LUẬN VĂN Xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với chất thải rắn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng - Pdf 22

Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay tốc độ phát triển đô thị, gia tăng dân số của các đô thị lớn cao, đời
sống người dân không ngừng được cải thiện nên khối lượng chất thải rắn phát sinh
hằng ngày tăng lên nhanh chóng, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và môi
trường đô thị.
Quản lý chất thải rắn sẽ góp phần tạo cho các đô thị lớn một mỹ quan xanh-
sạch-đẹp, môi trường đô thị trong lành. Góp phần vào việc phát triển kinh tế của
đô thị.
Trong khi đó, ngân sách dành cho công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với
chất thải rắn còn hạn hẹp, chưa giải quyết triệt để lượng rác phát sinh hằng năm.
Lượng chất thải rắn phát sinh nhưng chưa được thu gom, vận chuyển, xử lý còn
nhiều đã ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng, môi trường của thành phố.
Để xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố văn minh, hiện đại; là trung tâm
kinh tế-xã hội lớn của Miền Trung với vai trò trung tâm công nghiệp, thương mại,
du lịch và dịch vụ; một trong những Trung tâm văn hoá-thể thao, giáo dục-đào tạo
và khoa học-công nghệ của Miền Trung, thì việc xã hội hoá công tác vệ sinh môi
trường đô thị đối với chất thải rắn là việc làm cần thiết. Tạo nên thế cạnh tranh
lành mạnh của các thành phần kinh tế tham gia vào việc cung cấp dịch vụ vệ sinh
môi trường đối với chất thải rắn, đồng thời sử dụng nguồn ngân sách một cách
hiệu quả với chất lượng môi trường đô thị tốt nhất.
Vì những lý do trên nên đề tài: ” Xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường đô thị
đối với chất thải rắn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” ra đời.
Đề tài này nghiên cứu với mục đích: Tìm ra cách giải quyết về kinh phí cho
công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với chất thải rắn trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng, đồng thời nâng cao ý thức của mọi người trong việc bảo vệ môi trường đô
thị có gắn với cơ chế kiểm soát của Chính quyền địa phương.
Bài viết này gồm 3 chương:

hoá ngày càng phát triển mạnh mẽ ở các đô thị lớn, đã tác động mạnh mẽ vào môi
trường đô thị. Do đó đòi hỏi công tác vệ sinh môi trường đô thị phải triệt để, bao
gồm tất cả các thành phần của môi trường môi trường, nhằm trả lại môi trường ở
các đô thị trong lành. Môi trường đô thị bao gồm từ không khí, nước thải và nước
mưa, chất thải rắn.
1.1.2.1. Đối với không khí:
Không khí là một thành phần vô cùng quan trọng đối với sự sống của con
người vì con người có thể nhịn ăn 7-10 ngày, nhịn uống 2-3 ngày, nhưng chỉ cần
sau 3-5 phút không thở không khí thì đã có nguy cơ tử vong.
Với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội, khoa học-công nghệ, và quá trình đô thị
hoá diễn ra ngày càng nhanh như hiện nay thì ô nhiễm môi trường không khí ngày
càng nghiêm trọng và vấn đề quản lí môi trường không khí để có được một môi
trường trong lành là một vấn đề nan giải và bức thiết đối với mỗi quốc gia, của
toàn thế giới. Có nhiều nguồn phát sinh gây ra ô nhiễm không khí
- Ô nhiễm không khí do đốt nhiên liệu (nguồn cố định): các ống khói công
nghiệp, đặc biệt là công nghiệp năng lượng, công nghiệp luyện kim, công nghiệp
xây dựng, công nghiệp hoá chất, công nghiệp dầu khí…
- Do đốt nhiên liệu (nguồn di động): các phương tiện giao thông như ô tô, xe
máy, máy bay, tàu thuỷ, tàu hoả…
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 4

