kê khai hàng tháng với cơ quan thuế chỉ là số thuế tạm nộp vào
NSNN, sang năm sau NNT tổng hợp số liệu, xác định chính xác số thuế phát sinh
nhập từ tiền lương, bất động sản.
- Phương pháp thu trực tiếp áp dụng đối với các loại thu nhập có tính chất
khác nhau, thường là thu nhập độc lập của người có thu nhập như thu nhập từ thừa
kế, quà biếu, quà tặng, thu nhập ở nước ngoài… Người nộp thuế sẽ tự kê khai và
tính thuế theo các mẫu in sẵn rồi gửi cho cơ quan thuế. Cơ quan thuế sẽ kiểm tra và
thông báo lại nếu có sai lệch hoặc khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm.
1.1.4 Vai trò, đặc điểm của thuế TNCN
1.1.4.1 Đặc điểm của thuế TNCN
Là thuế trực thu, đánh vào thu nhập của từng cá nhân, thuế TNCN có những
đặc điểm sau :
Một là : Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên
nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gắn với quyền
lực, sức mạnh của Nhà nước.
Hai là : Thuế TNCN là một loại thuế thu nhập nhưng khác với thuế TNDN ở
chỗ nó có tính tất yếu gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia tùy thuộc vào
mục tiêu của quốc gia cần đạt được. Là loại thuế có độ nhạy cảm cao vỡ nú liên
quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá
nhân trong xã hội, thuế TNCN quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi
tính thuế TNCN như thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho
cuộc sống cá nhân, gia đình người nộp thuế, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội…
Ba là : Thuế TNCN là lại thuế trực thu đánh vào thu nhập của người nộp
thuế; người nộp thuế đồng nhất với người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh
nặng thuế sang cho người khác. Do là thuế trực thu nờn nú phản ánh sự đồng nhất
giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế.
Người chịu thuế TNCN không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khóa sang
11