CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU - Pdf 63

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Quan điểm của các nhà kinh điển Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng cộng sản Việt Nam về tự học và kỹ năng tự học.
Tiếp thu có phê phán các quan điểm trước đó về sự phát triển của con người,
C.Mác và Ph.Ăngghen, với thế giới quan và phương pháp tư duy biện chứng duy vật
khoa học, nghiên cứu sự hình thành phẩm chất, năng lực của con người trong những điều
kiện cụ thể, các ông đánh giá cao quá trình tự học tập, tự tìm kiếm hệ thống tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo hoạt động của bản thân con người. Vai trò tích cực, sáng tạo của con người
phát triển hoàn thiện nhân cách cũng được Lênin thường xuyên quan tâm. Người chỉ rõ:
Khái niệm con người, với tư cách là cái chủ quan, là khuynh hướng tự mình thực hiện
mình, tự cho mình qua bản thân mình, một tính khách quan trong thế giới khách quan và
tự hoàn thành (tự thực hiện) mình. Bàn về việc học, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Học, học nữa,
học mãi”. Đây là một tư tưởng lớn về việc học tập suốt đời. Kế thừa và phát triển những
tinh hoa tư tưởng về học tập của nhân loại đặc biệt là tư tưởng của các nhà kinh điển chủ
nghĩa Mác- Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tư tưởng rất lớn và hiện đại về cách học
(Người thường dùng thuật ngữ “kiểu học”) nói chung và đặc biệt là vấn đề mà người gọi
là “tự động học tập”. Đây là cống hiến to lớn và quý báu của Người vào lý luận dạy học:
“Phải tự nguyện tự giác xem công việc tự học là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố
gắng hoàn thành cho được, do đó phải tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập”
[41]. Người chỉ rõ: “Về cách học phải lấy tự học làm cốt” [41, tr.18]. Tư tưởng này đã chỉ
ra rằng: Tự học có vai trò quan trọng, là động lực để thúc đẩy quá trình học tập, phát triển
nhân cách và là nền tảng quyết định của quá trình dạy học. Tư tưởng của Chủ Tịch Hồ
Chí Minh về tự học có thể quy thành các vấn đề:
- Trong việc tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích học tập và xây
dựng động cơ học tập đúng đắn.
- Phải tự mình lao động để tạo điều kiện cho việc tự học suốt đời.
- Muốn tự học thành công, phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập, phải bền
bỉ kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại.
- Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức tự học.
- Học đến đâu, ra sức luyện tập thực hành đến đó. Trong lời khuyên đối với

nghiên cứu trên bình diện Tâm lý học, Giáo dục học nhằm làm rõ vai trò của tự
học, các điều kiện tác động nâng cao kết quả tự học. Mối quan hệ giữa người dạy
và người học, giữa cách dạy và cách học được tập trung làm rõ: người học phải
biết tự chiếm lĩnh tri thức thông qua hoạt động tự giác, tích cực... Thầy giáo khi đó
chỉ đóng vai trò là người khơi gợi sự chú ý, kích thích, thúc đẩy cho học sinh hoạt
động và như vậy “Thầy giáo trở thành người trọng tài, đạo diễn, thiết kế, tổ chức
việc làm, giúp đỡ học sinh biết cách làm, biết cách học” [29, tr.12].
1.1.2. Quan điểm của các nhà tâm lý học về tự học và kỹ năng tự học
* Quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây
+ Nghiên cứu về tự học
Ở phương tây các nhà khoa học cũng rất quan tâm nghiên cứu về tự học.
Dựa trên những thành tựu lý luận cơ bản của Tâm lý học hành vi và tâm lý học trí
tuệ, xem xét con người với tư cách là “con người cá thể”, mà sự phát triển tâm lý
của nó trước hết phải tuân theo các quy luật đặc biệt từng cá thể. Dựa trên cơ sở
tâm lý đó, các nhà khoa học tiêu biểu như: E.Mayo, F.Rextơlixbecgiê ...đã tìm ra
phương pháp dạy học nhằm khai thác và phát huy tốt nhất “cái cá thể” trong người
học. Có thể khái lược một số nét nội và kết quả theo các hướng sau:
- Hướng nghiên cứu đề cao vai trò của trẻ em trong quá trình học tập, tiêu
biểu như Vưgôtxki, Leonchiev, Ganperin ... Theo họ, giáo dục phải tạo điều kiện để
người học tự lựa chọn vấn đề, tự chiếm lĩnh tri thức. Một số tác giả lại quá đề cao
vai trò của người học và cho rằng ông thầy cứ để cho trò đi lên phía trước và nhận
xét bước đi của họ. Như vậy các tác giả đã đề cao vị thế của người học như một chủ
thể trong lĩnh hội tri thức, trong khi đó lại không chỉ ra người dạy phải làm như thế
nào để nâng cao chất lượng tự học cho học sinh.
- Hướng nghiên cứu khác như: P.V.Exipov, Primanov, A.VPetrovxki ...
cũng đi đến việc khẳng định vị thế của người dạy và người học, trong đó vai trò tự
học của người học được đề cao. Trong quá trình học tập người học phải tự giác,
tích cực thực hiện chương trình đào tạo của nhà trường.
- Vào đầu thế kỷ XX ở Pháp đã có các nghiên cứu và khẳng định vai trò của
tự học trong quá trình dạy học, như: F.M.Voltaire, D.Dierot... Theo họ, trung tâm

