TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN HỌC:
KIỂM TOÁN PHẦN 1
ĐỀ TÀI:
THIẾT KẾ CÁC THỬ NGHIỆM CƠ BẢN CHO
KHOẢN MỤC MUA HÀNG
GIẢNG VIÊN HD : BÙI THỊ KIM THOA
SINH VIÊN TH : NHÓM 02
LỚP : DHKT6TH
THANH HÓA, THÁNG 10 NĂM 2013
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
DANH SÁCH NHÓM 02
STT HỌ VÀ TÊN MSSV GHI CHÚ
1 Nguyễn Thị Dung 10010783
2 Nguyễn Thùy Dung 10011493
3 Lê Thị Giang 10011393
4 Lê Thị Hà 10002873
5 Nguyễn Thị Hà 10012623
6 Nguyễn Thị Hồng Hạnh 10010853
7 Trần Thị Hoàn 10010913
8 Lê Thị Hường 10010673
9 Lê Thị Lan Phương 10008153
10 Nguyễn Thị Phương 10011733
11 Nguyễn Thị Thu 10010623 NT
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
c.Quy trình kiểm tra chi tiết số dư và các nghiệp vụ trong báo cáo tài chính 18
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CÁC THỬ NGHIỆM CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ MUA HÀNG
22
2.1. CHU TRÌNH MUA HÀNG VÀ THANH TOÁN 22
2.1.1. Khái niệm 22
2.1.2. Chu trình mua hàng và thanh toán 22
a. Bản chất của chu trình 22
b. Chức năng của chu trình 23
c. Chu trình mua hàng 25
d. Chứng từ, sổ sách và tài khoản sử dụng trong chu trình mua hàng và thanh toán: 31
2.2.THỰC HIỆN CÁC THỬ NGHIỆM CƠ BẢN 32
2.2.1. Đối với nghiệp vụ mua hàng 32
2.2.2.Đối với nghiệp vụ thanh toán với người bán 33
2.2.3.Thử nghiệm cơ bản về công tác kiểm toán quy trình mua hàng và thanh
toán của Nhà máy thuốc lá Thành Công 34
2.2.3.1 Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát 34
a. Tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng 34
b. Tìm hiểu môi trường kiểm soát 36
c. Tìm hiểu chu trình kế toán 36
d. Thực hiện các bước phân tích 37
e. Xác định mức độ trọng yếu 39
2.2.3.2. Lập kế hoạch kiểm toán cụ thể 40
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
a. Đánh giá sai sót tiềm tàng và rủi ro đối với số dư tài khoản 40
c. Xác định mức độ kiểm tra chi tiết 41
d. Thiết kế chương trình kiểm toán chi tiết cho các tài khoản phải trả người bán và tài
khoản chi phí phải trả 42
2.2.3.3 Thực hiện kế hoạch kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán 47
2.2.3.4 Kết thúc công việc kiểm toán và lập báo cáo 57
nét vai trò của mình trong quá trình kiểm soát, quản lý, tăng hiệu quả hoạt động
của nền kinh tế. Để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình, kiểm toán
cần phải liên tục kiện toàn tổ chức, cải tiến hoạt động của mình để phù hợp với
tình hình mới. Một trong những vấn đề đó là hoàn thiện kỹ thuật kiểm toán để
Kiểm toán viên (KTV) có thể làm việc hiệu quả nhất. Trong kiểm toán, thử
nghiệm cơ bản được đánh giá là thử nghiệm then chốt và cốt lõi vì nó đem lại
những bằng chứng kiểm toán thích đáng giúp KTV đưa ra ý kiến về các thông
tin tài chính của doanh nghiệp.
Trong kiểm toán Báo cáo tài chính (BCTC) khoản mục mua hàng là một
khoản mục chứa đựng nhiều rủi ro khi kiểm toán. Chính vì thế, việc vận dụng
tốt các thử nghiệm cơ bản trong kiểm toán khoản mục mua hàng sẽ giúp KTV
thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp về tính trung thực và hợp lý của khoản
mục này một cách hiệu quả nhất.
Ngày nay cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế, các
ngành sản xuất, dịch vụ cùng phát triển như vũ bão, hàng loạt các doanh
nghiệp hoạt động sôi nổi, phát triển, bất kể doanh nghiệp nào đều cũng hoạt
động, có các nghiệp vụ mua-bán diễn ra. Chính vì thế các khách hàng loại này
của công ty kiểm toán ngày càng nhiều. Và việc kiểm tra cơ bản (thử nghiệm
cơ bản) đối với nghiệp vụ mua hàng là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng
kiểm toán liên quan đến báo cáo tài chính nhằm phát hiện ra những sai sót
trọng yếu làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính. Nhận thức được điều đó nhóm
2 chúng em quyết định chọn đề tài: “Hãy thiết kế thử nghiệp cơ bản với một
khoản mục kế toán bất kỳ (nghiệp vụ mua hàng)” để giúp mình có cơ hội tìm
hiểu chuyên sâu hơn về vấn đề này.
Trong bài tiểu luận này ngoài Lời mở đầu và kết thúc còn có 3 phần sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH Trang 1
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
Chương 2: Thiết kế thử nghiệm cơ bản về nghiệp vụ mua hàng
Chương 3: Hoàn thiện các thiết kế thử nghiệm cơ bản
hệ thống kiểm soát nội bộ không tồn tại hoặc được đánh giá là hoạt động
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH Trang 3
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
không có hiệu lực thì kiểm toán sẽ không thực hiện kiểm toán tuân thủ mà sẽ
tăng cường thử nghiệm cơ bản với quy mô lớn để đảm bảo độ tin cậy của các
kết luận kiểm toán.
1.2. PHÂN LOẠI
1.2.1.Thủ tục phân tích đánh giá tổng quát
1.2.1.1. Vị trí, vai trò của các thủ tục phân tích trong một cuộc kiểm toán
a. Khái niệm về thủ tục phân tích
Theo định nghĩa ở văn bản thường dẫn chuẩn mực kiểm toán quốc tế số
56 “ Các thủ tục phân tích là quá trình đánh giá các thông tin tài chính được
thực hiện thông qua phân tích mối quan hệ đáng tin cậy giữa các dữ liệu tài
chính và dữ liêuj phi tài chính. Nó bao hàm cả việc so sánh số liệu tổng hợp
trên sổ sách với số liệu ước tính của kiểm toán viên”.
Hội đồng chuẩn mực kiểm toán quốc tế đã đi đến kết luận là các thủ tục
phân tích rất quan trọng và nó cần thiết phải được áp dụng trong tất cả các cuộc
kiểm toán. Đối với một số dịch vụ tài chính khác thủ tục phân tích cũng được
hội đồng yêu cầu sử dụng như dịch vụ xem xét, đánh giá lại hệ thong báo cáo
tài chính nội bộ và các báo cáo tài chính ở các công ty ngoài quốc doanh, nơi
mà rủi ro kiểm toán được chấp nhận ở mức trung bình hơn là mức thấp.
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (IAS)520 quy định chuyên gia kiểm toán
phải tiến hành các thủ tục phân tích khi lập kế hoạch kiểm toán và khi kiểm tra
lại tính hợp lý của toàn bộ các báo cáo tài chính. Các thủ tục phân tích cũng có
thể áp dụng ở các khâu khác. Đồng thời nguyên tắc 12 trong các nguyên tắc chỉ
đạo kiểm toán quốc tế (IGA) do Liên đoàn kế toán quốc tế (IPAC) ban hành
cũng nêu rõ. Một cuộc kiểm toán phải được lập kế hoạch phù hợp đẻ kiểm toán
viên thu thập được bằng chứng đầy đủ, thích hợp làm căn cứ cho các nhận xét
của mình. Phương pháp phân tích được coi là một dạng của phương pháp kiểm
toán cơ bản nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán. Nguyên tắc này yêu cầu sử
trung thực của các số dư tài khoản liên quan đến việc tiến hành khảo sát chi tiết
các tài khoản này giảm bớt. Các thủ tục phân tích thường không tốn kém như
các cuộc khảo sát chi tiết do đó hầu hết cấc kiểm toán viên thay thế các thủ tục
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH Trang 5
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
kiểm tra chi tiết bằng các thủ tục phân tích bất cứ khi nào có thể làm được.
c. Bản chất của các thủ tục phân tích
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) số 520, chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam số 520, nguyên tắc chỉ đạo một cuộc kiểm toán (IAG) nguyên tắc 12 cơ
bản thống nhất về bản chất của các thủ tục phân tích:
- Phương pháp phân tích bao gồm việc so sánh thông tin tài chính
với thông tin tương ứng trong những kỳ trước.
• Các kết quả dự kiến của đơn vị, chẳng hạn như dự toán
ngân sách hoặc dự trù hay các số liệu ước tính của chuyên gia kiểm toán như
chi phí khấu hao ước tính.
• Các thông tin trong lĩnh vực hoạt động tương tự, ví dụ
như so sánh tỷ xuất trên phải thu khách hàng của đơn vị với tỷ xuất bình quân
của lĩnh vực hoạt động của các đơn vị khác có tầm vóc tương tự, hoạt động
trong cùng lĩnh vực.
- Thủ tục phân tích cũng bao gồm việc xem xét các so sánh:
• Giữa các yếu tố thông tin tài chính khác nhau mà ta tin
rằng chúng sẽ phù hợp với một mẫu dự tính thông tin căn cứ trên kinh nghiệm
của đơn vị.
• Giữa các thông tin tài chính tương ứng, chẳng hạn như
mối tương quan giữa chi phí nhân sự và sản lượng nhân sự.
Như vậy ngoài việc sử dụng các thông tin tài chính được rút ra từ bảng
khai tài chính ( bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,
báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính), kiểm toán viên
còn phải nắm được những thông tin tài chính có liên quan khác nhau nữa như
các chỉ tiêu dự kiến và các thông tin phi tài chính như sản lượng nhân viên.
•Phân tích xu hướng giản đơn.
Phân tích xu hướng biến động giản đơn là xây dựng con số ước tính dựa
trên số dư tài khoản ở các ký trước.
Ví dụ một công ty có doanh số hàng bán gia tăng bình quân hằng năm là
10%, kiểm toán viên có thể giả định rằng doanh số của năm hiện tại cũng sẽ
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH Trang 7
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
tăng 10%. Nếu doanh số của năm nay sẽ tăng thấp hơn 10%, điều đó có thể giải
thích bằng các nhân tố ảnh hưởng đến doanh số như: cạnh tranh gia tăng hay
ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhưng nó cũng có thể cho thấy doanh số bán
trong năm đã không được phản ánh đầy đủ vào sổ sách (tiêu chí đầy đủ).
•Phân tích hồi quy
Trên thực tế, doanh số bán hàng có thể bị ảnh hưởng bởi có rất nhiều nhân
tố khác nhau như: điều kiện kinh tế, thị trường và vòng đời của sản phẩm. Có
rất nhiều phương pháp mà kiểm toán viên có thể sử dụng để phân tích xu
hướng biến động thông qua sự biến động của các nhân tố đã biết. Phân tích hồi
quy là phương pháp sử dụng phổ biến và có tính chính xác cao hơn so với phân
tích giản đơn. Đây là phương pháp thống kê để tìm ra một đường thẳng phù
hợp nhất cho phương trình:
y = a + bx thông qua một chuỗi các điểm đã biết.
Trong đó: a là hằng số, b là hệ số, x là biến độc lập, y là biến phụ thuộc.
Bằng cách sử dụng hồi quy tuyến tính, kiểm toán viên có thể xây dựng
một phương trình toán học ( y = ax + b) mà nhờ sử dụng số liệu xác định (x) để
tìm ra biến phụ thuộc (y).
* Phân tích tỷ xuất
- Đây là hình thức phân tích phổ biến thứ hai trong các thủ tục pân tích.
