framework và ứng dụng cho bài toán tuyển sinh trực tuyến tại các trường đại học - Pdf 22

-i-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ FRAMEWORK VÀ ỨNG DỤNG CHO BÀI
TOÁN TUYỂN SINH TRỰC TUYẾN TẠI CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

THÁI NGUYÊN - 2013
-ii-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

PHẠM DUY HỌC
FRAMEWORK VÀ ỨNG DỤNG CHO BÀI TOÁN
TUYỂN SINH TRỰC TUYẾN TẠI
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Khoa học máy tính
Mã số: 60 48 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Nguyễn Văn Vỵ
Thái Nguyên – Năm 2013

-iii-


Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ FRAMEWORK 4
1.1. Khái niệm về framework 4
1.1.1. Định nghĩa về framework 5
1.1.2. Cấu trúc của một framework 6
1.1.3. Phân biệt framework với các khái niệm khác 8
1.1.4. Các đặc điểm của framework 10
1.2. Phân loại khung làm việc 11
1.2.1. Phân loại framework theo vùng vấn đề 11
1.2.2. Phân loại framework theo cấu trúc nội bộ 12
1.3. Các phƣơng pháp phát triển framework 14
1.3.1. Quy trình phát triển dựa trên các kinh nghiệm ứng dụng 14
1.3.2. Quy trình phát triển framework dựa trên phân tích miền vấn đề 15
1.3.3. Quy trình phát triển framework sử dụng các mẫu thiết kế 16
1.3.4. Quy trình phát triển framework chung 16
1.4. Giới thiệu khung làm việc Higgin Trust 18
1.4.1. Tổng quan về khung làm việc Higgin Trust 18
1.4.2. Các thành phần của Higgins 19
1.4.3. Mô hình dữ liệu của Higgins 23
1.5. Khung làm việc View-Model-Controler (VMC) 26
1
.5.1. MVC là gì? 26
1.5.2. Lịch sử MVC 26
1.5.3. Vai trò của các thành phần M-V-C trong Web framework 27
Chƣơng 2: MÔ TẢ NGHIỆP VỤ, ĐẶC TẢ BÀI TOÁN TUYỂN SINH TRỰC
TUYẾN TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC 32
2.1. Bài toán tuyển sinh và những vấn đề đặt ra 32
2.1.1. Nội dung các hoạt động tuyển sinh 33
2.1.2. Những vấn đề đặt ra cho hoạt động tuyển sinh 34
2.2. Giải pháp cho các vấn đề tuyển sinh đặt ra 35
-vi-

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
-vii-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt
Tên đầy đủ
Ý nghĩa
CBTS
Cán bộ tuyển sinh

