Phần thứ nhất
Đặt vấn đề
Từ khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa
tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước, trong nền kinh tế luôn có sự tồn tại đan xen kết hợp giữa hai cơ chế
phân bổ nguồn lực là cơ chế thị trường và cơ chế phi thị trường. Phân bổ
nguồn lực theo cơ chế thị trường phải tuân theo các quy luật của thị trường
như quy luật cung cầu, quy luật về sự khan hiếm, quy luật giá trị… để phân
bổ có hiệu quả các nguồn lực của xã hội. Với mục tiêu phân bổ là tối đa hóa
lợi ích, cơ chế thị trường không thể bao quát hết toàn bộ nền kinh tế vì vẫn
còn những mục tiêu khác mà xã hội muốn theo đuổi như mục tiêu công bằng
xã hội hay ổn định kinh tế vĩ mô. Do đó, cần phải có một cơ chế phân bổ thứ
hai là cơ chế phi thị trường. Cơ chế này thường điều tiết nền kinh tế thông
qua sự can thiệp của chính phủ ở những lĩnh vực, những bộ phận, không
gian, thời điểm mà thị trường không thể điều tiết hoặc thị trường điều tiết
không hiệu quả. Một trong những cơ sở khách quan để chính phủ can thiệp
vào nền kinh tế chính là nhằm khắc phục các thất bại thị trường, nâng cao
hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Thất bại của thị trường là những trường hợp mà thị trường cạnh tranh
không thể sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ ở mức như xã hội mong muốn.
Các dạng thất bại thị trường chủ yếu là: độc quyền thị trường, ngoại ứng,
hàng hóa công cộng, thông tin không đối xứng.
Thất bại về thông tin của thị trường gồm có hai dạng. Thứ nhất, thông tin
mang tính chất của hàng hóa công cộng tức là việc tiêu dùng thông tin không
mang tính cạnh tranh; việc sử dụng thông tin của người này không cản trở
lợi ích từ việc sử dụng thông tin của người khác. Dạng thất bại thứ hai của
thông tin là tình trạng mà lượng thông tin về tính chất của hàng hóa không
được chia sẻ đồng đều như nhau giữa các đối tác tham gia thị trường. Đó là
thất bại về thông tin không đối xứng, hay tình trạng xuất hiện trên thị trường
khi một bên nào đó tham gia giao dịch thị trường có được thông tin đầy đủ
hơn bên kia về các đặc tính của sản phẩm. Điều này đã khiến các nguồn lực
những ngành nghề nhạy cảm”.
Phần thứ hai
Chứng minh hoạt động của các TTGTVL là thất bại của thị
trường về thông tin không đối xứng
Lợi dụng tâm lý tìm việc làm của sinh viên, nhiều trung tâm giới thiệu
việc làm (TTGTVL) mọc lên nhu nấm sau mưa, riêng địa bàn Hà Nội tính
đến tháng 3 năm 2008 có tới 800 TTGTVL đang hoạt động chủ yếu tại các
quận Thanh Xuân, Cầu Giấy, Đống Đa và Hoàng Mai. Bên cạnh những
trung tâm có dầy đủ các điều kiện, giấy phép hoạt động nghiêm chỉnh là
những trung tâm không có đủ giấy phép vẫn ngang nhiên hoạt động dẫn đến
tình trạng lừa đảo, lộn xộn trong tư vấn, giới thiệu việc làm. Làm cho sinh
viên ngần ngại, e sợ khi phải tới trung tâm bởi tâm lý bước chân vào trung
tâm như bước chân vào “sòng bạc” vậy. May mắn thì có được công việc
không may thì tiền mất và làm lại từ đầu. Công việc bán thời gian của sinh
viên đơn giản chỉ là gia sư, phát tờ rơi, phát quà khuyến mãi, trực điện thoại,
…Với mức lương khá hấp dẫn mà trung tâm đưa ra: Gia sư thường thì ở
khoảng 30.000- 50.000/buổi, phát tờ rơi ở khoảng 30.000- 70.000/ ca, nhân
viên tiếp thị, quảng cáo tầm từ 200000-300000/ ngày,… Nhưng thực hư như
thế nào thì chỉ những người đã đi qua mới biết.
Có thể kể ra vài kiểu thủ đoạn mà các TTGTVL hay dùng gọi là ‘mánh
lới nghề nghiệp’:
- Các trung tâm đưa ra các thông tin sai lệch về công việc, nơi làm
việc hoặc địa chỉ ‘ma’.Tiền lương cao hơn nhiều so với thực tế mà sinh viên
nhận được,… Về địa chỉ ‘ma’, sau khi mà sinh viên nộp tiền đạt cọc và nhận
lời hẹn đến một địa chỉ nào đó nhận việc, nhưng khi đến thì mới được biết
rằng đó là địa chỉ ‘ma’. Mất công sức lần mò tới mà có khi còn bị ăn mắng.
Ví dụ: T, sinh viên năm thứ 4 ĐHSP ngoại ngữ HN được giới thiệu đến
dạy 3 môn Toán, Văn, Anh cho 2 học sinh lớp 7 tại gia đình chị Yến ở Cầu
Giấy. Nhưng khi tìm đến đúng địa chỉ này, T đã nhân được lời trách mắng
vô cớ: “ Nhà này có 2 con học ĐH rồi, chẳng có ai học lớp 7 hết, cô đi lớp
viên nên không chịu trách nhiệm, sinh viên đành ngâm ngùi quay về v à thấy
đúng là “tiền vào thì dễ tiền ra thì khó”...
Nhiều bạn sinh viên khi đến địa chỉ gia sư có khi chưa kịp dạy, có khi chỉ
được vài buổi đã phải bỏ dở với những lý do như: Không phải hộ khẩu HN,
không phải sinh viên sư phạm,…
Ví dụ: M, sinh viên năm thứ 3 ĐH Mỏ - Địa chất được giới thiệu đến dạy
môn Toán lớp 11 tại một nhà trên đường Kim Mã. Buổi đầu tiên tới gặp gia
đình suôn sẻ, mẹ của cậu học sinh tỏ ra rất tin tưởng vào cô giáo. Bất ngờ
sau khi tan buổi dạy thứ 3, M gặp bố của cậu học trò và bậc phụ huynh này
hỏi vu vơ xem cô học trường nào. Biết được M không phải là sinh viên sư
phạm, thế là không cần biết đến khả năng giảng dạy của cô ra sao, bố mẹ của
cậu học sinh đã thống nhất cho M ngừng dạy. Khi cô đề nghị gia đình trả lệ
phí 3 buổi đã dạy thì bà mẹ cậu học trò lớn tiếng nói rằng: “Trung tâm đã
quảng cáo 1 - 3 buổi dạy miễn phí nên gia đình mới thử cho cô giáo dạy, gia
đình không có nghĩa vụ phải trả tiền”.
- Cướp công của sinh viên, nhiều sinh viên nhận việc phát tờ rơi,
nhân viên hợp tác với trung tâm,… nhưng sau khi làm đươc vài buổi thì cho
nghỉ với lý do năng lực không đáp ứng yêu cầu. Cá biệt, có nhiều sinh viên
đi làm cả tháng trời nhưng không được hưởng luơng, khi đòi tiền công thì cứ
bị khất lần khất lượt làm cho sinh viên chán nản bỏ của chạy lấy người.
Ví dụ: Lần theo địa chỉ ghi trên tờ rơi, Nguyễn Văn Hoá, sinh viên năm
thứ hai của Học viện Báo chí & Tuyên truyền tìm đến trung tâm gia sư sư
phạm tại đường Xuân Thủy, Cầu Giấy (Hà Nội) và ký kết một hợp đồng lao
động. Nội dung hợp đồng có phần quy định rõ nếu hoàn thành đầy đủ công
việc được giao, Hóa được nhận khoản lương 700.000 đồng/tháng. Sau khi ký
hợp đồng, Hóa chính thức trở thành cộng tác viên của trung tâm. Sau 2 tháng
làm việc vất vả, thành quả của Hóa là mang về cho trung tâm này 10 địa chỉ
có nhu cầu cần thuê gia sư.Trước ngày hết hạn hợp đồng, Hóa đến trung tâm
để thanh toán tiền lương là 700.000 đồng thì nhân viên của trung tâm hẹn
ngày này qua ngày khác. Cứ mỗi lần hẹn, Hóa đều có mặt ở trung tâm nhưng
Mô hình: thông tin không đối xứng về phía người mua làm thị trường
cung cấp dưới mức hiệu quả.
C
A
B
S
D
0
W
D
1
P
1
H
P
0
E
K