- Do đốt nhiên liệu: đốt chất thải, bụi khí độc, chất có mùi rò rỉ và bay hơi từ
dây chuyền sản xuất công nghiệp, từ sản xuất nông nghiệp, từ khai thác mỏ, vật
liệu xây dựng.
Công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với không khí là một vấn đề đòi hỏi
sự tham gia phối hợp của tất cả mọi người dân nhất là các cơ sở sản xuất công
nghiệp. Để làm tốt công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với không khí thì chính
quyền đô thị phải quản lí các nguồn thải ô nhiễm. Khuyến khích các doanh nghiệp
sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch trong sản xuất.Có những

-Ảnh hưởng tới chất lượng nước ngầm.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho nguồn nước ngầm ô nhiễm
thông qua các loại phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ.
Do con người ăn ở mất vệ sinh ở các khu vực nông thôn, các nguồn phân
người, rác, phân động vật chưa qua xử lí đã đưa thẳng ra tưới tiêu, ngấm qua đất
đến nước ngầm làm cho nước ngầm ở khu vực đó ô nhiễm.
-Ảnh hưởng tới sức khoẻ con người.
Là đường truyền bệnh nguy hiểm nhất cho con người thông qua việc sử
dụng nguồn nước bẩn, trong nước lại chứa các vi trùng gây bệnh như: ỉa chảy,
thương hàn, lị…Các bệnh gây ra do thiếu nước dùng cho vệ sinh cá nhân như: các
bệnh ngoài da, bệnh ghẻ, bệnh nhiễm trùng da, hay bệnh đau mắt hột…
-Ảnh hưởng đến động vật, thực vật, hệ sinh thái.
Các nhà máy,xí nghiệp sản xuất công nghiệp vì chạy theo lợi nhuận nên
nước thải trong hoạt động sản xuất của mình ra các sông, hồ, ao mà chưa qua xử lí
làm cho các sinh vật ở nơi đó bị ảnh hưởng, có khi còn xảy ra hiện tượng chết
hàng loạt.
-Đối với nước mưa.
Nước mưa là nguồn nước tự nhiên, có số lượng lớn. Lượng nước mưa này
không những không gây ô nhiễm môi trường, làm cho cống rãnh bẩn thỉu lan tràn
trên đường phố, mà còn gây ra sự ngập úng, cản trở giao thông.
*Giải pháp cho công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với nước thải, nước
mưa.
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 6

-Xây dựng hệ thống thoát nước thải, nước mưa trong các khu đô thị.
- Kiểm soát nguồn thải ở các cơ sở sản xuất ra môi trường.
-Có biện pháp xử lí nguồn thải trước khi thải ra môi trường.
-Định kì kiểm tra, làm vệ sinh cống thoát nước; kiểm tra lượng nước
ngấm ra hoặc vào có đủ tiêu chuẩn hay không.

được thu gom và đưa đến bãi rác công cộng để xử lý. Đây là nguyên nhân gây ô
nhiễm môi trường xung quanh.
Hiện nay, hầu hết các loại chất thải này không được phân loại tại nguồn
nên việc tái sử dụng, tái chế các phế liệu chưa được chú ý, điều này đã gây ra một
sự lãng phí trong quá trình sản xuất.
c. Chất thải rắn sinh hoạt.
Là loại chất thải sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, chiếm
một tỷ lệ lớn trong tổng số chất thải rắn. Thành phần chủ yếu có trong chất thải
sinh hoạt là thức ăn thừa, rau củ quả, chai nhựa, chai thuỷ tinh, xác động vật…Các
thành phần này có thể được sử dụng để chế biến thành phân hữu cơ có lợi cho cây
trồng.
Chất thải này được thu gom, vận chuyển và được xử lý tại bãi rác công
cộng bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh.
Công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với chất thải rắn bao gồm các khâu: phân
loại chất thải rắn, vận chuyển chất thải rắn đến địa điểm xử lý, xử lý chất thải rắn
theo các phương pháp khoa học.
 Phân loại chất thải rắn: là việc chất thải rắn được phân chia theo từng
loại chất thải rắn, như chất thải rắn hữu cơ, chất thải rắn vô cơ, chất thải rắn nguy
hại. Việc phân loại chất thải rắn sẽ giúp cho việc tái chế đối với những chất thải
rắn có khả năng tái chế; tạo ra những nguyên liệu, nhiên liệu khác có lợi từ những
chất thải rắn đã bỏ. Góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất, cải thiện môi trường sống,
tạo mỹ quan cho các đô thị.
 Vận chuyển chất thải rắn: là quá trình đưa chất thải rắn từ nơi thu gom
đến nơi cần xử lý. Việc vận chuyển chất thải rắn được thực hiện bằng phương tiện
cơ giới và thủ công kết hợp thông qua các trạm trung chuyển.
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 8

 Xử lý chất thải rắn: chất thải rắn sau khi đã đến nơi xử lý, tại đây áp
dụng những phương pháp khoa học tiên tiến hay thủ công kết hợp với các hoá chất

thừa, rau, củ, quả thời gian phân huỷ nhanh, loại chất thải này khi phân huỷ tạo
thành phân hữu cơ rất có lợi cho cây trồng. Đối với chất thải rắn là những chất vô
cơ như bao nilon, những chai nhựa, chai hoá chất là những chất có thời gian phân
huỷ dài, khả năng phân huỷ khó, nó có chứa những hoá chất có hại cho môi
trường, ảnh hưởng đến nước ngầm,các sinh vật sống dưới đất.
Chất thải rắn là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất đối với môi trường của các đô
thị. Rác có thể gây ô nhiễm toàn diện đến môi trường sống: đất, nước(nước mặn,
nước ngầm), không khí. Rác có chứa trong nó những thành phần phức tạp,những
thành phần có hại cho môi trường như những hoá chất độc hại khi nó phân huỷ
lượng hoá chất này sẽ ngấm sâu vào lòng đất, và sẽ được tích tụ lại. Qua thời gian,
những thành phần này sẽ dần dần phá vở các thành phần và kết cấu của đất, làm
cho các thành phần của đất thay đổi tức là có thêm một lượng hoá chất, những chất
có hại; kết cấu của đất không còn bền vững như trước, dễ bị phá vở. Thêm vào đó,
nguồn nước nằm sâu trong lòng đất, do quá trình tích tụ của các thành phần của
chất thải trong một thời gian dài đã ảnh hưởng đến nguồn nước này, gây ô nhiễm
nguồn nước. Rác thải cũng gây ra ô nhiễm không khí thông qua quá trình phân
huỷ của nó.
Công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với chất thải rắn là một quy trình giúp
cho quá trình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn một cách khoa học, hợp vệ
sinh. Có thể tận dụng được những chất thải rắn có lợi cho môi trường, đồng thời
hạn chế những chất thải rắn gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái.
1.1.3.2.Tạo mỹ quan cho thành phố.
Chất thải rắn bao gồm các chất thải không đồng nhất từ khu dân cư, các chất
thải từ các khu công nghiệp, dịch vụ-du lịch, thương mại, từ sản xuất nông nghiệp.
Do đó, chúng có thời gian phân huỷ trong tự nhiên khác nhau. Hơn nữa, các chất
thải rắn đều tồn tại dưới dạng rắn, nếu không có công tác vệ sinh môi trường đối
với chất thải rắn sẽ gây mất mỹ quan cho thành phố.
1.1.3.3.Góp phần phát triển kinh tế.
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 10

Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 11

Chất thải rắn sau khi đã được tái chế sẽ tạo thành những thành phẩm tái
chế có những công dụng, đặc tính như là những nguyên liệu, nhiên liệu trong sản
xuất. Các cơ sở sản xuất đã tận dụng, sử dụng những nguyên liệu, nhiên liệu này
vào quá trình sản xuất của mình, vừa tiết kiệm được một khoản chi phí, vừa tạo ra
những thành phẩm như mong muốn ban đầu.
Việc sử dụng những thành phẩm đã tái chế từ chất thải rắn trong sản
xuất vừa tiết kiệm chi phí trong khâu sản xuất sản phẩm, vừa tiết kiệm chi phí
trong khâu sử lý chất thải rắn.
+ Giảm chi phí xử lí ô nhiễm của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Khi có công tác vệ sinh môi trường đối với chất thải rắn thì lượng chất
thải rắn trên toàn thành phố được thu gom, vận chuyển, xử lý theo đúng quy trình
khoa học, sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí trong khâu xử lý chất thải rắn cho
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Nếu các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xử lý chất thải rắn theo cách
riêng của mình, vừa gây ô nhiễm môi trường xung quanh khi sử dụng phương
pháp xử lý không đúng, vừa tạo cho mình một khoản chi phí lớn cho khâu quản lý
chất thải rắn.
Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sử dụng các dịch vụ vệ sinh môi
trường đối với chất thải rắn, họ chỉ tốn một khoản phí trả cho việc quản lý môi
trường theo quy định của thành phố.
1.2. Kinh phí chủ yếu cho công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với chất thải
rắn
1.2.1. Ngân sách Trung ương
Trong những năm gần đây, kinh tế đất nước không ngừng tăng trưởng, quá
trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ trên khắp cả nước, thu nhập bình quân của người
dân cả nước cũng thay đổi theo chiều hướng tăng lên, vì thế lượng chất thải rắn
phát sinh hằng ngày tăng lên về khối lượng và đa dạng về thành phần. Đây là vấn

sách thành phố dành cho công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với chất thải rắn
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 13

nhất là ở các đô thị lớn cũng có một vai trò quan trọng. Nó thể hiện một phần trách
nhiệm của thành phố trong bảo vệ môi trường.
1.2.3. Phí quản lý chất thải rắn
Phí là nguồn thu được thu trực tiếp từ người dân, tổ chức, doanh nghiệp nhằm
giảm bớt ngân sách cho Nhà nước. Một khi ngân sách Nhà nước được giảm bớt thì
chất lượng các dịch vụ khác sẽ được đảm bảo hơn bởi phần ngân sách này sẽ bù
qua.
Việc thu phí sẽ đóng góp vào một phần nguồn vốn trong công tác vệ sinh môi
trường đối với chất thải rắn, giúp cho việc quản lý chất thải rắn có khoa học, giảm
thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Việc thu phí góp phần vào việc nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân
trong việc quản lý chất thải rắn. Góp phần mang lại một cách sống văn minh cho
đất nước, hạn chế tình trạng vứt rác bừa bãi nơi công cộng, gây mất mỹ quan đô
thị.
Mức phí quản lý môi trường được quy định phụ thuộc vào điều kiện phát triển
kinh tế xã hội của thành phố.
1.3. Xã hội hoá dịch vụ công và xã hội hoá vệ sinh môi trường đô thị.
1.3.1.Xã hội hoá dịch vụ công.
Trong giai đoạn hiện nay thuật ngữ “xã hội hoá” được nhắc đến trong các lĩnh
vực như giáo dục, y tế… như là một xu hướng tất yếu của sự phát triển trong thời
kỳ kinh tế thị trường. Xã hội hoá không có nghĩa là quá trình tư nhân hoá mà là
quá trình Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhằm đem lại chất lượng của các dịch
vụ được tốt hơn, đáp ứng được nhu cầu của người dân.
1.3.1.1. Khái niệm xã hội hoá dịch vụ công.
Xã hội hoá dịch vụ công là quá trình chuyển giao các dịch vụ mà trước đây
do các cơ quan Nhà nước hay các đơn vị Nhà nước hoạt động trong các dịch vụ

thành và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Thứ hai các doanh nghiệp Nhà nước được sự trợ giúp ưu dãi của Nhà nước.
Các doanh nghiệp Nhà nước được sự ưu đãi của Nhà nước về mọi mặt mà không
ràng buộc trách nhiệm, lợi ích vật chất của doanh nghiệp được hưởng ưu đãi với
việc sử dụng nó một cách hiệu quả. Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công cộng
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 15

được hưởng nhiều ưu đãi hơn các doanh nghiệp kinh doanh thông thường, vì
chúng thực hiện các mục tiêu xã hội của Nhà nước.
Thức ba sự can thiệp quá mức của Nhà nước đến hoạt động của các đơn vị
cung ứng dịch vụ công. Các đơn vị cung ứng dịch vụ công về nguyên tắc phải chịu
sự chi phối về mọi mặt của Nhà nước về mọi mặt nhằm đảm bảo mục tiêu công
bằng xã hội cho người dân. Nhưng nhiều khi sự can thiệp của Nhà nước là quá
mức, làm cho các đơn vị này hoạt động không hiệu quả, chất lượng dịch vụ chưa
đảm bảo nhu cầu người dân.
- Sự thay đổi về mức sống: Do kinh tế của đất nước ngày càng tăng, thu
nhập bình quân đầu người tăng lên đã kéo theo mức sống người dân cũng tăng
theo nên nhu cầu của con người về chất lượng các dịch vụ công cũng tăng theo.
Trong khi đó chất lượng các dịch vụ công do khu vực công cung cấp không đáp
ứng đầy đủ nhu cầu, nên cần thiết phải có sự tham gia của các thành phần kinh tế
trong xã hội, để chất lượng dịch vụ ngày một được nâng cao.
-Sự thay đổi về khoa học công nghệ: Với sự phát triển vượt bậc của khoa
học công nghệ như hiện nay, việc tiếp cận các dịch vụ công vốn do Nhà nước cung
cấp của các doanh nghiệp tư nhân được dễ dàng hơn.
1.3.2. Xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với chất thải rắn.
1.3.2.1. Mục tiêu của xã hội hoá vệ sinh môi trường đô thị đối với chất thải
rắn.
 Giảm ngân sách cho Nhà nước trong việc quản lý chất thải rắn.
 Huy động mọi nguồn lực của nhân dân tham gia vào việc ngăn ngừa, hạn

chính thông qua giá dịch vụ hay góp vốn đầu tư ban đầu các trang thiết bị, phương
tiện cho quá trình hoạt động nhằm giảm bớt gánh nặng vốn ngân sách Nhà nước
trong hoạt động này; bảo đảm người dân được lợi từ các hoạt động dịch vụ vệ sinh
môi trường đô thị đối với chất thải rắn, tham gia, giám sát tạo các dịch vụ này
ngày một đa dạng hơn, chất lượng cao hơn, phù hợp với nhu cầu của cộng đồng.
1.4. Các công cụ được sử dụng trong quá trình xã hội hoá vệ sinh môi trường
đô thị đối với chất thải rắn.
1.4.1. Công cụ pháp lí.
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 17

Công cụ pháp lí là công cụ mang tính chất bắt buộc, được Nhà nước định ra
pháp luật,các tiêu chuẩn xã thải…về bảo vệ môi trường;các cơ quan quản lý Nhà
nước sử dụng quyền hạn của mình để giám sát,kiểm soát,thanh tra và xử phạt
những hành gây ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật.
Công cụ pháp lý có ưu điểm là đáp ứng được các mục tiêu Nhà nước đã đặt ra
về bảo vệ môi trường,quản lí chất thải rắn;giúp cho việc quản lí môi trường có
khoa học hơn;dự đoán được mức đô cũng như thành phần của từng nguồn thải từ
đó có những biện pháp giải quyết kịp thời.
Tuy nhiên, nó cũng có những nhược điểm là:công cụ pháp lí mang tính cứng
nhắc, không linh hoạt trong từng tình huống cụ thể nên đôi khi gây khó khăn trong
việc quản lí làm cho việc quản lí thiếu hiệu quả, chưa phát huy tính chủ động của
các cơ quan quản lí môi trường nên chất lượng quản lí môi trường chưa cao. Thêm
vào đó, công cụ pháp lí không mang tính khuyến khích nên không thu hút được sự
tham gia đông đảo của thành phần trong cả nước, khiến cho mọi người luôn cảm
thấy bắt buộc, họ chỉ thực hiện như là một nghĩa vụ.
1.4.1.1. Luật bảo vệ môi trường:
Luật bảo vệ môi trường của nước ta đã được Quốc hội lần thứ 11 sửa đổi,bổ
sung ngày 29 tháng 11 năm 2005. Luật này quy định trách nhiệm của chính quyền
các cấp, các cơ quan và mọi công dân trong việc bảo vệ môi trường, tuân thủ các