ở giai đoạn nhận thức, con người phải “hiểu thật rõ nhiệm vụ” xác định được nội
dung cần đạt được làm cơ sở để thu nhận và sử lý thông tin; ở giai đoạn liên tưởng
diễn ra sự hình thành các “thành phần kỹ năng riêng lẻ”; ở giai đoạn tự lập, kỹ
năng ngày càng được tự động hoá nhiều hơn [dẫn theo 24, tr.18].
Shull (1990) thì đưa ra kết luận là việc học tập, nhận thức của con người là
một quá trình chủ động, tạo lập và tích luỹ. Ông cho rằng “ngay ở giai đoạn đầu của
việc học tập, người học đã phải đối mặt với một số lớn các sự kiện và thông tin riêng
lẻ quan trọng” [Dẫn theo 24, tr.19]. Do vậy, ngay từ đầu, người học đã phải chủ
động cố gắng làm những gì có thể làm được: Học, giải thích thông tin mới, khảo sát
và “có những sai lầm bổ ích”. Shull xác định: ở giai đoạn trung gian, người học có
thể “sử dụng những thông tin mới tiếp nhận để tự giải quyết những vấn đề đơn giản”
[dẫn theo 24, tr.22]. Nghĩa là, người học có thể “học qua làm”. ở giai đoạn cuối,
Shull cho đó là giai đoạn học tập tích luỹ. Giai đoạn này kiến thức thu nhận được
của người học đã có tính chất hệ thống. Do đó, “ các kỹ năng thu được qua tự động
hoá và luyện tập thay đổi đã nâng cao khả năng hoạt động, còn các thành phần siêu
nhận thức tới lúc đó không chỉ tồn tại mà còn có thể sử dụng được”. [dẫn theo 24,
tr.30].
Các tác giả Brow (1994), Weinet và Helmke (1995) cho rằng: “Tính hiệu quả
(của việc học tập) hầu như phụ thuộc vào người học và sự khác biệt cá nhân của họ”.
[73, tr.132]. Theo họ, việc học tập rèn luyện của người học bị phụ thuộc vào những
điều kiện như: Nguồn tri thức vốn có; tạo tình huống học tập, rèn luyện; làm xuất
hiện, phát huy yếu tố chủ động, tự giác, tích cực trong học tập, rèn luyện.
* Quan điểm của các nhà Tâm lý học Mác-xit.
+ Nghiên cứu về tự học:
Hoạt động học là phương thức để con người tiếp thu tri thức, hành vi trong
cuộc sống. Việc học giúp cá nhân lĩnh hội tri thức đã được tích luỹ trong quá trình
lao động sản xuất và sinh hoạt cộng đồng. Việc lĩnh hội tri thức của mỗi người chỉ
đạt được kết quả cao khi họ tự học. Do vậy, nghiên cứu về tự học có giá trị nhất
định trong việc thúc đẩy con người tích luỹ kinh nghiệm, tri thức khoa học để nâng
cao năng lực nhận thức thế giới khách quan. Vấn đề tự học đã được nhiều tác giả

hợp lý”. Tác giả cho rằng: Học tập ở đại học là một quá trình phát triển của con
người, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong các yếu tố đó thì yếu tố bên
trong đóng vai trò quyết định đến kết quả tự học. Việc hoàn thành có kết quả những
nhiệm vụ tự học đặt ra đòi hỏi người học phải đấu tranh với bản thân một cách có
phê phán và phải sáng tạo trong quá trình tự học.
- L.P.Đôblaev trong cuốn “Những khía cạnh tâm lý của việc đọc sách” [16,
tr.11] và A.P.Primacecovxki trong cuốn “Phương pháp đọc sách” đã phân tích
những cơ sở khoa học tâm lý, những điều kiện ảnh hưởng tối ưu đến quá trình đọc
sách. Các tác giả đã phân tích được một số yếu tố tâm lý cơ bản đảm bảo cho quá
trình đọc sách đạt kết quả cao. Theo họ phương pháp đọc sách là một trong những
yếu tố quan trọng của tự học ở người học.
- P.V.Êxipôv [51] nghiên cứu công tác tự học của học sinh ngoài giờ lên lớp
cho rằng: Tự học là việc học của học sinh tiến hành khi không có sự tham gia hướng
dẫn trực tiếp của GV. Trong đó người học phải vươn tới mục đích đã đề ra. Trong
nghiên cứu của mình tác giả cũng đưa ra phương hướng để kích thích hoạt động tự
học cho học sinh đó là: Trong quá trình dạy học GV có thể nêu lên hàng loạt vấn đề
và yêu cầu học sinh hoàn thành trong một thời gian xác định. Nhưng cách thức hướng
dẫn người học tự học thì tác giả chưa đề cập tới.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy các nhà khoa học Đông Âu
và Xô Viết (trước đây) đã xem xét tự học một cách toàn diện như: vai trò của tự học,
KNTH, những biện pháp tổ chức hoạt động dạy học nhằm nâng cao hiệu quả tự học
của người học. Việc tự học được các tác giả xem xét trong mối quan hệ với hoạt
động dạy của quá trình dạy học. Việc tự học của học sinh được tổ chức dưới sự điều
khiển của GV thông qua hệ thống các bài tập nhận thức nhằm thực hiện các nhiệm
vụ học tập. Tuy nhiên, nhìn chung các tác giả còn chưa nghiên cứu một cách hệ
thống và chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến HTKNTH, các giải pháp
HTKNTH cho người học...
+ Nghiên cứu về kỹ năng.
- Các nhà Tâm lý học Xô Viết: B.F.Lômov, E.N.Kabannova, V.I.Đưcovai
nghiên cứu kỹ năng và kỹ xảo, làm rõ sự khác nhau của hai khái niệm này cũng

Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề tự học và kỹ năng nói chung, các nhà tâm lý
học Mác-xít đã đi vào lý giải một hiện tượng tâm lý mới đó là KNTH. Tiêu biểu
cho hướng này có một số nhà tâm lý học sau:
- A.N.Lêônchiev [34] đã nghiên cứu và chỉ ra các KNTH cần thiết để bảo
đảm cho người học đạt kết quả cao. Trong các KNTH tác giả nhấn mạnh đặc biệt
đến kỹ năng đọc sách. Theo ông kỹ năng đọc sách là kỹ năng cơ bản, quyết định
đến kết quả hoạt động tự học của người học.
- Một số hướng nghiên cứu khác lại tập trung nghiên cứu các KNTH. Kết
quả nghiên cứu của M.U.Piskunôv đã chỉ ra các kỹ năng cơ bản của tự học để bảo
đảm cho người học đạt kết quả. Trong các KNTH đó thì kỹ năng đọc sách được
nhiều tác giả coi là kỹ năng quan trong nhất trong hoạt động tự học. Trong đó
V.ÔKôn lại khẳng định rằng: để tự học có hiệu quả thì người học phải biết kế
hoạch hoá hoạt động tự học, tức là phải có kế hoạch tự học. Theo ông có kế hoạch
tự học sẽ giúp người học chủ động trong hoạt động và thể hiện tác phong khoa học
của bản thân [47].
- Trong các công trình nghiên cứu của A.V.Petrôvxki [48], .M.Machiuskin
[40]... đã nghiên cứu khẳng định trong quá trình dạy học GV phải tổ chức bồi dưỡng,
HTKNTH cho sinh viên. Các tác giả đã khẳng định việc GV giao bài tập nhận thức
cho sinh viên trong thời gian tự học là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao tính
tích cực, độc lập sáng tạo của sinh viên trong học tập.
- P.A.Kortremnưi (1986) xác định: điều kiện để hình thành hiệu quả kỹ năng
tự học là tạo ra những khái niệm cụ thể về mô hình luyện tập (HV hình dung thực
chất hoạt động và thể hiện nó). Bàn về phương pháp huấn luyện HTKNTH cho
HV, P.A.Kortremnưi chỉ rõ: “Cần tổ chức huấn luyện theo các giai đoạn hình
thành kỹ xảo, kỹ năng” [dẫn theo 24, tr.26-27].
- V.V.Tsebưseva nghiên cứu và chỉ ra những điều kiện tâm lý sư phạm của
việc HTKNTH cho HV bao gồm: 1- Tính chất xác định của nhiệm vụ, hiểu mục
đích và phương thức đạt kết quả; 2- Học sinh có những tri thức cần thiết; 3- Sự phù
hợp giữa các phương thức dạy học với những đặc điểm của các loại kỹ xảo; 4-
Tính hiệu quả của việc huấn luyện; 5- Một số lượng bài tập đủ mức; 6- Đánh giá

phải đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy theo hướng phát huy năng
lực tự học cho sinh viên. Trong những nghiên cứu về tâm lý học phát triển,
Tiến sĩ tâm lý học Vũ Thị Nho đã chỉ ra điều kiện cho sự phát triển tâm lý
(trong đó có kỹ năng) [44]. Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm (1998)
nghiên cứu mối quan hệ giữa kiến thức và đối tượng đối với sự hình thành kỹ
năng; nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng cho HV
[61]. Các tác giả: PGS, Ts Lê Minh Vụ, PGS, TS Hoàng Đình Châu và TS
Ngô Minh Tuấn khi nghiên cứu đề tài “Các giải pháp nâng cao chất lượng tự
học của học viên sĩ quan trong các nhà trường quân đội”[71], đã tập trung
làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các giải pháp nâng cao chất lượng tự học
của HV. Đặc biệt, các tác giả đã chỉ rõ các loại KNTH cần hình thành cho
học viên sĩ quan trong nhà trường quân đội. Tâm lý học quân sự và tâm lý
học chỉ huy bộ đội nghiên cứu đến điều kiện tâm lý của việc hình thành kỹ
năng cho quân nhân; kỹ năng nhận thức tình huống chiến đấu; kỹ năng lập kế
hoạch tác chiến; kỹ năng dự báo, dự đoán kết cục trận đánh; kỹ năng hạ quyết
tâm chiến đấu; kỹ năng huấn luyện và giáo dục bộ đội...
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong nước đã tập trung nghiên cứu
tự học của học sinh, sinh viên ở những khía cạnh như: Các yếu tố ảnh hưởng tới
chất lượng tự học, việc phân phối thời gian tự học, các phương pháp tổ chức hoạt
động tự học, việc sử dụng thời gian tự học của sinh viên, các hình thức và điều
kiện phục vụ ảnh hưởng đến tự học của sinh viên, phương pháp tự học của HV. Dù
đứng dưới góc độ Tâm lý học hay Giáo dục học để nghiên cứu thì các tác giả đều
rút ra một số kết luận:
Về lý luận: Các tác giả khẳng định được tầm quan trọng của tự học, cho rằng
tự học là yếu tố bên trong quyết định chất lượng học tập của người học. Bản chất
của tự học là quá trình tự tổ chức, tự điều khiển, tự điều chỉnh để chiếm lĩnh tri
thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, trên cơ sở đó nhân cách của người học được
hoàn thiện và phát triển. Cốt lõi của tự học là cần hình thành ở người học các
KNTH.
Về thực tiễn: Các công trình nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng hoạt

huống[62].
Theo từ điển tâm lý học: Kỹ năng là năng lực vận dụng có hiệu quả những
tri thức về phương thức hoạt động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những
nhiệm vụ tương ứng[11].
Từ những quan niệm trên về kỹ năng, có thể rút ra nhận xét chung về kỹ năng
gồm: Có tri thức về hành động (mục đích, cách thức thực hiện hành động, các điều
kiện phương tiện thực hiện mục đích); có sự tiến hành hành động đúng với yêu cầu
của nó; đạt được kết quả phù hợp với mục đích đã đặt ra; có thể hành động có kết quả
với những hành động tương tự trong những điều kiện khác.
Điều đó cũng có nghĩa là kỹ năng như sự thực hiện có kết quả một hành động
nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp
với những điều kiện cho phép.
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các khái niệm, chúng tôi cho rằng:
Kỹ năng là trình độ vận dụng có hiệu quả các kiến thức, kỹ xảo, kinh
nghiệm để giải quyết các nhiệm vụ trong các tình huống nhất định.
Kỹ năng có 2 đặc trưng cơ bản
Một là, kỹ năng biểu hiện trình độ nắm vững phương thức khái quát của một
hành động. Đặc trưng này phản ánh tính vững chắc của kiến thức và sự thuần thục của
kỹ xảo với tư cách là công cụ phương tiện của hoạt động tương ứng.
Hai là, kỹ năng phản ánh khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm để giải
quyết nhiệm vụ trong các tình huống khác nhau để đạt kết quả cao nhất. Đặc trưng
này phản ánh tính năng động, sáng tạo tiềm ẩn của con người và sẵn sàng hiện hữu
trong suốt quá trình hoạt động.
1.2.2. Kỹ năng tự học của học viên
Để hiểu rõ khái niệm KNTH rất cần thiết phải làm rõ các khái niệm có liên
quan đó là: Tự học và tự học của học viên.
*Tự học
Đã có nhiều nghiên cứu về tự học theo các góc độ khác nhau. Có thể khái
lược một số vấn đề như sau:
- Quan điểm của các nhà Giáo dục học về tự học

thân chủ thể” [53, tr. 35].
Theo quan điểm trên, tự học là quá trình người học huy động nhân cách của
mình để chiếm lĩnh kho tàng tri thức nhân loại. Vì vậy hoạt đông tự học là một
công việc khó khăn, mệt nhọc đòi hỏi tiêu tốn một năng lượng thần kinh và cơ bắp
tương đối lớn.
Tự học là quá trình cá nhân độc lập, tìm tòi kiến thức...tính độc lập trong
việc lựa chọn mục đích, lựa chọn những con đường và phương tiện giải quyết
những vấn đề đặt ra. Những tri thức là đối tượng tìm tòi trong tự học của HV có
liên quan đến nội dung kiến thức có ở bài đã học, đang học hoặc sắp được học. Tri
thức HV tìm kiếm, phát hiện có thể là do yêu cầu của GV, song cũng có thể do nhu
cầu hứng thú của người học.
. Theo N.Đ.Levitov: Tự học là hoạt động tích cực của cá nhân với các thành
phần tâm lý của sự lĩnh hội, đó là thái độ tích cực của người học trong tự học, các
quá trình tư duy, các quá trình ghi nhớ... các quá trình tâm lý có liên quan mật thiết
với nhau để hoạt động tự học đạt kết quả [33, tr.40].
. Một số quan niệm khác cho rằng: Tự học là hình thức học có tính chất cá nhân
do bản thân người học nỗ lực thực hiện. Bản chất tự học là hoạt động nhận thức độc
lập của HV. Hoạt động tự học mang tính chất cá nhân một cách rõ rệt.
Từ những quan niệm nêu trên có thể coi tự học là quá trình cá nhân tự giác,
tự lực, tích cực lĩnh hội những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống bằng hành
động của chính mình để đạt được những mục đích nhất định.
* Tự học của học viên
. Tự học về bản chất là hoạt động nhận thức tích cực, độc lập của người học,
tự học luôn luôn được xác định và diễn ra bởi chủ thể - người học và đối tượng là
tri thức, kỹ xảo, kỹ năng, nghề nghiệp. Vì vậy, tự học như thế nào, hiệu quả ra sao
là do nhân tố bên trong của chủ thể quyết định. Tự học của học viên là một loại
hình hoạt động diễn ra trong một môi trường đặc thù: Đối tượng của hoạt động tự
học là hệ thống các tri thức và các kỹ xảo, kỹ năng tương ứng với nó đã được chọn
lọc, tinh chế, mang tính khái quát. Quá trình tự học có sự định hướng điều khiển
của GV, sự tạo điều kiện của cán bộ quản lý và có các điều kiện phương tiện bảo