Đó là quá trình so sánh mối quan hệ giữa cácsố dư của các tài khoản. Nếu phân
tích xu hướng biến động tập trung vào một tài khoản cụ thể và không đi vào
phân tích mối quan hệ về số dư của các tài khoản thì phân tích tỷ xuất lại phân
tích vào mối quan hệ này.
Kiểm toán viên thường sử dụng hai phương pháp trong phân tích tỷ suất,
đó là phân tích các tỷ suất tài chính dựa trên mối quan hệ giữa các khoản mục
trên báo cáo tài chính và phương pháp phân tích theo quy mô dựa trên số dư
của các tài khoản trên báo cáo đã được quy đỏi theo tỷ lệ % rồi tiến hành so
sánh.
+Phân tích theo tỷ suất tài chính
Các tỷ suất tài chính phản ánh mối quan hệ giữa các khoản mục trên báo
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH Trang 9
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
cáo tài chính, nó thường ổn định giữa các kỳ và có sự tương đồng giữa các đơn
vị trong cùng ngành nên có thể áp dụng cách tiếp cận theo thời gian hoặc phân
tích thông qua các đơn vị ( phân tích theo ngành). Các nhóm tỷ suất sau thường
được sử dụng:
Tỷ suất về khả năng thanh toán: Phản ánh khả năng đáp ứng khoản nợ
ngắn hạn của công ty.
Tỷ suất thanh toán =
Tài sản lưu động + Đầu tư ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Phản ánh việc đáp ứng các khoản nợ bằng tài sản lưu động
Tỷ suất thanh toán
nhanh
=
Tài sản lưu động - HTK
Nợ ngắn hạn
Phản ánh việc đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản không tính đến
hàng tồn kho.
Tỷ suất về đòn bẩy tài chính: Phản ánh tỷ suất huy động nợ trong
nguồn vốn của công ty và mức rủi ro tài chính.
Tỷ suất nợ =
Doanh số nợ
doanh thu
=
Doanh số bán hàng
Tổng tài sản
Tỷ suất về doanh lợi: Phản ánh tính hiệu quả trong quản lý, điều hành
hoạt động của công ty.
Tỷ suất lợi nhuận trên
doanh thu
=
Lãi gộp
Doanh thu thuần
Hiệu quả sử dụng
=
Thu nhập ròng + Chi phí phải trả
Tổng tài sản
Tỷ suất sinh lời trên
vốn cổ phần thường
=
Thu nhập sau thuế - Cổ tức ưu đãi
Vốn cổ phần thường
Tỷ suất trên phản ánh hiệu quả của đầu tư đối với cổ đông.
Bằng cách sử dụng các tỷ suất tài chính trên kiểm toán viên có thể áp
dụng cách tiếp cận theo chuỗi thời gian hoặc phân tích thông qua các đơn vị
trong cùng ngành đối với các khoản mục trên báo cáo tài chính.
+ Phân tích theo quy mô
Để thực hiện phân tích theo quy mô các khoản mục trên báo cáo tài chính
trước hết cần tiến hành quy đổi số dư của các tài khoản từ dạng số tuyệt đối
sang số tương đối( tỷ lệ %) trong bảng số.
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH Trang 11
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
trong giai đoạn lập kế hoạch.
Thủ tục phân tích cơ bản ( substantive analytical procedures) áp dụng
trong giai đoạn thực hành kiểm toán.
Thủ tục phân tích soát xét ( analytical procedures for financial
statement teview) áp dụng trong giai đoạn kết thúc kiểm toán.
a.Giai đoạn lập kế hoạch.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên sử dụng các thủ
tục phân tích như là một công cụ lập kế hoạch. Mục đích của các thủ tục phân
tích ban đầu là:
• Thu thập hiểu biết chung về nội dung của các báo cáo tài chính.
• Xác định những thay đổi trong chính sách kế toán cũng như thay đổi
quan trọng về hoạt động của đơn vị kể từ kỳ kế toán trước.
• Xác định những biến động bất thường và những biến động đáng ra
phải có mà những vấn đề này có thể đưa tới rủi ro của sai sót trọng yếu.
