đánh giá chương trình can thiệp thay đổi hành vi nhằm tăng khả năng chẩn đoán sớm chửa ngoài tử cung tại huyện đại từ- tỉnh thái nguyên năm 2008 và 2011 - Pdf 22

i BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO- BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP THAY
ĐỔI HÀNH VI NHẰM TĂNG KHẢ NĂNG CHẦN ĐOÁN
SỚM CHỬA NGOÀI TỬ CUNG TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN, NĂM 2008 VÀ 2011
Luận án tiến sỹ: Chuyên ngành Y tế công cộng
Mã số: 62.72.03.01 Hà Nội, 2014 Hà Nội, 2014
i LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu do chính tôi thực hiện. Các số liệu, kết quả
trong luận án là trung thực và chưa được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả
Bùi Thị Tú Quyên
ii LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban Giám hiệu trường Đại học
Y tế công cộng, các Thầy Cô giáo, các bạ n đồng nghiệp và các Khoa -Phòng
liên quan của Trường đã tạo điều kiện giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm với tôi
trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn Phó giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị Thu Hà đã chia sẻ

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4!
1.1.!Hệ thống hóa về chửa ngoài tử cung 4!
1.2.!Phòng chửa ngoài tử cung 20!
1.3.!Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về chửa ngoài tử cung 22!
1.4.!Mô hình thay đổi hành vi cá nhân hướng tới chẩn đoán sớm chửa ngoài tử cung 25!
1.5.! Thông tin chung về địa bàn can thiệp 34!
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36!
2.1 !Đối tượng nghiên cứu 36!
2.2!!Địa điểm nghiên cứu 36!
2.3!!Thời gian nghiên cứu 37!
2.4!!Thiết kế nghiên cứu 37!
2.5 !Mẫu và phương pháp chọn mẫu 38!
2.6 !Biến số, chỉ số của nghiên cứu 40!
2.7 !Một số khái niệm, cách tính chỉ số dùng trong nghiên cứu 43!
2.8!!Thử nghiệm công cụ 43!
2.9!!Phương pháp, công cụ thu thập số liệu 43!
2.10 Điều tra viên, giám sát viên 44!
2.11 Qui trình thu thập số liệu 44!
2.12 Các hoạt động can thiệp 47!
2.13 Quản lý, phân tích, sử dụng số liệu 55!
2.14!!Đạo đức trong nghiên cứu 56!
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57!
3.1.!Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 57!
3.2.!Sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ 15-49 tuổi có chồng về chửa ngoài tử
cung trước và sau can thiệp theo mô hình PRECEED – PROCEDE 60!
3.2.1! Sự thay đổi các yếu tố khuynh hướng 60!
3.2.2! Sự thay đổi các yếu tố cho phép 69!
3.2.3! Sự thay đổi các yếu tố tăng cường 71!
iv


PHỤ LỤC 12: BẢNG KIỂM GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TẠI XÃ 166!
PHỤ LỤC 13: DANH SÁCH PHỤ NỮ NHẬN TỜ RƠI 168!
PHỤ LỤC 14: BẢNG KIỂM ĐÁNH GIÁ TỜ RƠI 169!
PHỤ LỤC 15: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 170!
PHỤ LỤC 16: TỜ RƠI 173!
PHỤ LỤC 17: BÀI TRÌNH BÀY 174!
v DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Các vị trí chửa ngoài tử cung thường gặp [30] 6!
Hình 1.2: Sự thay đổi của β-hCG khi mắc chửa ngoài tử cung 19!
Hình 1.3: Mô hình PRECEDE-PROCEED 29!
Hình 1.4: Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên 35!
Hình 2.1: Sơ đồ thiết kế nghiên cứu 37!
Hình 2.2: PRECEDE-PROCEED VÀ CHẨN ĐOÁN SỚM CNTC Ở ĐẠI TỪ 49!vi DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Các xã được chọn vào nghiên cứu 39!
Bảng 2.2: Các biến số chính của công cụ định lượng 40!
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của phụ nữ có chồng trước can thiệp 57!
Bảng 3.2: Nguồn thông tin về SKSS, CNTC phụ nữ thường nhận trước can thiệp 59!
Bảng 3.3: Thông tin chung về cán bộ y tế trước can thiệp 60!
Bảng 3.4: Kiến thức về khám thai và dấu hiệu bất thường trước và sau CT 61!

