Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bảo vệ môi trường đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu có ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của các quốc gia và cả thế giới. Sự phát triển
kinh tế xã hội cùng với quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã đặt ra những
yêu cầu bức xúc về quản lý chất thải sinh hoạt đô thị. Một trong những nội dung
được Đảng và Nhà Nước hết sức quan tâm là hoạt động thu gom và xử lý chất thải
rắn trong sinh hoạt như thế nào để vừa nâng cao hiệu quả kinh tế vừa đảm bảo môi
trường. Để giải quyết vấn đề này, nhiều địa phương đã tổ chức các mô hình thu
gom và xử lý rác khác nhau tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, thể hiện
tính xã hội hóa cao.
Thanh Trì là một huyện ngoại thành, nằm ở cửa ngõ phía Nam của Thủ đô Hà
Nội. Trong những năm qua, cùng với quá trình hội nhập, phát triển kinh tế xã hội
huyện Thanh Trì đã và đang từng bước chuyển mình phát triển kinh tế tập trung,
điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực từ nông nghiệp sang công nghiệp và
dịch vụ, thu hút nhiều lao động tự do từ các vùng lân cận khiến cho mật độ dân số
ngày càng cao làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường, đặc biệt là vấn đề rác thải.
Cùng với quá trình đô thị hóa và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nên quỹ đất bị thu hẹp
dần, không còn đủ để phục vụ cho công tác chôn lấp rác tại chỗ. Thực tế rác thải
chủ yếu đổ lộ thiên tại các hố đấu, ao, hồ, hoặc ven các trục đường giao thông gây
mất vệ sinh môi trường ảnh hưởng tới sức khỏe nhân dân. Trước tình hình trên
nhằm thực hiện tốt công tác duy trì vệ sinh môi trường, đảm bảo sức khỏe người
dân, giữ gìn cảnh quan đô thị đồng thời thu hút khả năng và tiềm lực kinh tế của
nhân dân về công tác vệ sinh môi trường, tôi đã quyết định chọn đề tài: Xã hội hóa
công tác vệ sinh môi trường trong quản lý rác thải tại huyện Thanh Trì – Hà
Nội.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Phương pháp nghiên cứu:
* Phương pháp điều tra thực địa: Thu thập thông tin cần thiết từ cơ quan chức
mô hình cộng đồng tự quản thực hiện trên địa bàn huyện Thanh Trì.
4. Kết cấu của đề tài
Báo cáo chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận được chia làm 3 phần
Phần 1: xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường trong quản lý rác thải
Phần2: Hiện trạng công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện Thanh Trì
Phần 3: Đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình, đề xuất một số giải pháp và
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện mô hình.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của PGS.TS. Lê Thu Hoa, cán bộ hướng
dẫn Nguyễn Duy Thuận và tập thể cán bộ công nhân viên huyện Thanh Trì đã
giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1: XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
TRONG QUẢN LÝ RÁC THẢI
1.1. Xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường
1.1.1 Các quan niệm về xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường
Xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường (VSMT) là một phần rất quan trọng
trong chiến lược bảo vệ môi trường (BVMT) và phát triển bền vững (PTBV) mà
Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm.
BVMT bao gồm nhiều vấn đề như ô nhiễm không khí, ô nhiễm biển và đại
dương, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm tài nguyên đất, đa dạng sinh học,… nhận
thức được tầm quan trọng của công tác BVMT đối với sự PTBV của đất nước,
Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều biện pháp thiết thực nhằm khôi phục và cải
thiện tình trạng môi trường hiện nay. Nhưng môi trường là một lĩnh vực rộng lớn,
ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tất cả mọi người. Nếu chỉ dựa vào Nhà nước
thì không đem lại hiệu quả lâu bền được mà đòi hỏi phải có sự hợp tác của cả cộng
đồng. Xã hội hóa BVMT là sự kết hợp hài hòa vai trò của cộng đồng và sự quản lý
của Nhà nước vào các mặt hoạt động trong lĩnh vực môi trường. Tạo điều kiện để
các cá nhân, tổ chức các thành phần kinh tế tham gia góp sức vào bảo vệ môi
trường, chia sẻ bớt gánh nặng và trách nhiệm với Nhà nước, để Nhà nước có điều
mặt và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân, BVMT là trách nhiệm và nghĩa
vụ chung của cả cộng đồng.
Xã hội hóa BVMT được xem xét chủ yếu trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển
và xử lý rác thải để giải quyết vấn đề rác thải sinh hoạt đang ngày càng trở nên bức
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thiết ở các quận, huyện. Nhằm khuyến khích sự đóng góp của người dân giảm sự
hỗ trợ của ngân sách Nhà nước.
1.1.2 Mục tiêu của xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường
1.1.2.1 Về mặt xã hội
- Tạo điều kiện để người dân thực sự làm chủ và có trách nhiệm bảo vệ môi
trường sống của mình và cộng đồng, góp phần nâng cao ý thức giữ gìn môi trường
trong nhân dân. BVMT là trách nhiệm chung của cả cộng đồng, BVMT chỉ có thể
đạt được hiệu quả cao khi mọi người ý thức vai trò và tầm quan trọng của môi
trường. Từ đó BVMT mới trở thành quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người dân, họ
thực sự làm chủ, có trách nhiệm tham gia trực tiếp BVMT sống của mình và cộng
đồng. Xã hội hóa công tác VSMT chính là xã hội hóa công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý rác thải là một mảng trong xã hội hóa công tác BVMT. Vì vậy Nhà
nước cần có các chính sách, giải pháp nhằm khuyến khích sự tham gia của mỗi
người dân vào công tác BVMT.
- Thực hiện xã hội hóa công tác BVMT nhằm nâng cao trách nhiệm của toàn
dân đối với các vấn đề liên quan đến môi trường. Vì vậy công tác xã hội hóa
BVMT sẽ tạo ra động lực khuyến khích các tổ chức, cá nhân, thành phần kinh tế có
thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp dưới các hình thức như: tuyên truyền giáo dục
ý thức BVMT, tham gia giữ gìn VSMT làng xóm, địa phương, thành lập các tổ vệ
sinh viên, các công ty,… đảm nhận các khâu thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải
làm cho đường phố, ngõ xóm, khu dân cư…..luôn sạch sẽ, không để rác phế thải
rồn động, lưu cữu góp phần làm cho môi trường trở nên xanh, sạch , đẹp.
1.1.2.2. Về mặt kinh tế
- Thực hiện xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải làm
tổ chức, các thành phần kinh tế tham gia vào các lĩnh vực BVMT. Đặc biệt là công
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện
các mục tiêu trong quản lý rác thải, nâng cao chất lượng môi trường tạo công ăn
việc làm và thu nhập cho một bộ phận dân cư địa phương, từng bước giảm dần bao
cấp của Nhà nước, huy động các nguồn lực hiện có trong dân để góp phần làm tốt
công tác vệ sinh môi trưòng, tạo điều kiện thực hiện nhất quán giữa Nhà nước,
chính quyền và người dân địa phương trong việc thực thi các chương trình, kế
hoạch, chủ trương, chương trình về môi trường.
1.1.3. Nhiệm vụ của xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường
1.1.3.1. Phổ biến, giáo dục ý thức người dân trong công tác vệ sinh môi trường
Chất lượng môi trường phần lớn phụ thuộc vào ý thức của cộng đồng. Do đó
Nhà nước cần tập trung vào công tác nâng cao nhận thức cộng đồng một cách mạnh
mẽ. Cần khuyến khích và đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa đối với công tác vệ
sinh môi trường trên toàn quốc. Đặc biệt nước ta đã trải qua thời kỳ bao cấp mặc dù
Nhà nước đã có nhiều cố gắng đổi mới, cải cách nhưng người dân vẫn còn mang
nặng tính trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Chính vì vậy công tác tuyên truyền, giáo
dục nâng cao ý thức người dân về BVMT là rất cần thiệt đặc biệt trong công tác xã
hội hóa về thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải nó trở thành công việc chung của
cả xã hội.
1.1.3.2. Khuyến khích và đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa công tác vệ sinh môi
trường
- Lập các chương trình xây dựng xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường trong
quản lý rác thải gồm các khâu thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải phù hợp với
trình độ, khả năng của từng đối tượng tham gia như cơ quan, trường học, người
dân, cơ sở sản xuất kinh doanh…..
- Phát động các đợt thi đua nhân các ngày lễ, tết, ngày nghỉ nhằm xây dựng các
tuyến đường xanh, sạch, đẹp do nhân dân tự quản…
mạnh dạn đổi mới phương thức quản lý, không ôm đồm những việc mà các chủ thể
các thành phần kinh tế khác có thể thực hiện được trong tầm kiểm soát của Nhà
Nước, đa dạng hóa hình thức chuyển giao, ngoài hình thức ký hợp đồng giao thầu
có thể nghiên cứu, thực hiện các hình thức chuyển giao khác như đấu thầu cung
ứng dịch vụ toàn bộ, đấu thầu cung ứng dịch vụ theo công đoạn hoặc theo địa bàn
và thực hiện cổ phần hóa, cho thuê, bán doanh nghiệp Nhà Nước đang thực hiện
dịch vụ vệ sinh môi trường…. Trước đây Nhà Nước với tư cách là tổ chức pháp
nhân duy nhất cung ứng loại dịch vụ này thì nay Nhà Nước cần đưa ra các chính
sách, cơ chế tạo động lực khuyến khích các cá nhân, tổ chức , thành phần kinh tế
tham gia vào quá trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải chuyển dần vai trò
sang cho tư nhân, các thành phần kinh tế, người dân. Ngược lại khi có sự tham gia
của các cá nhân, các tổ chức, các thành phần kinh tế sẽ huy động được một nguồn
vốn lớn hiện có trong dân, lực lượng tham gia đông đảo chính những yếu tố quan
trọng này đã quyết định đến hiệu quả thành công của công tác xã hội hóa vệ sinh
môi trường về thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải. Vì vậy cần có sự đồng bộ
nhất quán trong các chính sách quản lý rác thải điều đó sẽ khuyến khích, tạo động
lực để cộng đồng tham gia vào lĩnh vực hoàn toàn mới này công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý rác thải.
1.1.4. Hiệu quả của xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường
- Xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường phát huy được sức mạnh của nhân
dân trong việc đóng góp kinh phí có thể làm tăng nguồn vốn dự trữ cho Nhà nước.
- Xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường đã đạt được hiệu quả về mặt kinh tế,
môi trường, xã hội do đó khuyến khích các cá nhân, tổ chức, các thành phần kinh tế
tham gia vào làm giảm chi phí đầu tư từ ngân sách Nhà Nước cho công tác vệ sinh
môi trường.
- Xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường đã tạo thêm các cơ hội mới về việc
làm cho người lao động, tăng thu nhập và mức sống cho họ.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường đã có tác dụng nâng cao tích tự lực
- Chất thải bệnh viện: là các chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn
ở các bệnh viện, trạm y tế….
1.2.3. Hiện trạng quản lý rác thải
Các quốc gia, cùng với xu hướng phát triển nhanh và khả năng tiêu thụ hàng
hóa nhiều hơn, đang sản sinh ra một lượng rác lớn chưa từng có. Trong khi đó, hầu
hết các nước đều chưa chú trọng các giải pháp và công nghệ xử lý rác thải. Nước ta
sau hơn 15 năm đổi mới, cùng với sự tăng trưởng không ngừng của nền kinh tế, tốc
độ tăng GDP 7 – 8%, khối lượng chất thải rắn tại các khu công nghiệp tăng lên
không ngừng theo tốc độ đô thị hóa, phát triển công nghiệp, cũng như mức tăng
dân số. Tình trạng thu gom và xử lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp
ở nước ta mặc dù đã được cải thiện đáng kể, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
phát triển đô thị hiện nay. Hầu hết rác thải không được phân loại nguồn thu mà thu
lẫn lộn tỷ lệ thu gom chất thải rắn tính chung toàn quốc vào khoảng 70%. Thực
trạng này cùng với sự thiếu ý thức của người dân đang gây ra những thảm họa sinh
thái. Hà Nội, cùng với sự bùng nổ nhanh về kinh tế, đang phải đương đầu với
những thách thức thực sự về môi trường. Hiện trung bình một cư dân Hà Nội thải
ra khoảng 0.85kg rác mỗi ngày. Con số này dự tính sẽ lên tới 1.3kg khi thị trường
tiêu thụ của thủ đô còn phát triển nhanh hơn nữa cho đến cuối thập niên này. Bãi
rác chính Nam Sơn của Hà Nội mới được đưa vào sử dụng 7 năm nay nhưng đã
phải mở rộng tới 43ha để có thể chứa được số lượng rác khổng lồ của thủ đô. Trong
tổng số 900.000 tấn rác thải hàng năm của Hà Nội, chỉ có 50.000 tấn được tái chế.
Còn tại Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi người dân thải ra trung bình tới 1kg rác mỗi
ngày, 10% trong số này được quẳng xuống các kênh rạch trên địa bàn.
Qúa trình đô thị hóa diễn ra quá nhanh, vượt trước dự báo, không theo quy
hoạch và do quản lý không tốt nên môi trường đang bị ô nhiễm nặng nề, lượng rác
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thải ngày một tăng. Tùy vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường… của
từng địa phương để lựa chọn mô hình tổ chức quản lý cho phù hợp vừa đảm bảo
phát triển kinh tế, vừa đảm bảo sức khỏe cộng đồng đồng thời giảm chi từ ngân
nghĩa vụ của mọi người dân. Kết hợp hài hòa vai trò của nhân dân, các thành phần
kinh tế và sự đầu tư của Nhà Nước nhằm đảm bảo hiệu qủa cao trong quản lý rác
thải.
1.3.2. Các mô hình tham gia thực hiện xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường ở
nước ta
Hiện nay môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị ô nhiễm và bị suy thoái, có nơi
nghiêm trọng…Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường Đảng
và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều biện pháp thiết thực nhằm khôi phục và cải thiện
tình trạng môi trường hiện nay. Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là tăng
nguồn ngân sách đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Một trong những biện
pháp hữu hiệu nhất là tăng nguồn ngân sáh đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường.
Việt Nam đang trong quá trình CNH – HĐH đất nước ngân sách Nhà nước còn hạn
chế, phải san sẻ cho nhiều lĩnh vực đầu tư cho công tác BVMT vẫn chưa được thỏa
đáng. Vì vậy việc huy động sự đóng góp của cộng đồng trong việc giải quyết các
vấn đề môi trường là rất cần thiết, phải coi bảo vệ môi trường là quyền lợi và trách
nhiệm của cả cộng đồng.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường Nhà nước chuyển dần vai trò của mình
từ quản lý và điều hành trực tiếp hoạt động phát triển đất nước sang chức năng
hoạch định, giám sát và điều phối chính sách phát triển. Bên cạnh tác nhân xã hội
Nhà nước và tác nhân mới cộng đồng dân cư địa phương và tổ chức xã hội thì thị
trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi các hành vi của cơ sở sản
xuất cụ thể là sự tham gia của các thành phần kinh tế, các công ty, doanh nghiệp…
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Với sự tham gia của ba yếu tố cơ bản: Nhà nước, thị trường, cộng đồng trong
công tác xã hội hóa BVMT cụ thể là XHH công tác thu gom, vận chuyển và xử lý
rác thải. Người ta đã đưa ra ba mô hình: mô hình doanh nghiệp quốc doanh, mô
hình ngoài quốc doanh và mô hình cộng đồng tự quản trong công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý rác thải. Tùy vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường…
của từng địa phương để lựa chọn mô hình tổ chức quản lý cho phù hợp, việc xây
nên tính khả thi thực hiện các phương án còn chậm trễ chủ yếu mang tính trông
chờ, ỷ lại. Khả năng cung cấp các dịch vụ VSMT của các doanh nghiệp quốc doanh
chỉ giới hạn ở một mức độ nhất định, không thể cung cấp cho mọi đối tượng. Cụ
thể chỉ đảm nhận được công tác VSMT các khu vực thành phố, thị trấn, thị tứ còn ở
khu vực nông thôn chỉ tham gia hướng dẫn thực hiện về kỹ thuật. Tuy nhiên hình
thức hoạt động, phương thức quản lý vẫn còn nhiều lúng túng, chưa đạt hiệu quả
cao.
- Bên cạnh đó, do không có yếu tố cạnh tranh nên các doanh nghiệp công ích
thường không chú ý tới việc giảm chi phí, hạ giá thành và nâng cao hiệu quả hoạt
động. Cách tổ chức cung ứng dịch vụ như vậy không thực sự khuyến khích doanh
nghiệp, chưa gắn trách nhiệm của doanh nghiệp với công việc được giao.
1.3.2.2. Mô hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Ở nước ta, việc chuyển giao một số dịch vụ như vận tải công cộng, giáo dục, y
tế… cho khu vực tư nhân cũng đã từng được thực hiện. Tuy nhiên, việc cung ứng
dịch vụ VSMT đô thị một loại hình dịch vụ công cộng hết sức cần thiết trong đời
sống xã hội hiện nay vẫn do khu vực kinh tế quốc doanh đảm nhiệm. Việc tham gia
của khu vực tư đã bước đầu đem lại hiệu quả.
- Mô hình công ty tư nhân thu gom rác thải ở Đồng Nai hiệu quả
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Doanh nghiệp dịch vụ VSMT công cộng Trúc Anh ở thị xã Long Khánh, tỉnh
Đồng Nai do Anh Đỗ Khắc Long làm chủ sau 6 năm hoạt động đã khẳng định hiệu
quả trong việc huy động tư nhân tham gia công tác VSMT, tạo dựng được uy tín
với nhân dân địa phương.
Với sự cần cù, chịu khó của đội ngũ công nhân làm công tác thu gom rác thải
sinh hoạt, hiện nay công ty đã ký hợp đồng thu dọn rác với hơn 5.000 hộ trong nội,
cộng với các hợp đồng với các cơ quan, đơn vị, lượng rác doanh nghiệp thu gom
mỗi ngày lên tới hơn 50 tấn, chiếm khoảng 65% lượng rác thải của thị xã. Doanh
nghiệp hiện có 2 bãi chôn rác biệt lập ở nông trường An Lộc để xử lý rác.
Từ 19 lao động ban đầu, doanh nghiệp đã tuyển thêm gần 60 lao động trong
lượng rác thải tồn đọng ngày càng giảm. Bãi đổ rác tập trung đã được đưa ra trung
tâm thành phố và có những thiết bị xử lý ban đầu, hạn chế được tình trạng ô nhiễm
môi trường. Công ty còn tận dụng bãi rác đã chôn lấp để trồng trên 70 ha rừng với
nhiều loại cây có giá trị cao như hồi, thông…
Có thể đánh giá đây thực sự là một mô hình hoạt động có hiệu quả trong
lĩnh vực cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường. Trong năm 2007, doanh thu của đơn
vị đạt 11 tỉ đồng, lợi nhuận 239 triệu, nộp ngân sách 70 triệu đồng, thu nhập bình
quân đầu người 1,5 triệu đồng/người/tháng.
Sự thành lập một mô hình mới trong thực hiện chuyển giao dịch vụ vệ
sinh môi trường là phù hợp với xu thế đổi mới, nhằm mục tiêu tinh giản bộ máy
hành chính, đổi mới quản lý doanh nghiệp, góp phần đa dạng hóa các hình thức
cung ứng dịch vụ công cộng, tận dụng được các nguồn lực kinh tế từ khu vực ngoài
quốc doanh, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Đánh giá trên nhiều
mặt, việc áp dụng mô hình này thực sự là một phương thức đem lại hiệu quả cao,
cần được tiếp tục hoàn thiện và nhân rộng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nước trong giai đoạn mới, khắc phục tình trạng Nhà nước ôm đồm trong cung ứng
các dịch vụ công cộng.
1.3.2.3 Mô hình cộng đồng tự quản
Trong giai đoạn hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, trong điều
kiện mới, các chức năng và phương thức hoạt động của Nhà nước cũng có nhiều
thay đổi, việc tham gia của cộng đồng vào các hoạt động thuộc chức năng của Nhà
nước đã phổ biến. Đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng vào lĩnh vực VSMT.
- Đội thu gom rác dân lập phường Phú Cường
Được thành lập từ năm 1996, hiện nay đội gồm 12 công nhân và 1 đội
trưởng. Toàn phường Phú Cường có đến 147 hẻm, công việc hàng ngày của anh em
trong đội thu gom rác là phải đảm bảo không ô nhiễm rác thải bên trong các con
hẻm. Trung bình mỗi ngày anh em trong đội thu gom khoảng 12 – 15 tấn rác, mỗi
xe chở từ 5 – 8 chuyến. Rác sau khi được các công nhân của đội thu gom lại sẽ tập
Theo tính toán của tổ chức JICA của Nhật Bản, nếu thành phố Hà Nội đổi mới
phương pháp thu gom, xử lý rác thải theo sáng kiến 3R thì trung bình mỗi tháng tiết
kiệm được 4 tỷ đồng tự xử lý rác thải. Mô hình này trong thực tế đã được triển khai
thành công tại phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm trước đây 4 năm. Với
việc thực hiện dự án 3R, các hộ dân ở các phường trên sẽ được hướng dẫn cách
phân loại rác, được phát xô đựng rác hữu cơ bằng nhựa, có rọ lọc chất lỏng. Rác
hữu cơ sẽ được thu gom hàng ngày để xử lý làm phân vi sinh, còn rác vô cơ được
thu gom hai ngày/lần, đưa về chôn lấp tại bãi rác Nam Sơn. Ngoài ra, các gia đình
cũng sẽ được phát túi vải để đi chợ, hạn chế việc sử dụng túi ni – lông.
Hiệu quả bước đầu ở phường Phan Chu Trinh quận Hoàn Kiếm cho thấy, đối
với người dân, dự án 3R trước lạ sau quen. Thời gian đầu khi triển khai dự án này
tại phường, các tổ trưởng dân phố, Bí thư chi bộ, các bà, Chi hội phụ nữ thường
xuyên phải nhắc nhở nhưng nay người dân đã quen dần với việc phân loại rác, đổ
rác đúng giờ, đúng nơi quy định.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Từ hiệu quả bước đầu, công ty Môi trường đô thị lại tiếp tục chọn phường
Phan Chu Trinh để triển khai dự án, đến tháng 8 tới triển khai tại phường Nguyễn
Du, sau đó sẽ nhân rộng mô hình này trên toàn thành phố. Tuy nhiên, để dự án 3R
thực sự đi vào cuộc sống cần có sự hưởng ứng của cơ quan quản lý, cơ quan truyền
thông, đặc biệt mỗi người dân phải đồng lòng hưởng ứng, góp phần tiết kiệm “ tài
nguyên” và bảo vệ môi trường.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm về xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý
rác thải trên thế giới cho Việt Nam
Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về vai trò của Nhà nước trong hoạt động
quản lý môi trường nhưng những nghiên cứu này đều dựa trên một quan niệm
chung cho Nhà nước là tác nhân xã hội duy nhất đóng vai trò quản lý môi trường.
Trong khi lĩnh vực quản lý môi trường là vô cùng phức tạp, rộng lớn bao gồm
nhiều vấn đề như công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải… Vì vậy Nhà
nước đã không đủ nguồn lực để đáp ứng cho công tác quản lý môi trường như thiếu
chỉ có thể có được khi chiến lược, quy hoạch phải phù hợp với điều kiện và tập
quán của nhân dân, công tác truyền thông thông qua các chiến dịch phải được duy
trì thường xuyên và rộng rãi kết hợp giữa các bộ, các cấp chính quyền và các tổ
chức xã hội, đặc biệt là thanh niên và phụ nữ.
1.3.3.2. Nhật Bản
Hiện nay vấn đề môi trường là vấn đề mang tính toàn cầu, chính phủ các nước
đang tìm mọi cách để tìm ra phương án tối ưu để giải quyết vấn đề này. Đặc biệt là
vấn đề do ô nhiễm sản xuất công nghiệp gây nên. Nhật Bản là một nước đi đầu
trong việc bảo vệ môi sinh nhất là xử lý chất thải bởi sản xuất càng phát triển, chất
thải ngày càng nhiều. Những điều Nhật Bản đã và đang làm trong vấn đề xử lý rác
thải sẽ là những điều rất quý báu với Việt Nam, nếu chúng ta biết vận dụng kịp
thời, biến rác thành tài nguyên. Mỗi năm Nhật Bản thải ra khoảng 55 – 60 triệu tấn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
rác nhưng chỉ khoảng 5% trong số đó phải đưa đến bãi chôn lấp, còn phần lớn được
đưa đến các nhà máy để tái chế. Kinh nghiệm quản lý rác thải của Nhật Bản:
- Phân loại ngay tại thùng
Trên các thùng rác hai bên vệ đường có vẽ những loại rác được phép bỏ vào,
người dân rất tự nguyện bỏ rác đúng loại vào thùng như là một thói quen sinh hoạt.
- Sản xuất đi kèm tái chế
Việc thu gom rác ở Nhật cũng không giống như ở Việt Nam, chất thải từ hộ
gia đình thuộc trách nhiệm quản lý của Nhà nước, còn chất thải từ các công ty, nhà
máy… cho tư nhân đấu thầu hoặc các công ty do chính quyền địa phương chỉ định.
Một điều mà Nhật Bản làm rất chặt chẽ trong việc quản lý rác thải công nghiệp là
các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về rác thải của mình. Và
điều này được quy định bởi luật về bảo vệ môi trường.
- Khu công nghiệp sinh thái.
Từ năm 1991, chính phủ Nhật Bản chính thức khuyến khích tận dụng nguồn
tài nguyên từ rác thải tái chế, các công ty tái chế chất thải chủ yếu các mặt hàng
như bao bì, gỗ, đồ điện tử….Không những khuyến khích các công ty tái chế, tái sử
: Chi phí sản xuất
C
ql
: Chi phí quản lý
C
nc
= Lương + phụ cấp
Phụ cấp = Phụ cấp trung bình tháng của 1 công nhân x số công nhân x 12
C
sx
= C
cc
+ C
bh
C
cc
: Chi phí dụng cụ, phương tiện
C
bh
: Chi phí bảo hộ
C
ql
= 10% chi phí lương công nhân
1.4.1.2. Chi phí vận chuyển
C
vc
= C
kh
+ C
bd
C
xl
= M x B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
C
xl
: Chi phí xử lý
M: Khối lượng rác cộng đồng tự xử lý trong các đợt vệ sinh phong trào và mô hình
cộng đồng tự quản.
B: Chi phí xử lý trung bình 1 tấn rác theo đơn giá của Thành phố.
1.4.2. Về xã hội
- Ý thức người dân được cải thiện trong công tác vệ sinh môi trường quản lý
rác thải từ khâu thu gom, vận chuyển và xử lý.
- Tăng sự đóng góp và huy động các nguồn vốn hiện có trong dân.
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, người dân tham gia vào thực hiện
công tác xã hội hóa quản lý rác thải.
- Giải quyết thất nghiệp một vấn đề đang rất bức xúc hiện nay.
1.4.3. Về môi trường
- Môi trường Huyện Thanh Trì ngày càng được cải thiện chất lượng, hạn chế
tình trạng đổ rác và vứt rác bừa bãi.
- Nhiều xã được tiếp cận với dịch vụ vệ sinh này.