môi trường, nhằm hạn chế những chát thải độc hại được thải trực tiếp vào môi
trường đồng thời góp phần tạo ra ý thức cho các cơ sở sản xuất với công tác bảo
vệ môi trường xung quanh.
1.4.1.4. Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Trong những năm trở lại đây vấn đề môi trường được chú ý nhiều hơn,do đó
công tác đánh giá tác động môi trường đã phát triển nhanh chóng ở trung ương và
địa phương, góp phần quan trọng trong việc quản lý môi trường ở nhiều ngành và
nhiều cơ sở sản xuất.
Việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường dựa trên hệ thống các
tiêu chuẩn môi trường của Bộ tài nguyên và môi trường.Việc thẩm định báo cáo
đánh giá tác động môi trường được thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm phát
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 19

hiện và xử lý những trường hợp gây tác động xấu đến môi trường. Đồng thời có
những biện pháp khắc phục những tác động không tốt đó để cải thiện môi trường.
1.4.1.5. Kiểm soát nguồn thải gây ô nhiễm môi trường.
Đối với đô thị và khu công nghiệp,nguồn thải chính gây ra ô nhiễm môi
trường là từ nguồn thải từ các cơ sở sản xuất, bệnh viện và các cơ sở y tế,sinh hoạt
hằng ngày của người dân.
Kiểm soát nguồn thải chính là kiểm soát ”cuối đường ống” của quá trình sản
xuất tức là kiểm soát nguồn thải chất thải rắn,thành phần nguồn thải nguy hại gây
ô nhiễm môi trường.Từ đó có những biện pháp xử lý,cải thiện môi trường.
Việc kiểm soát môi trường được cơ quan quản lý môi trường tiến hành.Kiểm
soát môi trường sẽ giúp cho việc quản lý chất thải rắn được dễ dàng hơn, đồng
thời phát hiện và xử lý những trường hợp gây ô nhiễm môi trường.
1.4.2.Công cụ kinh tế.
Bên cạnh những công cụ mang tính chất bắt buộc như công cụ pháp lí còn có
công cụ kinh tế, đó là những khoảng phí đánh vào kinh tế, để điều chỉnh hành vi
của mỗi người. Các công cụ kinh tế này sử dụng nguyên tắc”người gây ô nhiễm

sử dụng, sảm phẩm này có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Đây là công cụ khó
sử dụng, vì thành phần của chất thải rắn nhất là các chất vô cơ, hoá chất phức tạp,
mỗi chất ảnh hưởng đến môi trường với tốc độ khác nhau, nên rất khó để xác định
mức lệ phí riêng cho từng sản phẩm.
1.4.2.4. Lệ phí hành chính.
Các lệ phí hành chính là các phí phải trả cho các doanh nghiệp Nhà nước nếu
các cá nhân, tổ chức có những hành vi vi phạm các điều khoản trong Luật bảo vệ
môi trường. Lệ phí hành chính sẽ răng đe với những hành vi gây ô nhiễm môi
trường, coi thường Luật
Tuy nhiên với điều kiện kinh tế của Việt Nam hiện nay, việc áp dụng hết tất
cả các công cụ kinh tế này trong khâu quản lý chất thải rắn là một vấn đề khó
khăn. Chỉ mới áp dụng công cụ phí đối với người tiêu dùng lệ phí hành chính,, phí
đối với người tiêu dùng vừa có tác dụng răn đe đối với những hành vi vi phạm
hành chính, vừa góp phần nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ môi trường
trong đó có bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 21

1.5. Một số kinh nghiệm xã hội hoá vệ sinh môi trường đô thị đối với chất thải
rắn của các nước trên thế giới:
- Ở Singapore:
Tiến hành phân loại rác tại nguồn bằng cách đặt các thùng đựng rác có đủ
màu trong các khu dân cư.
Tái sử dụng và tái chế các rác thải thành các thành phẩm cho những mục đích
sử dụng khác. Khuyến khích sử dụng những sản phẩm có khả năng tái chế, tái sử
dụng.
Có chính sách khuyến khích đối với những doanh nghiệp có những hành vi
thân thiện với môi trường. Bằng những giải thưởng có giá trị về mặt kinh tế và cả
danh tiếng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được tiếp cận với công nghệ sạch
- Ở Nhật Bản:
Chương II:Thực trạng và hoạt động thu-chi trong công tác vệ sinh môi
trường đô thị đối với chất thải rắn tại thành phố Đà Nẵng.
2.1.Tổng quan về công tác vệ sinh môi trường đô thị đối với chất thải rắn tại
thành phố Đà Nẵng.
2.1.1. Nhu cầu vệ sinh môi trường đô thị đối với chất thải rắn tại Đà Nẵng.
Đà Nẵng có vị trí địa lý thuận lợi nên trong những năm trở lại đây kinh tế Đà
Nẵng có những bước tăng trưởng đáng khích lệ. Nằm ở vào trung độ của đất nước,
trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường
hàng không, Đà Nẵng chỉ cách Thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố
Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam. Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung điểm của 3 di
sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn.
Trong phạm vi khu vực và quốc tế, Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan
trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma
đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây với điểm
kết thúc là Cảng biển Tiên Sa. Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển
và đường hàng không quốc tế. Tận dụng được những lợi thế mà tự nhiên ban tặng,
trong những năm gần đây kinh tế-xã hội của Đà Nẵng đã có bước phát triển vượt
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 23

bậc, tốc độ tăng trưởng kinh tế-xã hội năm 2006 GDP (giá so sánh 94) ước tăng
12,2% so với năm 2005, trong khi đó cả nước tăng 8,2%.
Đà Nẵng đã trở thành đơn vị trực thuộc Trung ương, được công nhận là đô thị
loại I, cán bộ và nhân dân Đà Nẵng đang ra sức “ xây dựng thành phố Đà Nẵng trở
thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế-xã hội lớn của
Miền Trung với vai trò trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ”
(trích Nghị quyết số 33/NQ-TW của Bộ Chính trị). Để làm được điều này, việc tạo
cho thành phố có được mỹ quan sạch đẹp, trong khi khối lượng chất thải rắn phát

- Sở Tài nguyên và môi trường: Là cơ quan chuyên môn tham mưa giúp
UBND cấp tỉnh, thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên
đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn.
 Tổ chức kiểm tra, giám sát chất lượng môi trường, lập báo cáo hiện
trạng môi trường, thẩm định và báo cáo đánh giá môi trường của các dự
án, các cơ sở theo phân cấp.
 Phối hợp với Sở Giao thông công chính, Công ty Môi trường đô thị tiến
hành kiểm tra, giám sát môi trường.
 Tham mưu cho UBND thành phố kế hoạch xây dựng, vận hành các nhà
máy, các khu xử lý chất thải trên địa bàn thành phố.
 Tham mưu cho UBND thành phố trong công tác thu phí bảo vệ môi
trường theo quy định của Nhà nước.
 Phối hợp với UBND các quận, huyện và các đơn vị liên quan giải quyết
tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề.
 Kiểm tra, xử lý theo quy định đối với những hành vi vi phạm hành
chính trong lĩnh vực môi trường với mức phạt 200.000.000đ.
- Công ty Môi trường đô thị trực thuộc Sở Giao thông công chính thành phố
Đà Nẵng là đơn vị hoạt động công ích, cung cấp các dịch vụ thuộc công tác quản
lý chất thải rắn và vệ sinh môi trường đô thị cho nhân dân thành phố.
 Thường xuyên cung cấp những thông tin về hiện trạng cho Sở Tài
nguyên và Môi trường, Sở Giao thông công chính.
- UBND các quận, huyện:
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:Trần Thị Dung Trang 25

 Phối hợp với Sở tài nguyên và môi trường,công ty Môi trường đô thị
thực hiện, phổ biến, hướng dẫn các biện pháp quản lý chất thải rắn.
 Phát hiện và xử phạt đối với những hành vi vi phạm hành chính trong
lĩnh vực môi trường với mức phạt 700.000đ.
- UBND các phường, xã:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status