• Nâng cao hiểu biết về công việc kinh doanh của khách hàng.
• Giúp kiểm toán viên xác định mức trọng yếu kế hoạch.
• Xác định những vấn đề có thể dẫn tới phải xác định có tiếp tục thực
hiện kiểm toán hay không.
Theo hướng dẫn của Delotte Touche Tomatshu DTT, các thủ tục phân
tích được áp dụng trong giai đoạn thực hiện kế hoạch ban đầu như sau:
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH Trang 13
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH Trang 14
Tìm hiểu môi trường kiểm
soát
Tìm hiểu hoạt động kinh
doanh của đơn vị
Tìm hiểu giá thành kế hoạch
Quá trình thực hiện các thủ tục phân tích do DTT đưa ra bao gồm 6 bước:
• Xác định số dư tài khoản và sai sót tiềm tang cần kiểm tra.
• Tính toán giá trị ước tính của tài khoản cần kiểm tra.
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH Trang 15
Kết luận và báo cáo
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
• Xác định giá trị chênh lệch có thể chấp nhận được.
• Xác định chênh lệch trọng yếu cần kiểm tra.
• Kiểm tra số chênh lệch trọng yếu.
• Đánh giá kết quả kiểm tra.
c. Giai đoạn hoàn thành kiểm toán.
Khi hình thành kết luận tổng quát và tổng thể các thông tin tài chính, kiểm
toán viên nên áp dụng phương pháp phân tích đánh giá tổng quát vào cuối hoặc
gần cuối cuộc kiểm toán. Các kết luân rút ra từ kết quả áp dụng phương pháp
phân tích sẽ củng cố cho các kết luận đã hình thành trong khi kiểm tra từng yếu
tố riêng biệt của các thông tin tài chính và giúp kiểm toán viên đi đến một kết
luận tổng quát về tính hợp lý của các thông tin tài chính.
Đánh giá, phân tích tổng quát là phương pháp kiểm toán có hiệu quả cao
vì thời gian ít, chi phí thấp mà nhiều tác dụng. Kĩ thuật phân tích thường được
các kiểm toán viên cấp cao tiến hành và thường là kĩ thuật được áp dụng đầu
tiên cho mọi cuộc kiểm toán. Trong trường hợp một bộ phận, một khoản mục
có giá trị không đáng kể so với tổng thể các thông tin tài chính và không có các
dấu hiệu biến động bất thường, đồng thời mức độ rủi ro kiểm toán thấp, đôi khi
kiểm toán viên chỉ cần áp dụng phương pháp phân tích là đã có thể rút ra
những nhận xét cần thiết mà không cần áp dụng thêm thủ tục kiểm toán nào
khác.
1.2.2.Phương pháp kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư
a. Đặc điểm của các phương pháp kiểm tra chi tiết với thử nghiệm cơ bản
trong báo cáo tài chính
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 530 “Lấy mẫu kiểm toán và các
vụ tạo nên số dư tài khoản mà bằng cách kiểm tra mẫu một số nghiệp vụ hoặc
áp dụng các thử nghiệm thích hợp trên cơ sở xem xét mối quan hệ giữa hiệu
quả kiểm toán và chi phi kiểm toán.
Như vậy, bản chất của kiểm tra chi tiết là đưa ra kết luận về số dư tài
khoản được kiểm tra thông qua phương pháp kiểm tra chọn mẫu. Phương pháp
kiểm tra chi tiết mang lại hiệu quả cao trong việc thu thập bằng chứng kiểm
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH Trang 17
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
toán. Tuy nhiên vai trò đó của kiểm tra chi tiết được thể hiện khác nhau qua
các cuộc kiểm toán khác nhau.
Trước hết vai trò của phương pháp này thể hiện ở phạm vi áp dụng của
nó. Kiểm trac hi tiết không phải được áp dụng trong mọi trường hợp mà phạm
vi sử dụng nó tùy thuộc vào từng cuộc kiểm toán cụ thể. Thông thường để đạt
được hiệu quả kiểm toán cao, kiểm toán viên bắt đầu tiến hành các thử nghiện
phân tích đến trắc nghiệm công việc qua trắc nghiệm trực tiếp số dư.
Vai trò của kiểm tra chi tiết không chỉ thể hiện ở phạm vi sử dụng nó mà
quan trọng hơn là xem xét vai trò của kiểm tra chi tiết trong mối liên hệ với các
thử nghiệm kiểm toán khác, trong mối quan hệ với một số kiểu mẫu bằng
chứng, trong tương quan về chi phí cho một cuộc kiểm toán và trong các cuộc
kiểm toán khác nhau
c.Quy trình kiểm tra chi tiết số dư và các nghiệp vụ trong báo cáo tài chính
Thông thường một cuộc kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ được thực
hiện qua 4 bước là lập kế hoạch kiểm tra chi tiết, lựa chọn số dư và nghiệp vụ
kiểm tra chi tiết, thực hiện các phương pháp kiểm ra chi tiết đối với các khoản
mục đã chọn và cuối cùng là phát hiện và xử lý các sai sót.
Bước 1: Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết
Để lập kế hoạch cho một cuộc kiểm tra chi tiết, kiểm toán viên phải dự
kiến được kết quả của các thử nghiệm kiểm soát và các thủ tục phân tích mà họ
sẽ thực hiện. Tuy nhiên, việc dự kiến kết quả các thử nghiệm kiểm soát muốn
chính xác lại phụ thuộc vào sự hiểu biết của kiểm toán viên về hệ thống kế toán
Sau khi KTV xác định được các khỏan mục cần kiểm tra từ tổng thể, xác
định được hướng kiểm tra, công việc tiếp theo sẽ là thực hện kiểm tra chi tiết
bằng phương pháp thích hợp.
Các phương pháp kiểm tra chi tiết mà KTV có thể áp dụng gồm:
• Quan sát vật chất( kiểm kê vật chất)
• Xác nhận
• Tính toán lại
• Kiểm tra chứng từ gốc
Nhóm thực hiện: Nhóm 02- Lớp: DHKT6TH Trang 19
Tiểu luận Kiểm toán phần 1 GVHD: Th.S. Bùi Thị Kim Thoa
Sau khi áp dụng phương pháp kiểm tra chi tiết thích hợp trên các mẫu đã
chọn ra, KTV cần đánh giá kết quả của kiểm tra chi tiết để xem xét các bằng
chứng thu thập được trong quá trình kiểm toán có đầy đủ và đáng tin cậy để
KTV đưa ra kết luận về số dư tài khoản được kiểm tra.Khi đánh giá kết quả
kiểm tra chi tiết, KTV không những chỉ phát hiện các sai sót về tài khoản mà
còn về chức năng hoạt động của hệ thông KSNB, hệ thống thông tin, hoặc về
tính khách quan của ban giám đốc và năng lực của đội ngũ nhân viên. Nếu sau
kiểm tra xác định có các chênh lệch kiểm toán thì KTV phải điều tra về tính
chất, nguyên nhân, cân nhắc tính trọng yếu của chênh lệch này và ảnh hưởng
của nó đến tình hình kinh doanh của khách hàng.
Bước 4: Phát hiện và xử lý các sai sót
Trong quá trình kiểm tra chi tiết, KTV có thể phát hiện ra những sai sót
hoặc những chênh lệch kiểm toán. Xử lý chênh lệch kiểm toán tùy thuộc vào
loại chêch lệch kiểm toán, nguyên nhân của những chênh lệch và cả những thủ
tục tiến hành khi phát hiện các chênh lệch.
Trong quá trình điều tra, KTV nên yêu cầu khách hàng xác định và sữa
chữa những sai sót trọng yếu hay chênh lệch kiểm tóan được phát hiện. Đối với
những chênh lệch hay sai sót mà khách hàng chưa nhất trí sữa chữa thì KTV
cần mở rộng các thủ tục kiểm toán hoặc áp dụng các thủ tục kiểm toán thay
thế.