CNĐKDT
Cập nhật hồ sơ đăng ký dự thi

ĐH & CĐ
Đại học và Cao đẳng

ĐHCNQN
Đại học Công nghiệp Quảng ninh

GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo

HĐTS
Hội đồng tuyển sinh

HSDK

Phòng đào tạo

QLHT
Quản lý hệ thống

QLTS
Quản lý tuyển sinh

QTHT
Ngƣời quản trị hệ thống

TBTS
Thông báo tuyển sinh

THKQ
Tổng hợp kết quả

TS
Thí sinh

XL HS
Xử lý hồ sơ đăng ký dự thi

XPT
Đánh số báo danh, phân cụm, xếp phong thi

XTS
Xét tuyển sinh, lên thông báo

-viii-

Hình 1.9: Kiến trúc Token Service 22
Hình 1.10: Mô hình MCV 27
Hình 2.1: Biểu đồ hoạt động của Xác định chỉ tiêu tuyển sinh 37
Hình 2.2: Biểu đồ hoạt động Công bố yêu cầu thi tuyển, tiếp nhận đăng ký thi 37
Hình 2.3: Biểu đồ hoạt động Công bố yêu cầu tuyển chọn, tiếp nhận đăng ký 38
Hình 2.4: Biểu đồ hoạt động Công bố kết quả và gửi kết quả tuyển sinh 38
Hình 2.5. Biểu đồ mô hình miền lĩnh vực tuyển sinh trực tuyến 40
Hình 2.6: Mô hình ca sử dụng mức cao 43
Hình 2.8: Biểu đồ ca sử dụng gói đăng ký dự thi mức chi tiết 44
Hình 2.9: Mô hình ca sử dụng gói xử lý hồ sơ đăng ký dự thi 44
Hình 2.10: Mô hình gói xử lý điểm thi 45
Hình 2.11: Mô hình miền gói tuyển sinh trực tuyến 55
Hình 3.1: Mô hình liên kết giữa các lớp trong gói đăng ký dự thi. 56
Hình 3.2: Biểu đồ cộng tác thực thi ca sử dụng Nhập mới hồ sơ đăng ký dự thi 56
Hình 3.3: Biểu đồ cộng tác thực thi ca sử dụng tìm kiếm hồ sơ đăng ký dự thi 57
Hình 3.4: Biểu đồ cộng tác thực thi ca sử dụng xoá hồ sơ đăng ký dự thi 57
Hình 3.5: Biểu đồ cộng tác thực thi ca sử dụng thống kê báo cáo 57
Hình 3.6: Mô hình liên kết giữa các lớp cẳt dụng tách hồ sơ theo cụm thi 57
Hình 3.7: Biểu đồ cộng tác thực thi ca sử dụng tách hồ sơ theo cụm thi 58
Hình 3.8: Biểu đồ cộng tác thực thi ca sử dụng lập danh sách phòng thi 58
Hình 3.9: Biểu đồ cộng tác thực thi ca sử dụng in giấy báo thi 58
Hình 3.10:Biểu đồ cộng tác thực thi ca sử dụng dồn túi 59
Hình 3.11: Biểu đồ cộng tác thực thi ca sử dụng cập nhật điểm 59
Hình 3.12: Biểu đồ cộng tác thực thi ca sử dụng tổng hợp điểm 59
Hình 3.13: Biểu đồ tuần tự cho thực thi ca sử dụng thêm hồ sơ 61
Hình 3.14: Biểu đồ tuần tự cho thực thi ca sử dụng tìm kiếm hồ sơ 61
Hình 3.15: Biểu đồ tuần tự cho thực thi ca sử dụng xoá hồ sơ 62
Hình 3.16: Biểu đồ tuần tự cho thực thi ca sử dụng sửa hồ sơ 62
Hình 3.17: Biểu đồ tuần tự cho thực thi ca sử dụng tách hồ sơ theo cụm thi 63
Hình 3.18: Biểu đồ tuần tự cho thực thi ca sử dụng lập danh sách phòng thi 63

thiết kế đã làm cho việc sử dụng lại trở lên phổ biến và rộng rãi cho những ai thực
hiện phát triển phần mềm hƣớng đối tƣợng. Tuy nhiên, các mẫu thiết kế thƣờng khó
sử dụng vì có mức độ trừu tƣợng hóa cao. Một hƣớng sử dụng lại thuận lợi hơn là
các khung làm việc (framework). Giống với các mẫu thiết kế, các khung làm việc
dành cho những lớp bài toán xác định nên dễ sử dụng hơn.
Phần lớn chi phí và các hoạt động liên tục trong phát triển phần mềm là tái tìm
kiếm và tái tạo tạo lại các thành phần cốt lõi. Đặc biệt do tính không đồng nhất của
các phần cứng, cùng với sự đa dạng của hệ điều hành và nền tảng truyền thông làm
cho khó khăn để xây dựng đƣợc chính xác các ứng dụng với mỗi điều kiện cụ thể.
Vì thế cần xây dƣng các phần mêm sao cho dễ dàng thích nghi, thay đổi, hiệu quả
và ít tốn kém từ các khoản đầu tƣ.
Mô hình khung làm việc hƣớng đối tƣợng là công nghệ hƣớng đến làm giảm
chi phí, thời gian và nâng cao chất lƣợng của phần mềm bằng cách sử dụng lai. Sử
dụng khung làm việc là tái sử dụng “phần cốt lõi” của một lớp bài toán đã đƣợc xây
dựng sẵn, sau đó sửa đổi, làm thích nghi nó và bổ sung những thành phần còn thiếu
để đƣợc một ứng dụng đầy đủ cho bài toán cụ thể thuộc về lớp bài toán đã cho.
-2-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Khung làm việc dựa trên phân tích thiết kế hƣớng đối tƣợng và sử dụng tối đa
các mẫu có khả năng thích nghi cao khi tính đến các tình huống có thể xẩy ra của
lớp các bài toán cụ thể sẽ gặp. Nhờ vậy mà ta có thể giải quyết đƣợc nhiều bài toán
thực tế thuộc lớp một cách nhanh chóng và hiệu quả. Ngày nay tuyển sinh là công
việc thƣờng xuyên và quan trọng của nhiều trƣờng đại học và cao đẳng. Trong điều
kiên quản lý đào tạo có nhiều thay đổi, nhà trƣờng cần thích ứng với các yêu cầu
quản lý nhƣ vậy đang nảy sinh và cần có hình thức tuyển sinh thích hợp trong điều
kiện canh tranh. