MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Chữ viết tắt Chú giải
XK Xuất khẩu
NK Nhập khẩu
NS Nhập siêu
XNK Xuất nhập khẩu
CCTM Cán cân thương mại
CCTTQT Cán cân thanh toán quốc tế
KNXNK Kim ngạch xuất nhập khẩu
KNNK Kim ngạch nhập khẩu
KNXK Kim ngạch xuất khẩu
ĐBSCL Đồng bằng sông cửu long
KTQT Kinh tế quốc tế
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Chữ viết tắt Giải nghĩa tiếng Anh Giải nghĩa tiếng Việt
ACFTA Khu vực mậu dịch ASEAN - Trung Quốc
ADB Asian Development Bank
Ngân hàng phát triển Châu Á Thái
Bình Dương
AFTA Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
AKFTA
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN -
Hàn Quốc
ASEAN
Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
APEC
Asia - Pacific Economic
Công ty đa quốc gia
USD The United Stages Dollar Đô la Mỹ
JVEPA Hiệp định đối tác kinh tế Việt - Nhật
WB The World bank Ngân hàng thế giới
WTO
The World Trade
Organizatiion
Tổ chức thương mại Thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế Việt Nam trong vài năm trở lại đây đang có những bước chuyển biến
tích cực như tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân luôn ở mức cao so với khu vực và
thế giới, giai đoạn 1991 - 2009 là 7.56% , chỉ đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ; GDP
bình quân đầu người tăng cao, bình quân 13,6% trong cùng kỳ từ năm 1991 - 2009
và được đánh dấu bởi cột mốc năm 2008 khi nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nhóm
nước có thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình.
Song song với những chuyển biến tích cực đó thì một thực trạng đáng báo
động trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam từ những thập niên 90 tới nay là tình
trạng thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai xuất phát chủ yếu từ thâm hụt cán cân
thương mại ngày càng gia tăng. Nếu như xuất khẩu tăng trưởng đều đặn mỗi năm
(đặc biệt, xuất siêu vào năm 1992) nhờ xuất những mặt hàng chủ lực như: nguyên
vật liệu thô (dầu mỏ, than đá…), nông sản (gạo, hạt điều, hạt tiêu…), thủy hải sản,
hàng gia công mỹ nghệ… thì khi đề cập vấn đề nhập khẩu ta sẽ thấy điều hoàn toàn
trái ngược. Xét khía cạnh kim ngạch và quy mô nhập khẩu thì tốc độ tăng trưởng
nhập khẩu bình quân giai đoạn 1991 - 2000 là 17,5%, giai đoạn 2001 - 2006 là 19%,
giai đoạn 2007 - 2009 là 11% . Nhìn chung tăng trưởng nhập khẩu của nước ta
không ổn định qua các thời kỳ, thậm chí còn vượt xuất khẩu rất nhiều mặc dù đã có
sự can thiệp của Chính Phủ trong việc điều tiết thị trường, gia tăng tỷ trọng các mặt
hàng công nghiệp, đề ra các chính sách kích thích tăng trưởng xuất khẩu, hạn chế
tế tham gia vào lĩnh vực nhập khẩu, các điều kiện ảnh hưởng đến nhập khẩu và kinh
nghiệm của các quốc gia đã kiềm chế được tình trạng nhập siêu. Từ đó đề suất các
giải pháp kiềm chế nhập siêu cho Chính phủ trong giai đoạn sau 2010.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phương pháp hệ thống
hóa, thống kê, tổng hợp, so sánh dẫn giải, phân tích…
6.
Kết cấu của đề tài
Kết cấu đề tài gồm ba chương chính, bao gồm:
Chương I: Khái lược về nhập siêu, dự báo nhập siêu của Việt Nam trong thời
gian tới và kinh nghiệm của một số nước về giải quyết vấn đề
nhập siêu.
Chương II: Thực trạng vấn đề nhập siêu của Việt Nam trong thời gian qua.
Chương III: Các biện pháp kiềm chế nhập siêu của Việt Nam trong thời gian tới.
2
CHƯƠNG I
KHÁI LƯỢC VỀ NHẬP SIÊU, THỰC TRẠNG
VÀ NGUYÊN NHÂN NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
I. KHÁI NIỆM VỀ NHẬP SIÊU, NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬP SIÊU VÀ
ẢNH HƯỞNG CỦA NHẬP SIÊU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
1. Khái niệm, đặc điểm và các quan niệm về nhập siêu.
1.1. Khái niệm nhập siêu.
Nhập siêu là khoản thiếu hụt của giá trị xuất khẩu hàng hoá so với giá trị nhập
khẩu hàng hoá của một nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường tính
theo năm). Nói cách khác, nhập siêu là khoản thiếu hụt cán cân thanh toán thương
mại hàng hoá của một nền kinh tế trong quan hệ trao đổi hàng hoá với phần còn lại
của thế giới trong một khoảng thời gian xác định (thường là một năm). Tỷ lệ nhập
siêu là quan hệ so sánh giữa khoản giá trị nhập siêu với tổng giá trị xuất khẩu hàng
hoá của nước đó trong cùng thời gian, được tính bằng số phần trăm (%).
của họ (các nhà ngoại giao, các chuyên gia quân sự ở bên ngoài lãnh thổ của họ
cũng như các tổ chức quốc tế không phải là người cư trú của nơi họ làm việc). Theo
IMF, CCTTQT gồm hai tài khoản chính là cán cân thanh toán vãng lai (gọi tắt là tài
khoản vãng lai) và cán cân tài khoản vốn.
I.2. Đặc điểm của nhập siêu
-
Đặc điểm về qui mô, mức độ nhập siêu.
Qui mô nhập siêu của nền kinh tế được xác định bằng giá trị đo bằng ngoại tệ
chuyển đổi sau khi thực hiện phép trừ đại số của tổng giá trị XK hàng hoá với tổng
giá trị NK hàng hoá trong một giai đoạn nhất định (thường là một năm). Ví dụ, đối
với trường hợp Việt Nam, qui mô nhập siêu được tính bằng Đô la Mỹ. Mức độ nhập
siêu của nền kinh tế được xác định bằng quan hệ tỷ lệ phần trăm (%) giữa giá trị nhập
siêu tính bằng ngoại tệ (đôla Mỹ) với tổng giá trị (hay kim ngạch) XK hàng hoá tính
bằng ngoại tệ chuyển đổi (đôla Mỹ) trong cùng một giai đoạn (thường là một năm).
-
Đặc điểm về các dạng thái của nhập siêu.
Nếu theo mục đích, nhập siêu của các nền kinh tế thường ở 4 dạng thái chủ
yếu sau:
Nhập siêu để tăng trưởng (là dạng thái tích cực của nhập siêu): Đây là
4
trường hợp do đầu tư phát triển nhanh, đòi hỏi phải tăng nhanh nhập khẩu để đáp
ứng nhu cầu “đầu vào” của sản xuất nhưng năng lực sản xuất trong nước đang trong
quá trình hấp thụ đầu tư chưa kịp chuyển hoá thành năng lực XK của nền kinh tế
trong ngắn hạn, nên XK chưa tăng trưởng kịp tốc độ của NK, dẫn đến nhập siêu.
Tuy nhiên, nếu sản xuất trong nước hấp thụ tốt vốn đầu tư, đầu tư có chọn lợc và
hiệu quả, từ đó tăng năng lực sản xuất hàng XK thì nhập siêu cao có thể là tiền đề
của tăng trưởng XK trong dài hạn, tạo hiệu ứng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế
ở giai đoạn tiếp theo.
Nhập siêu để tiêu dùng: Đây là trường hợp do sản xuất trong nước bị trì trệ,
lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất trong nước không đủ cho tiêu dung trong nước
thặng dư cán cân dịch vụ để bù đắp mà vẫn đạt mục tiêu hiệu quả chung của nền
kinh tế.
- Đặc điểm về cơ cấu nhập siêu:
+ Cơ cấu nhóm hàng, ngành hàng, mặt hàng được phân nhóm như sau:
Từ góc độ can thiệp của Nhà nước nhằm quản lý, điều tiết hoạt động nhập
khẩu, cơ cấu mặt hàng nhập khẩu gồm 3 nhóm lớn: 1) nhóm mặt hàng cần thiết
nhập khẩu; 2) nhóm mặt hàng cần kiểm soát nhập khẩu; 3) nhóm mặt hàng cần hạn
chế nhập khẩu.
Theo dây chuyền (chu trình) phát triển giữa nhập khẩu và xuất khẩu và cân đối
nhập - xuất theo từng ngành sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế; ví dụ:
ngành hàng sản phẩm hoá dầu, ngành sản phẩm thông tin, ngành sản phẩm cà phê
… và/hoặc theo các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn được xác
định tại quyết định số 55/2007/QĐ-TTG ngày 23/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo mục đích sử dụng hàng nhập khẩu, gồm: các mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của sản xuất (vật tư, máy móc thiết bị,…); và các mặt hàng tiêu dùng của dân cư.
Theo thông kê hàng hoá nhập khẩu: theo danh mục thống kê.
Theo tính chất của sản phẩm, gồm: sản phẩm hoàn chỉnh, bán thành phẩm.
Theo trình độ kỹ thuật và công nghệ của sản phẩm như: sản phẩm có hàm
lượng lao động cao, sản phẩm có hàm lượng vốn cao, sản phẩm có hàm lượng chất
xám cao.
+ Cơ cấu chủ thể nhập khẩu, gồm:
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư trong nước.
+ Cơ cấu thị trường nhập siêu, gồm:
Cơ cấu nhập siêu theo khu vực thị trường nhập khẩu (châu Á - Thái Bình
6
Dương): châu Phi, Tây Á, Nam Á, châu Âu, châu Mỹ.
Cơ cấu nhập siêu theo các thị trường nhập siêu chính là các thị trường có qui
mô nhập siêu lớn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị nhập siêu
I.3. Một số quan niệm về nhập siêu trong lịch sử các học thuyết kinh tế
sánh của các Nhà nước đang phát triển, cùng với hiện tượng sử dụng năng lực sản
xuất không hết công suất cũng trở nên phổ biến. (3) Qui mô của khu vực kinh tế
Nhà nước nhanh chóng mở rộng vượt ngoài khả năng chi tiêu của Nhà nước, một
phần không nhỏ chi tiêu của Nhà nước đã phải dựa vào phần vốn vay của nước
ngoài với lãi suất cao, các doanh nghiệp Nhà nước phải gánh chịu phần chủ yếu nợ
nước ngoài nhưng lại hoạt động kém hiệu quả làm cho khả năng trả nợ xấu thêm,
gây ảnh hưởng xấu tới thâm hụt cán cân thanh toán. (4) Chính sách tiền tệ lỏng lẻo
trở thành nguồn gốc tạo nên nguồn vốn bù đắp bội chi ngân sách của Chính phủ đã
góp phần mở rộng thêm sự thâm hụt cán cân thanh toán. Do đó, để cải thiện cán cân
thanh toán vãng lai, khắc phục tình trang nhập siêu và thiết lập lại cân bằng cán cân
thương mại của nền kinh tế, cần thực hiện 5 cách thức chủ yếu sau:
• Thắt chặt cung ứng tiền tệ, giảm chi tiêu của ngân sách Nhà nước.
• Phá giá đồng tiền nội để khuyến khích tận dụng năng lực sản xuất cho nhập
khẩu và thay thế nhập khẩu.
• Tự do hoá giá cả, đặc biệt là giá sản phẩm nông nghiệp; và nâng lãi suất để
khuyến khích tăng tiết kiệm, tăng đầu tư (theo quan niệm trường phái kinh tế này
thì tiết kiệm và đầu tư luôn cân bằng).
• Tự do hoá thương mại, thực sự khuyến khích XK, tư nhân hoá các doanh
nghiệp nhà nước.
Trường phái kinh tế cơ cấu cho rằng, hiện tượng nhập siêu và thâm hụt cán
cân thanh toán vãng lai của các nước đang phát triển là khó tránh khỏi do những
nguyên nhân khách quan từ nội tại của nền kinh tế các nước này và những yếu tố
bất lợi trên thị trường quốc tế. Có 4 lí do chủ yếu sau: (1) Nền kinh tế các nước
đang phát triển phụ thuộc nặng nề vào bên ngoài về máy móc, thiết bị, công nghệ
sản xuất và một phần quan trọng là các nguyên liệu cơ bản (kể cả dầu mỏ), cho nên
nhập khẩu ở qui mô lớn không chỉ là điều kiện tiên quyết để phát triển, mà còn để
duy trì sự sản xuất bình thường của các nước đang phát triển. (2) Trong điều kiện
khả năng XK còn ở mức hạn chế do tính giới hạn của xuất khẩu nông sản và các
nguyên liệu thô là những mặt hàng XK chủ yếu của nền kinh tế, độ nhạy cảm về
8
9
siêu đối với nền kinh tế
2.1.
Các nhân tố ảnh hưởng và là nguyên nhân dẫn đến nhập siêu
2.1.1.
Nhóm nhân tố nội tại về qui mô và trình độ phát triển của nền kinh tế
ảnh hưởng đến nhập siêu
(1) Qui mô sản xuất trong nước còn nhỏ, phân tán; trình độ phát triển sản xuất
còn thấp, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, sản phẩm hàng hoá sản xuất trong nước
không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường nội địa (Tổng cung nhỏ hơn Tổng cầu).
(2) Nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào bên ngoài về máy móc thiết bị, công nghệ
sản xuất và một phần quan trọng là các nguyên liệu cơ bản (như dầu mở, than, hoá chất
cơ bản, phân bón…) nên phải NK ở qui mô lớn để duy trì sản xuất bình thường.
(3) Sức cạnh tranh quốc tế của sản phẩm hàng hoá sản xuất trong nước còn
yếu nên không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu có sức cạnh tranh cao hơn trên
thị trường trong nước và hàng hoá XK cũng có sức cạnh tranh chủ yêu trên thị
trường trong nước và hàng hoá XK cũng có sức cạnh tranh yếu trên thị trường thế
giới nên qui mô XK nhỏ, tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK chậm hơn so với tăng
trưởng kim ngạch NK dẫn đến nhập siêu.
(4) Cơ cấu sản xuất trong nước và cơ cấu hàng hoá xuất khẩu còn lạc hậu, giá trị
gia tăng thấp nên khả năng XK còn ở mức hạn chế do tính giới hạn (cả về khối lượng
và giá trị) của XK nông sản và các nguyên liệu thô là những mặt hàng XK chủ yếu
của nền kinh tế, độ nhạy cảm về cung của những mặt hàng này rất nhỏ bé, không
thích ứng kịp thời với những biến đổi mau lẹ của thị trường thế giới. Do tính giới hạn
đó của nền kinh tế nên qui mô XK nhỏ, không có khả năng tăng trưởng nhanh, không
thể cân đối được cán cân thương mại và xảy ra nhập siêu có tính dài hạn.
(5) Đầu tư là một trong những nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến cán cân
thương mại, ảnh hưởng đến nhập siêu. Khi đầu tư phát triển sản xuất tăng cao (cả
đầu tư trong nước và đầu tư của nước ngoài vào trong nước) làm tăng nhu cầu sử
dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất nên nhập khẩu tăng nhanh trong khi năng lực
chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư của quốc gia đó. Mối quan hệ giữa cán cân
thương mại, đầu tư và tiết kiệm được biểu thị bằng biểu thức:
e - m = (S - I) + (T - G)
Trong đó, S là mức tiết kiệm, I là mức đầu tư, T là thu nhập từ thuế và G là chi
tiêu của Chính phủ. Cán cân thương mại thâm hụt có nghĩa là tiết kiệm quốc gia ít
hơn đầu tư và ngược lại, nếu cán cân thương mại thặng dư, quốc gia tiết kiệm nhiều
hơn so với đầu tư.
(10) Tiết kiệm và tiêu thụ: Sự gia tăng tiết kiệm sẽ làm giảm bớt thâm hụt hoặc
11
sẽ thặng dư cán cân thương mại. Do đó muốn đạt được sự gia tăng vốn tiết kiệm
chúng ta cần có những thay đổi trong hệ thống thuế và những cải cách nhằm cải
thiện sự hoạt động hữu hiệu của hệ thống tài chính quốc gia. Sự thâm hụt cán cân
thương mại lâu dài sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng tiêu dùng của thế hệ tương lai.
Mặt khác, sự gia tăng tiêu dùng của dân cư hiện tại cũng ảnh hưởng đến nhập siêu
theo chiều hướng xấu.
(11) Năng suất lao động: Năng suất lao động cũng góp phần ảnh hưởng lên
cán cân thương mại vì sự gia tăng năng suất lao động sẽ làm cho giá thành sản
phẩm rẻ hơn có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế, từ đó gia tăng hàng hoá XK
đem lại thằng dư cho cán cân thương mại hoặc giảm bớt sự thâm hụt; trong khi
năng suất lao động thấp làm giá thành sản xuất cao khó cạnh tran với hàng hoá
nước ngoài, trong khi nhu cầu nhập khẩu gia tăng sẽ làm cán cân thương mại bị
thâm hụt thêm hoặc giảm bớt thặng du nếu có. Do đó việc xây dựng cơ sở hạ tầng
vất chất cũng như phát triển nguồn tài nguyên nhân lực vừa đề cập ở trên cũng là
yếu tố thiết yếu có tác động tốt đến cán cân thương mại.
2.1.2. Nhóm nhân tố có tính khác quan (bên ngoài) ảnh hưởng đến nhập siêu:
(1) Giá thế giới của hàng hoá xuất nhập khẩu
Giá cả luôn là một nhân tố quan trọng trong việc xác định mức cầu của thị
trường đối với một loại hàng hoá.
Khi giá hàng hoá sản xuất trong nước của một quốc gia thấp hơn giá thế giới
thì quốc giá đó có tính cạnh tranh tương đối về giá với các quốc gia khác, và do đó
Sự can thiệp của ngân hàng trung ương để làm giảm giá trị tiền đồng so với
tiền tệ các nước khác nhằm giảm bớt áp lực cho những doanh nghiệp xuất khẩu
cũng không làm giảm được sự thâm hụt cán cân thương mại vì nó có thể làm gia
tăng giá cả sinh hoạt. Ngay cả khi chính sách tiền tệ được áp dụng để ngăn ngừa sự
tăng giá này thì ảnh hưởng của nó cũng chỉ có được trong ngắn hạn.
(2) Chính sách đầu tư:
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là bộ phận quan trọng của tài
khoản vốn. Việc gia tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài có tác dụng bù đắp thâm
hụt cán cân tài khoản vãng lai. Nếu chính sách bảo hộ thiên lệch đối với XK sẽ làm
cán cân thương mại thâm hụt. Lúc này khi luồng FDI vào tăng lên sẽ làm thay đổi
tương quan giữa cung và cầu ngoại tệ; nếu Chính phủ không can thiệp sẽ dẫn đến
khuynh hướng đồng nội tệ tăng giá, gây hậu quả là hạn chế XK và khuyến khích
NK, và việc thâm hụt cán cân thương mại là khó tránh.
Chính sách đầu tư trong nước theo hướng XK hay thay thế NK đều ảnh hưởng
đến cán cân thương mại. Thêm vào đó hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và cơ cấu vốn
13
đầu tư cũng ảnh hưởng đáng kể đến cán cân thương mại. Chẳng hạn, việc xem nhẹ
đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ làm tăng NK, nguyên nhiên, phụ liệu đã làm
giảm khả năng cạnh tranh hàng XK, hạn chế thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Hiệu
quả kinh tế thấp của các dự án đầu tư sẽ làm suy yếu khả năng cạnh tranh XK và
thay thế NK do có mức chi phí cao hơn mức quốc tế. Điều này gây cản trở cho việc
cải thiện cán cân thương mại và trong trường hợp cụ thể có thể những dự án đầu tư
không hiệu quả sẽ trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, đặc biệt là trong dài hạn.
(3) Chính sách thương mại:
Chính sách thương mại thường ít ảnh hưởng lên sự thâm hụt cán cân thương
mại vì nó không tác dụng trực tiếp đến nguồn tiết kiệm và đầu tư trong nước. Tuy
vậy, cho dù rào cản thương mại được áp dụng một cách triệt để giới hạn mọi hàng
hoá NK để không còn sự thâm hụt cán cân thương mại, nhưng sự ngừng giảm NK
hay xuất khẩu sẽ làm tê liệt mọi hoạt động kinh tế và gây nên sự sụp đổ hoàn toàn
hệ thống kinh tế của một quốc gia.
tranh về giá cả, từ đó kiềm chế lạm phát và vẫn có thể cung cấp hàng hoá vượt trên
cả khả năng của nền kinh tế mà không cần phải tăng giá nhiều. Như vậy, trong suốt
thời kỳ khủng hoảng, nhập siêu không phải là điều tốt, nhưng lại có tác dụng tích
cực trong thời kỳ tăng trưởng.
Đối với một số nước cụ thể, đặc biệt là các quốc gia phát triển, nhập siêu tăng
cao và theo đó là thâm hụt cán cân vãng lai trong ngắn hạn là điều không đáng lo
ngại. Kinh nghiệm các nước cho thấy, nếu đầu tư trong nước hấp thụ vốn đầu tư tốt,
đầu tư một cách chọn lọc và có hiệu quả, từ đó tăng năng lực sản xuất hàng xuất
khẩu thì nhập siêu tăng cao có thể là tiền đề của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn
tiếp theo. Nhìn từ góc độ này, nhập siêu là một dấu hiệu tích cực của nền kinh tế.
II. DỰ BÁO NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ KINH
NGHIỆM CỦA 1 SỐ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHẬP SIÊU
1. Dự báo nhập của Việt Nam với một số đối tác thương mại song phương
1.1.
Việt Nam - Trung Quốc
Xét theo cơ cấu nhập khẩu hiện tại, ba nhóm mặt hàng mà Việt Nam đang
nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc là máy móc thiết bị, sắt thép; vải sợi và
nguyên phụ liệu dệt may da. Trong tương lai nhu cầu trong nước đối với ba nhóm
mặt hàng này vẫn sẽ tiếp tục tăng lên trong khi sản xuất trong nước chưa thể đáp
ứng được toàn bộ nhu cầu. Do đó, nhập khẩu từ những nhóm mặt hàng này từ
15
Trung Quốc sẽ còn tiếp tục tăng.
Việc các dự án lớn trong lĩnh vực lọc hoá dầu, sản xuất hoá chất, chất dẻo
nguyên liệu và sắt thép đang được triển khai thực hiện cho thấy có khả năng trong
tương lại tốc độ tăng nhập khẩu những mặt hàng này từ Trung Quốc sẽ chậm lại,
thậm chí đối với một số mặt hàng có thể sẽ giảm bớt do sản xuất trong nước đáp
ứng được một phần nhu cầu trong nước.
Động lực chính tăng xuất khẩu đối với thị trường Trung Quốc trong tương lai
nhiều khả năng sẽ là nhóm hàng sản phẩm điện tử và linh kiện khi các nhà máy sản
xuất linh kiện điện tử của các tập đoàn đa quốc gia đầu tư tại Việt Nam đi vào hoạt
dịch ngành công nghiệp dệt may ra nước ngoài, chỉ giữ lại trong nước sản xuất các
sản phẩm dệt may cao cấp. Vì thế, trong tương lai xuất khẩu hàng dệt may sang Hàn
Quốc có khả năng sẽ tăng nhanh do thị trường Hàn Quốc có vẫn có nhu cầu đối với
các sản phẩm dệt may có chất lượng trung bình, giá cả vừa phải. Nhiều nhà máy dệt
Hàn Quốc đã chuyển sang Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Châu Á khác sản
xuất xuất khẩu sang nước thứ ba hoặc xuất trở lại Hàn Quốc. Tiềm năng xuất khẩu
sang Hàn Quốc của nhiều mặt hàng thuộc nhóm hàng công nghiệp chế tạo như dây
điện, dây cáp điện, sản phẩm nhựa, sản phẩm điện tử và linh kiện còn lớn. Mức độ
tăng kim ngạch xuất khẩu của những mặt hàng trong nhóm này sẽ phụ thuộc nhiều
vào đầu tư của các công ty nước ngoài, đặc biệt là của các công ty Hàn Quốc, trong
các lĩnh vực này tại Việt Nam.
1.3.
Việt Nam - Đài Loan
Việt Nam đang nhập khẩu một khối lượng lớn xăng dầu từ Đài Loan. Nhập
khẩu xăng dầu đến cuối năm 2010 đạt 109,5 triệu USD, chiếm 1,6% trong tổng kim
ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Đài Loan. Do đó, khi các nhà máy lọc dầu của
Việt Nam lần lượt đi vào hoạt động, nhiều khả năng nhập khẩu xăng dầu từ Đài
Loan sẽ giảm, dẫn đến tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ
Đài Loan sẽ chậm lại.
Mặc dù vậy, do Đài Loan vẫn là một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn
tại Việt Nam nên nhập khẩu các mặt hàng tư liệu sản xuất từ Đài Loan như máy
móc thiết bị phụ tùng, nguyên phụ liệu dệt may da, chất dẻo nguyên liệu, phôi thép,
sản phẩm điện tử… sẽ vẫn tiếp tục tăng.
1.4.
Việt Nam - Hồng Kong
Với vai trò là một thị trường chuyển tải, xuất khẩu sang Hồng Kông trong giai
17
đoạn tới sẽ khó có khả năng tăng mạnh vì nhiều mặt hàng của Việt Nam đã xuất
khẩu trực tiếp đi các thị trường khác. Trong khi đó, nhập khẩu sản phẩm điện tử,
máy móc thiết bị phụ tùng và nguyên phụ liệu dệt may da từ Hồng Kông sẽ tiếp tục
18
Lan sẽ còn tiếp tục tăng hơn nữa.
Việc đưa vào vận hành những nhà máy lọc dầu sẽ làm giảm đáng kể kim
ngạch nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam từ thế giới nói chung và từ Thái Lan nói
riêng. Mặt khác, xuất khẩu dầu thô của ta sang Thái Lan cũng sẽ giảm do nguồn dầu
thô xuất khẩu được chuyển sang cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước.
Hiện tại, nhiều dự án đầu tư lớn trong lĩnh vực sản xuất hoá chất, chất dẻo
nguyên liệu, sắt thép đang được triển khai thực hiện. Khi những dự án này hoàn
thành và đi vào hoạt động sẽ giải quyết được một phần nhu cầu nhập khẩu phục vụ
sản xuất trong nước. Do đó, tốc độ tăng nhập khẩu những mặt hàng này từ Thái Lan
sẽ không còn cao như trong giai đoạn vừa qua.
1.7.
Việt Nam - Indonesia
Trong số hai mặt hàng xuất khẩu lớn nhất từ Indonesia là gạo và dầu thô, xuất
khẩu gạo có khả năng duy trì về khối lượng và tăng về giá trị do giai đoạn tới sản
lượng lương thực của Indonesia vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu của người dân,
đồng thời tình trạng thiếu lương thực trên thế giới sẽ giữ giá gạo ở mức cao. Xuất
khẩu dầu thô có khả năng giảm vì dầu thô xuất khẩu được chuyển sang cung cấp
cho các nhà máy lọc dầu trong nước.
Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Indonesia trong giai đoạn trước mắt
có thể sẽ không thay đổi nhiều. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn từ
Indonesi sẽ là sản phẩm điện tử và linh kiện, linh kiện ôtô, máy móc thiết bị phụ
tùng, sắt thép, chất dẻo nguyên liệu, cao su định chuẩn kỹ thuật và hạt điều nguyên
liệu. Là một nước xuất khẩu dầu mỏ lớn, lại có vị trí địa lý gần với Việt Nam, có thể
trong tương lai xa Việt Nam sẽ nhập khẩu dầu mỏ từ Indonesia.
1.8.
Việt Nam - Ấn Độ:
Dự đoán kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - Ấn Độ chủ yếu là các mặt hàng hạt
tiêu, quế, sắt thép, sản phẩm điện tử và linh kiện, hàng thủ công mỹ nghệ, giày dép
… Kim ngạch XK hàng hóa của Việt Nam sang Ấn Độ có thể đạt khoảng 0,9 - 1,0
19%) nhưng khả năng sản xuất trong nước về các nguyên vật liệu đầu vào cho
nhóm ngành hàng xuất khẩu này của Việt Nam còn hạn chế nên nhu cầu nhập khẩu
nguyên phụ liệu đáp ứng sản xuất hàng xuất khẩu vẫn rất cao, chiếm khoảng 63%
kim ngạch XK nhóm hàng này.
-
Nhóm sản phẩm gỗ
Mặc dù đây là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nhưng do 80% gỗ
nguyên liệu nước ta phải nhập khẩu và đồ gỗ cao cấp nhập khẩu có xu hướng tăng
trong những năm qua (do thu nhập của dân cư tăng lên) nên dự kiến trong 2 năm tới
thặng dư thương mại của mặt hàng đồ gỗ chỉ bằng khoảng 55% KNXK. Để nâng
cao tỷ lệ xuất khẩu nhóm sản phẩm đồ gỗ thì trước hết phải nâng cao được tỷ trọng
và chất lượng gỗ nguyên liệu trong nước, nâng cao cấp độ chế biến để tăng tỷ trọng
20
của nhóm sản phẩm đồ gỗ cao cấp để xuất khẩu sang EU, Nhật, Bắc Mỹ …
-
Nhóm sản phẩm điện tử, máy tính và linh kiện
Cũng sẽ tiếp tục nhập siêu trong những năm tới nhưng tỷ lệ nhập siêu so với
xuất khẩu sẽ có xu hướng giảm đáng kể.
-
Nhóm sản phẩm cơ khí
Sẽ có xu hướng nhập siêu giảm nhẹ hoặc khá ổn định để đáp ứng nhu cầu phát
triển sản xuất trong nước trong khi năng lực cạnh tranh nhóm sản phẩm này của
Việt Nam còn yếu, dự báo tỷ lệ nhập siêu so với nhóm hàng này sẽ tăng.
-
Nhóm sản phẩm chế tác
Vừa tiếp tục có xuất siêu trong khi nhóm sản phẩm phwong tiện vận tải tuy giá
trị nhập siêu vẫn cao nhưng tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu sẽ giảm dần.
Theo các số liệu dự báo về cán cân thương mại giai đoạn 2011-2015: nhóm
hàng thiết bị điện và chế tác có giá trị xuất khẩu khả quan (cả 2 nhóm này đều xuất
siêu). Đối với nhóm hàng máy tính, cơ khí, phương tiện vận tải, số liệu dự báo cho
3.1.
Một số khuynh hướng giải quyết vấn đề nhập siêu, tạo lập cán cân thương
mại hợp lý của một số nhóm nước
3.1.1.
Một số NIEs - Châu Á
Từ thập kỷ 60-70, các nước NIEs Châu Á đã chuyển nhanh từ chiến lược thay
thế nhập khẩu sang thực hiện chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu trên cơ sở xây
dựng và thực hiện tốt chiến lược thu hút kỹ thuật tuần hoàn, phát triển nhập khẩu
theo hướng chủ đạo là hình thành dây chuyền phát triển giữa nhập khẩu với xuất
khẩu, không ngừng nâng cấp trình độ kỹ thuật của nền kinh tế, nâng cấp sức cạnh
tranh của hàng xuất khẩu, tăng nhanh kim ngạch và hiệu quả xuất khẩu tạo lập thế
mới cho cán cân thương mại để dần chuyển nhập siêu sang xuất siêu một cách vững
chắc từ sau thập kỷ 80 đến nay. Chiêu thức cơ bản của chiến lược thu hút kỹ thuật
tuần hoàn là nhập khẩu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của nước ngoài, sử dụng lực
lượng lao động khoa học kỹ thuật ở trong nước để tiếp thu tiến lên đổi mới, sáng tạo
mở mang kỹ thuật, hình thành dây chuyền phát triển: Nhập vào - tiếp thu - sáng tạo
- phát triển - xuất khẩu kỹ thuật (luân chuyển xuất ra sản phẩm). Đồng thời, dùng kỹ
thuật nhập khẩu đã tiếp thu và sáng tạo phát triển để cải tiến hệ thống kỹ thuật sản
xuất công - nông nghiệp, nâng cao hiệu ích kinh tế và hàm lượng kỹ thuật của sản
phẩm xuất khẩu. Từ đó, làm cho sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế,
tăng kim ngạch và hiệu quả xuất khẩu, phần vốn do kỹ thuật xuất khẩu (đã luân
chuyển ra sản phẩm) thu được hàng năm lại có thể bắt đầu vòng tuần hoàn mới:
Nhập vào - tiếp thu - sáng tạo - phát triển - xuất khẩu kỹ thuật (luân chuyển xuất ra
sản phẩm) ở thời điểm kỹ thuật cao hơn (phát triển nhập khẩu - xuất khẩu theo
đường xoáy trôn ốc). Đây là chiêu thức chủ động giải quyết vấn đề nhập siêu tạo lập
thế cân bằng cán cân thương mại, chuyển sang xuất siêu một cách vững chắc và dài
22