Như vậy, HTKNTH là tạo ra cái mới. Có hai trường hợp: tạo ra khái niệm
mới trước khi tác động, loại kỹ năng này chưa có ở người học, sau khi tác động ở
người học xuất hiện KNTH là một kiểu hình thành. Mặt khác cái mới ở đây có thể
hiểu là một cấu trúc mới, khi đo khởi điểm loại kỹ năng này ở bậc thấp trong hệ
thống kỹ năng của người học, sau khi tham gia hoạt động, bản thân người học có sự
thay đổi thể hiện trong các phép đo, KNTH chiếm vị trí cao hơn vị trí ban đầu. Trên
cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu đã có, kết hợp với đặc điểm hoạt động học
tập của HVDTTS ở HVCTQS, chúng tôi cho rằng:
HTKNTH cho HV là quá trình hình thành ở học viên khả năng nắm vững hệ
thống các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong
nhiệm vụ học tập và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể.
HTKNTH cho HV cần phải bảo đảm các yêu cầu sau:
- Tạo điều kiện cho HV nắm vững phương thức khái quát của hành động.
- Hình thành ở HV một mô hình khái quát để giải quyết các nhiệm vụ cùng
loại đồng thời giúp họ xác lập được mối liên hệ giữa bài tập mô hình khái quát và
các kiến thức, kỹ năng tương ứng.
- Trên cơ sở nắm vững phương thức khái quát của hành động, tạo điều kiện
cho HV vận dụng vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể
1.3. Các loại kỹ năng tự học cần hình thành cho học viên dân tộc thiểu số ở Học
viện chính trị quân sự
1.3.1. Đặc điểm hoạt động tự học của học viên dân tộc thiểu số ở học viện chính
trị quân sự.
1.3.1.1.Đặc thù về môi trường xuất thân
Hiểu một cách rộng rãi thì tự học là một hoạt động độc lập của HV nhằm
lĩnh hội tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo. Nó bao gồm: từ tự học trên lớp có sự tổ
chức, điều khiển trực tiếp của GV đến tự học hoàn toàn độc lập không có sự tổ
chức, điều khiển của GV và tiến hành tự học một cách tự giác theo hứng thú sở
thích của bản thân nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết bổ xung và mở rộng kiến thức.
Trong phạm vi luận văn nghiên cứu tự học với tư cách là một khâu của hoạt động
học, diễn ra ngoài giờ trên lớp, HV tự học để hoàn thành những nhiệm vụ mà GV

thích hợp. Do đó trong thời gian này, dưới sự tác động định hướng của GV, cán bộ
quản lý và tập thể đơn vị. HV người dân tộc thiểu số mới tự làm quen và từng bước
hoà nhập với môi trường chính quy, trong khuân khổ điều lệnh điều lệ quân đội.
Nhưng nhìn chung, HV sĩ quan chính trị người dân tộc thiểu số đều có thể
lực khá tốt và có ý thức vươn lên học hỏi, tiếp thu tri thức để khẳng định mình
trong tập thể và đối với đồng bào dân tộc quê hương. Đó là những đặc điểm thuận
lợi giúp cho họ hoàn thành nhiệm vụ học tập tại trường, từng bước hoàn thiện phẩm
chất, năng lực toàn diện theo mục tiêu yêu cầu đào tạo.
1.3.1.2. Đặc điểm về tâm lý
Xuất phát từ đặc thù về môi trường xuất thân, nên về tâm lý HVDTTS là
những người cần cù, chịu khó, yêu lao động, sống trung thực, chân thành; tính cách
thẳng thắn, cương trực, coi trọng tình nghĩa và giàu tính cộng đồng rất chuộng tình
cảm, coi đó là vấn đề rất thiêng liêng, họ định kiến về cái xấu, cái tốt rất lâu, khi đã
có lòng tin thì tin đến cùng, nhưng khi đã mất lòng tin thì luôn hoài nghi, rất khó
khôi phục. Do đó đòi hỏi người cán bộ “phải bắc cầu vào tim, trước khi bắc thang
lên óc”. Vì vậy, trong quá trình học tập, người dạy phải tạo niềm tin cho họ vào tri
thức, vào khả năng học tập hướng dẫn phương pháp học tập phù hợp.
HVDTTS thường hoạt động theo thói quen nên thường máy móc trong nhận
thức, ngại tham gia hoạt động tập thể nên trong sinh hoạt thường rụt rè, ngại phát biểu
ý kiến, ít bày tỏ chính kiến, dễ làm theo ý thích, xơ cứng vụng về trong ứng xử , ngại
giao tiếp xã hội; quan hệ bó hẹp trong gia đình, dòng họ, làng bản, ngại tiếp xúc
với người lạ, nhất là với GV, cấp trên, thiên về tư duy trực quan cụ thể... điều này
dẫn đến một hạn chế trong học tập như: dễ bi quan chán nản khi gặp vấn đề khó
hiểu, thiếu cố gắng vươn lên khi bị điểm thấp; cứng nhắc khi xử lý tình huống có
vấn đề” [25, tr.4]. Nghĩ sao nói vậy, có lúc không phân biệt giữa đùa và thật, dễ nổi
khùng khi bị kích động. Vì vậy, đòi hỏi công tác quản lý phải kiên trì, cụ thể tỉ mỉ, lâu
dài trong quản lý tự học và hướng dẫn tự học.
Việc tiến hành hoạt động tự học, KNTH của HV người dân tộc có khác biệt
và có khó khăn hơn nhiều so với HV người Kinh được đào tạo tại HVCTQS. Biểu
hiện khác biệt của HVDTTS khá rõ ràng về KNTH:

tái hiện, bổ xung tri thức và tự kiểm tra đánh giá kết quả tự học chưa tốt, chủ yếu
học tập theo thói quen, tự do học theo ý thích làm cho HVDTTS gặp khó khăn nhiều
không dễ dàng triển khai hoạt động tự học một cách nhanh chóng và hợp lý dẫn đến
tâm trạng bi quan chán nản, tạo nên sức ì thiếu cố gắng vươn lên, học viên yếu kém
thường chuyển biến chậm, từ đó hạn chế đến việc phát huy những đức tính cần thiết
trong quá trình học tập như: kiên trì, liên tục tập trung, tích cực chủ động... trong
thực hiện hoạt động tự học ở HVDTTS. Ở những khoá đầu có đồng chí chỉ học hết
cấp hai phổ thông; cá biệt có đồng chí nói tiếng Việt chưa thạo; một số không ít HV
đến trường vẫn mang theo thói quen và tập quán lạc hậu. Đó là những khó khăn
không nhỏ và là lực cản quá trình tiếp thu lĩnh hội kiến thức ở bậc, đại học khó khăn
cho HTKNTH. Từ những khác biệt về trình độ, quá trình HTKNTH của HVDTTS ở
HVCTQS cũng bộc lộ những hạn chế hơn so với HV người Kinh.
Cùng chiều hướng phát triển đi lên nhưng HTKNTH ở HVDTTS thể hiện
tốc độ chậm chạp. Khả năng giải quyết mâu thuẫn cơ bản trong quá trình tự học:
mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo với khả năng
chủ quan còn hạn chế của HV diễn ra khó khăn hơn và dài hơn. Mối quan hệ giữa
các thành tố của KNTH: nghe, ghi nhớ, chú ý, khái quát, tổng hợp, cảm xúc tình
cảm với hoạt động tự học thể hiện không rõ nét, còn có tính bột phát và máy móc.
Dù đã có sự quan tâm, tác động tích cực của các lực lượng, các nhân tố khác
trong quá trình dạy học nhưng KNTH của HVDTTS chưa thực sự tương xứng với
yêu cầu phát triển ngày càng cao của quá trình dạy học ở HVCTQS. Điều đó đặt ra
những yêu cầu đòi hỏi cả về phía HV và các lực lượng đào tạo phải nghiên cứu
một cách sâu sắc hơn về quá trình HTKNTH của HV người DTTS, phát huy cao
độ tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của người HV với những nội dung biện
pháp hợp lý nhằm HTKNTH của đối tượng này. Trên cơ sở đó nâng cao chất lượng
tự học, tự đào tạo của người HV trong quá trình giáo dục đào tạo ở HVCTQS.
1.3.2. Các kiểu(loại) kỹ năng tự học cần hình thành cho học viên dân tộc thiểu số
ở Học viện chính trị quân sự.
KNTH của HV nói chung của HVDTTS nói riêng rất đa dạng. Dựa vào đặc
điểm hoạt động tự học của HV và các giai đoạn để giải quyết một vấn đề đặt ra,

thức để có phương án giải quyết.
+ Kỹ năng lập kế hoạch tự học: khi phát hiện được vấn đề, muốn giải quyết
được nó trước hết HV phải có kỹ năng lập kế hoạch để thực hiện hoạt động. Hơn
nữa trong quá trình học tập HV đứng trước hàng loạt vấn đề cần giải quyết, từ những
vấn đề đặt ra và được tiếp nhận, từ thực tiễn hoạt động của cá nhân, HV kế hoạch
hoá hoạt động của mình thể hiện qua bản kế hoạch tự học. “Trong tự học phải rèn

Trích đoạn Hứng thú tự học: Các yếu tố thuộc về giáo viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status