Bảng 3.22: Thực hành các bước khám thai định kỳ hướng tới chẩn đoán sớm CNTC của
CBYT trước và sau can thiệp 85!
Bảng 3.23: Thực hành trong xử trí CNTC của CBYT trước và sau can thiệp 86!
Bảng 3.24: Sự thay đổi về đánh giá mức độ nguy hiểm của CNTC trước và sau can thiệp
của cán bộ y tế 87!
Bảng 3.25: Sự thay đổi kiến thức chung về CNTC trước và sau CT của CBYT 88!
Bảng 3.26: Mô hình đa biến về sự thay đổi kiến thức chung CNTC ở CBYT trước và sau
can thiệp* 88!
Bảng 3.27: Thực hành về CNTC của CBYT trước và sau can thiệp 89!
Bảng 3.28: Mô hình đa biến về sự thay đổi thực hành hướng tới chẩn đoán sớm CNTC ở
CBYT trước và sau can thiệp
*
90!
Bảng 3.29: Hiệu quả chương trình can thiệp lên kiến thức, thực hành hướng tới chẩn đoán
sớm chửa ngoài tử cung của cán bộ y tế 91!
Bảng PL.1: Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu (số liệu năm 2008) 146!
Bảng PL.2: Các phương án tính toán cỡ mẫu được cân nhắc 147!

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố phụ nữ có chồng tham gia sau can thiệp 58!
Biểu đồ 3.2: Phân bố số lượng dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai đối tượng nghiên cứu
biết trong số 3 dấu hiệu nguy hiểm chính trước và sau can thiệp 62!
Biểu đồ 3.3: Phân bố số lượng dấu hiệu chửa ngoài tử cung đối tượng nghiên cứu biết
trước và sau can thiệp 64!
Biểu đồ 3.4: Thực hành đi khám thai của PNCC trước và sau can thiệp 69!
Biểu đồ 3.5: Phân bố phụ nữ có thai/ sinh con được CBYT tư vấn 71!
Biểu đồ 3.6: Phân bố số lượng dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai cán bộ y tế biết trong số
3 dấu hiệu nguy hiểm chính trước và sau can thiệp 79!
Biểu đồ 3.7: Phân bố tỷ lệ cán bộ y tế định nghĩa đúng về chửa ngoài tử cung trước và sau
can thiệp 79!

HQCT
Hiệu quả can thiệp
KTC95%
Khoảng tin cậy 95%
LTQĐTD
Lây truyền qua đường tình dục
MTX
Methotrexate
NC
Nghiên cứu
NCS
Nghiên cứu sinh
NCSK
Nâng cao sức khỏe
OR
Tỷ số chênh (Odds Ratio)
PN
Phụ nữ
PNCC
Phụ nữ có chồng
PNCT
Phụ nữ có thai
QHTD
Quan hệ tình dục
RTIs
Bệnh viêm nhiễm đường sinh sản
SAAĐ
Siêu âm âm đạo
SKSS
Sức khỏe sinh sản

toàn Thế Giới [77]. Cho dù hiện nay có những tiến bộ đáng kể về y khoa trong việc
chẩn đoán và điều trị, CNTC vẫn là nguyên nhân chính trong tử vong mẹ trong giai
đoạn 3 tháng đầu thai kỳ. Ở Việt Nam, CNTC là một biến chứng nguy hiểm gây tử
vong cao ở phụ nữ có thai, phương pháp điều trị cơ bản hiện tạ i ở Việt Nam vẫn là
phẫu thuật, đặc biệt là các phẫu thuật cấp cứu khi có vỡ CNTC.
Đại Từ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên với dân số là 167.988
bao gồm nhiều dân tộc sinh sống. Trong huyện có một bệnh viện huyện và 31 trạm
y tế xã, bệnh viện huyện đã phải tiếp nhận những trường hợp CNTC vỡ vào mổ cấp
cứu trong tình trạng nguy kịch, với những tình huống này các bác sỹ cũng còn rất
ngần ngại khi phải xử trí.Trong những trường hợp phát hiện CNTC sớm (chưa vỡ)
họ đều giới thiệu chuyển tuyến trên điều trị. Cả bệnh viện chỉ có 1 máy siêu âm
phục vụ khoảng hơn 100 bệnh nhân/ngày. Chưa có ai sử dụng siêu âm đầu dò âm
đạo để chẩn đoán CNTC ở Đại Từ. Do vậy, việc chẩn đoán CNTC sớm còn gặp
nhiều khó khăn. Câu hỏi đặt ra làm sao để có thể chẩn đoán sớm CNTC, xử trí sớm
để có thể giảm thiểu tối đa hậu quả của CNTC gây ra cho phụ nữ tuổi sinh đẻ nói
riêng cũng như chất lượng dân số huyện Đ ại Từ nói chung?
2 Cho đến nay, trên địa bàn huyện Đại Từ chưa có một nghiên cứu nào về tình
hình CNTC trong cộng đồng phụ nữ tuổi sinh đẻ, nghiên cứu các yếu tố nguy cơ
gây CNTC, lý do vì sao hầu hết các trường hợp CNTC đều đến muộn? liệu có giải
pháp nào có thể giúp phát hiện và xử trí sớm CNTC, tiến tới hạn chế CNTC trên
địa bàn? Vì những lý do đó chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá chương
trình can thiệp thay đổi hành vi nhằm tăng khả năng chẩn đoán sớm chử a ngoài
tử cung tại huyện Đại Từ- Thái Nguyên, năm 2008 và năm 2011”

3
vòi tử cung, buồng trứng hay ổ bụng không giống như buồng tử cung nên khi trứng
làm tổ và phát triển tại các vị trí này các khối chửa đều bị thiếu hụt sự đáp ứng kích
thích nộ i tiết, sự phát triển không đầ y đủ của màng rụng và hệ thống huyết quản để
đảm bảo sự phát triển của thai. Hậu quả là hầu hết các trường hợp CNTC đều gây
chết bào thai ở giai đoạn sớm hoặc tiến triển gây chả y máu, nứt vỡ tại các vị trí thai
làm tổ [16]. Vì vậy dấu hiệu lâm sàng thường gặp trong 3 tháng đầu của thai kỳ của
CNTC sẽ là chậm kinh, đau bụng và ra máu [16], [19], [95].
1.1.2. Tỷ lệ mắc chửa ngoài tử cung
Tỷ lệ mới mắc của CNTC có xu hướng tăng lên trên toàn Thế giới, tỷ lệ mới
mắc rất khác nhau ở các nước phát triển và đang phát triển, nhìn chung tỷ lệ này là
khoảng 0,8%-4,4% [42], [51], [59], [77], [87]. Tỷ lệ CNTC ở Châu Âu và Mỹ là
khoảng 1%-2% phụ nữ mang thai [51], [76], [80]. Cũng có những nước tỷ lệ mắc
CNTC thấp hơn hẳn như ở Pháp tỷ lệ này vào năm 2002 là khoảng 0,1% trong
5 nhóm phụ nữ 15-49 tuổi [37]. Ở các nước phát triển hiện nay vẫn có xu hướng tăng
lên của CNTC, nhưng tỷ lệ tử vong do CNTC lại giảm. Nghiên cứu của Britton
Trabert và cộng sự [88] được tiến hành trên quần thể của phụ nữ tuổi sinh đẻ 15-44
tuổi của Washington và Idaho trong giai đoạn từ 1/1/1993 đến 31/12/2007 cho thấy
tỷ suất mắc CNTC hiệu chỉnh theo tuổi trong giai đoạn 1993-2007 là 17,9/10.000
phụ nữ-năm. Tỷ suất này trong các năm từ 1993-2004 gần như tương đương và tăng
trong 3 năm cuối (2005-2007), trong giai đoạn này tỷ suất mắc CNTC là
21,1/10.000 phụ nữ -năm. Nếu tính theo phụ nữ mang thai thì tỷ suất mắc CNTC
tăng dần trong giai đoạn 15 năm (1993-2007) từ 19,2/1.000 phụ nữ mang thai lên
26,2 [88].Việc gia tăng của tỷ suất mới mắc CNTC liên quan đến tăng tỷ suất mắc
viêm nhiễm đường sinh dục, việc điều trị vô sinh, tình trạng hút thuốc lá, v.v. ở phụ
nữ [37], [80].
Tương tự như xu hướng của Thế Giới, tỷ lệ CNTC ở Việt Nam cũng có xu
hướng gia tăng. Số liệu ghi nhận tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy tỷ lệ

Sự làm tổ của trứng có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trong ổ bụng như dây chằng
rộng, mạc treo đại tràng, mạc nối lớn, mạc treo tiểu tràng, tá tràng và ít hơn là ở
khoang phúc mạc, một số ít trường hợp khối chửa ở gan hoặc lách.
- Chửa ở buồng trứng: Là sự làm tổ của trứng thụ tinh tại buồng trứng. Chửa
buồng trứng chiếm tỷ lệ từ 0,15-3,2% các trường hợp CNTC [24], [69], [83], nguồn
cung cấp máu cho buồng trứng dồi dào nên khi vỡ sẽ rất nguy hiểm do chảy máu ồ
ạt. Chửa buồng trứng thường gây sảy vào ổ bụng trong 3 tháng đầu của thời kỳ thai
nghén, một số ít trường hợp cũng có thể phát triển đến đủ tháng.
- Chửa ở sừng tử cung (chửa kẽ): Là sự làm tổ của trứng thụ tinh ở đoạn
VTC nằm trong thành tử cung, đoạn tử cung dài khoảng 1cm, nằm chếch lên trên và
Cổ tử cung
Buồng trứng
Ổ bụng
Chửa kẽ
Chửa eo
Chửa loa vòi
trứng
Chửa bóng VTC
7 ra ngoài, đầu trong nối với miệng lỗ tử cung vòi và đầu ngoài tiếp nối với đoạn eo
nằm phía ngoài tử cung. Đây là vùng được cung cấp nhiều máu nên khi vỡ rất nguy
hiểm, chửa kẽ chiếm khoảng 1,5%-3% các trường hợp CNTC [24], [69], [83].
- Chửa ở vết mổ tử cung: Là sự làm tổ của trứng thụ tinh ở thành tử cung có
liên quan tới sẹo mổ , có thể nói đây là thể CNTC hiếm gặp nhất [69]. Chửa vết mổ
thường đư ợ c chẩn đoán muộn khi có dấu hiệu vỡ tử cung và mất máu đe doạ tính
mạng người bệnh vì các triệu chứng lâm sàng không điển hình.
- Chửa trong dây chằng rộng: Là sự làm tổ của trứng thụ tinh giữa hai lá của
dây chằng rộng, rất hiếm gặp. Đa số chửa trong dây chằng rộng là kết quả của sự

1.1.5.1. Tuổi và tuổi quan hệ tình dục lần đầu
Nhiều tác giả đề cập nguy cơ CNTC tăng dần theo nhóm tuổi [31], [80], [83],
[86], [89], [95]. Nguy cơ CNTC ở nhóm tuổi 30-34 cao gấp 1,5 lần nhóm tuổi 25-
29, gấp 2 lần nhóm tuổi dưới 24; nguy cơ này ở nhóm tuổi 35-39 cao gấp 2,1 lần so
với nhóm tuổi 25-29 và gấp 2,5 lần nhóm dưới 24; và ở nhóm tuổi từ trên 40 tuổi so
với các nhóm tuổi 25-29 và dưới 24 lần lượt là 3,4 lần và 5,7 lần [31], [86]. Nghiên
cứu của Nguyễn Thị Bích Hiền tại Bệnh Viện E cho thấy nguy cơ tương đối mắc
CNTC ở nhóm tuổi 30 trở lên cao gấp 3,37 lần nhóm dưới 30 tuổi [5]. Tuổi không
những là YTNC của CNTC mà còn là YTNC của CNTC nhắc lại [11].
Một số NC cũng chỉ ra tuổi có quan hệ tình dục (QHTD) lần đầu có liên quan
đến CNTC [31], [90]. Những phụ nữ có QHTD lần đầu sớm (dưới 18 tuổi) có nguy
cơ mắc CNTC cao hơn những phụ nữ có QHTD lần đầu khi trên 18 tuổi.
1.1.5.2. Tiền sử phẫu thuật vùng chậu
Tiền sử phẫu thuật VTC và triệt sản VTC có liên quan với CNTC [5], [21],
[31], [80], [89]. Những người có tiền sử phẫu thuật VTC có nguy cơ mắc CNTC
cao gấp 8,8 lần (95%CI: 6,4-12,3) những người không có tiền sử phẫu thuật [31],
nguy cơ này trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hiền là 5,1 lần [5]. Trong
nghiên cứu của Tharaux và cộng sự [86] những người có tiền sử phẫu thuật vùng
khung chậu có nguy cơ mắc CNTC cao gấp 5,8 lần những người không có tiền sử
phẫu thuật. Cá biệt có nghiên cứu gần đây của Phạm Văn Tự ở bệnh viện Trung
Ương Huế cho thấy phẫu thuật VTC làm tăng khả năng CNTC gấp 57 lần những
người không phẫu thuật [21].
9 Mổ đẻ cũng được đề cập là nguy cơ của CNTC cho lần có thai sau, nghiên cứu
tại bệnh viện Trung Ương Huế trên 518 thai phụ (74 trường hợp CNTC) thì những
người mổ lấy thai có nguy cơ mắc CNTC lần mang thai sau cao gấp 5,3 lần những
người không mổ lấy thai [21].
1.1.5.3. Tiền sử chửa ngoài tử cung

mắc CNTC ở nhóm phụ nữ nạo hút thai 1-2 lần và nhóm trên 2 lần cao gấp nhóm
chưa nạo hút lần lượt là 4 lần và 11 lần. Nghiên cứu của Phạm Văn Tự còn cho thấy
nguy cơ mắc CNTC ở nhóm nạo hút thai 2 lần cao hơn nhóm chưa nạo hút thai đến
33 lần [21].
1.1.5.5. Các phương pháp tránh thai
Nhìn chung các phương pháp tránh thai đều sẽ làm giảm nguy cơ mắc CNTC
vì làm giảm khả năng có thai [51], [89]. Tuy nhiên khi phương pháp tránh thai thất
bại thì đặt dụng cụ tử cung (DCTC) sẽ làm tăng nguy cơ mắc CNTC [5], [13], [21],
[31], [54], [86], [95], những người sử dụng DCTC để tránh thai có nguy cơ mắc
CNTC cao gấp 2 đến 6 lần những người không đặt DCTC. Ngoài ra những người có
thai sau khi đ ã thắt ống dẫn trứng cũng có nguy cơ mắc CNTC cao gấp 9,3 lần
(CI95%: 4,9-18) những người không thắt ống dẫn trứng [51].
1.1.5.6. Viêm tiểu khung và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Tiền sử viêm tiểu khung cũng là một YTNC của CNTC [21], [22], [33], [55],
[74], [79], [80], [95], những phụ nữ có tiền sử viêm nhiễm tiểu khung có nguy cơ
mắc CNTC cao gấp 4,0-4,4 lần những người không có tiền sử [31]. Tương tự như
vậy, trong một nghiên cứu thuần tập trong khoảng thời gian 15 năm (từ 1985 đến
1999) của Nicola Low [61] trên 43715 phụ nữ tuổi từ 15-24 cho thấy nguy cơ mắc
CNTC ở những phụ nữ bị nhiễm nấm âm đạo cao gấp 1,4 lần những phụ nữ không
mắc. Nghiên cứu bệnh chứng ở Chí Linh [13] cũng chỉ ra những phụ nữ đã từng bị
VNĐSD có nguy cơ mắc CNTC cao gấp 3,7 lần những phụ nữ không viêm nhiễm.
Nghiên cứu của Karaer [54] được tiến hành ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 2006 cũng cho thấy
những phụ nữ có tiền sử viêm tiểu khung có nguy cơ mắc CNTC cao gấp 6,8 lần
những phụ nữ không viêm tiểu khung. Cá biệt trong nghiên cứu tại bệnh việ n E thì
nguy cơ mắc CNTC ở nhóm phụ nữ có tiền sử VNĐSD cao hơn nhóm không viêm
9,2 lần [5]. Viêm phần phụ cũng là YTNC của CNTC nhắc lại [11]. Trong nghiên
cứu của Khin [55] cho thấy có tới 13,3% phụ nữ mắc CNTC có kết quả xét nghiệm
giang mai (+), tỷ lệ này trong nhóm không mắc CNTC là 3,5%.
11


các chất có trong khói thuốc [76], [84], quá trình vận chuyển phôi bị thay đổi trên
12 động vật thí nghiệm (thỏ và chuột đồng) cũng như ở người do hít phải khói thuốc lá
[84]. Nguy cơ CNTC ở nhóm hút thuốc lá cao gấp 1,5-5 lần (tùy từng tình trạng, số
lượng thuốc hút) so với nhóm không hút thuốc lá [31], [54], [78], [86]. Nhóm hút từ
10-20 điếu thuốc/ngày có nguy cơ mắc CNTC cao gấp 2,0-2,9 lần so với nhóm
không hút, nguy cơ này ở nhóm hút từ 20 điếu trở lên là 3,6-3,7 lần [31], [54], [74].
Trong nghiên cứu meta-analysis của Waylen [91] về ảnh hưởng của hút thuốc lá
đến SKSS còn cho thấy nguy cơ mắc CNTC ở nhóm phụ nữ hút thuốc lá cao gấp
14,7 lần nhóm không hút. Nghiên cứu của Tallot [84] cũng đã chứng minh việc di
chuyển của trứng về buồng tử cung bị ảnh hưởng do hút thuốc lá hoặc hít phải khói
thuốc lá.
1.1.5.11. Thụt rửa âm đạo
Nguy cơ CNTC ở những người có tiền sử thụt rửa âm đạo cao gấp 1,6 lần
những người không có tiền sử thụt rửa âm đạo [54]. Nghiên cứu tổng quan của
Martino [64] dựa trên 5 nghiên cứu đơn lẻ cho thấy thụt rửa âm đạ o là nguy cơ của
CNTC (OR từ 2-6), ngoài ra nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nguy cơ mắc CNTC sẽ
càng tăng theo tần suất thụt rử a âm đạo của phụ nữ. Nguyên nhân có thể do thụ t rửa
âm đạo làm tăng nguy cơ viêm nhiễm ngược dòng dẫn tới viêm tiểu khung và viêm
VTC tạo điều kiện cho CNTC.
1.1.5.12. Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Trong lịch sử, trường hợp làm thụ tinh ống nghiệm (TTON) đầu tiên trên Thế
giới (năm 1976) là CNTC [82]. Tỷ lệ CNTC chiếm khoảng 2%-9% các trường
TTON [80], [85], [92], [95] cao hơn so với nhóm mang thai tự nhiên (0,75%) [92].
Đặc biệt nếu những thai phụ TTON còn hút thuốc thì nguy cơ mắc CNTC cao hơn
rất nhiều [92]. Nghiên cứu của Karaser [54] cũng cho thấy phụ nữ mang thai bằng
phương pháp TTON có nguy cơ mắc CNTC cao gấp 14,8 lần những phụ nữ mang
thai bằng phương pháp khác. Số lượng phôi được chuyển khi làm TTON cũng liên

trứng bị bong ra, mạch máu của thành VTC bị hở. Có thể gặp trường hợp trứng bị
sảy hoàn toàn, máu chảy không nhiều lắm rồi tự ngừng, các triệu chứng mất đi.
- Thoái triển tự nhiên
Một số trường hợp CNTC tự thoái triển bằng cách tiêu đi hoặc hấp thu qua
VTC mà không cần phải điều trị [80]. Tuy nhiên, hiện tại các nhà nghiên cứu chưa
biết chính xác tỷ lệ thoái triển tự nhiên cũng như lý do thoái triển. Trên lâm sàng, có
14 thể dựa vào sự giảm nồng độ β-hCG để tiên đoán sự thoái triển của khối chửa,
nhưng ngay cả khi nồng độ β-hCG giảm thì nguy cơ vỡ khối chửa vẫn xảy ra [85].
- Gây vỡ vòi tử cung
Do gai rau ăn sâu vào lớp cơ, làm thủng VTC hoặc VTC dãn căng to gây vỡ,
đồng thời các nhánh mạch máu cũng bị vỡ gây chảy máu trong ổ bụng. Nếu chảy
máu ít một sẽ đọng lại ở vùng thấp tạo túi máu khu trú ở túi cùng Douglas, nếu chảy
máu nhiều sẽ gây ngập máu trong ổ bụng. Vỡ VTC có thể gặp ở bất kỳ đoạn nào
của VTC, tuỳ vị trí làm tổ , thời điểm vỡ VTC có thể xảy ra sớm hay muộn, thông
thường, những nơi VTC hẹp sẽ bị vỡ sớm, người bệnh nhanh chóng lâm vào tình
trạng choáng nặng có thể đe dọa tính mạ ng.
- Khối huyết tụ thành nang
Từ chỗ trứng bị bong, máu có thể rỉ ít một qua loa VTC, tích tụ lại hình thành
nên những khối huyết tụ. Trong nghiên cứu của Đinh Thị Thành tỷ lệ huyết tụ thành
nang là 7,6% [18]. Khối huyết tụ này đôi khi rất to, được mạc nối lớn, các quai ruột
bao lại tạo thành khối huyết tụ thành nang.
1.1.6.2. Diễn biến/ biến chứng khi có can thiệp
- Tồn tại nguyên bào nuôi: Biến chứng này xảy ra khi bệnh nhân được điều
trị phẫu thuật bảo tồn VTC nhưng không lấy hết các nguyên bào nuôi, các nguyên
bào nuôi còn sót lại vẫn tiếp tục phát triển hoặc trong quá trình lấy bệnh phẩm các
nguyên bào nuôi rơi vào trong ổ phúc mạc và làm tổ trong ổ phúc mạc cũng gây nên
tồn tại nguyên bào nuôi.

có bất kỳ một triệu chứng nào hư ớng tới CNTC được các CBYT ghi nhận trước đó
[80]. Chẩn đoán sớm CNTC là điều kiện chính để có thể xử trí kịp thời CNTC, các
can thiệp sớm có thể giảm khả năng vỡ khối chửa, giảm băng huyết, tăng khả năng
có thai trở lại và cho phép sử dụng các biện pháp điều trị nội khoa hoặc mổ nội soi.
Chẩn đoán CNTC muộn là những trường hợp chẩn đoán khi khối chửa đã vỡ
hoặc thể huyết tụ thành nang, tỷ lệ này trong nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản
Trung Ương từ tháng 2-tháng 8/2004 là 18% (124/690 trư ờng hợp CNTC) [12]. Các
lý do chính của chẩn đoán CNTC muộn là bệnh nhân không đi khám sớm (50,8%)
vì thiếu hiểu biết về CNTC; một lý do chính nữa là chẩ n đoán không đúng của các
cơ sở y tế tuyến dưới (44,4%) trong lần khám bệnh đầu tiên của thai phụ [12].
Ngoài ra cũng vì các lý do khách quan như triệu chứng bệnh không điển hình
(16,9%). Nghiên cứu của Gregory hồi cứu trên 738 bệnh nhân CNTC vào điều trị

Trích đoạn Đạo đức trong nghiên cứu 56 Sự thay đổi các yếu tố khuynh hướng 60 Sự thay đổi các yếu tố cho phép 69 Sự thay đổi các yếu tố tăng cường 71 Sự thay đổi các yếu tố khuynh hướng 77
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status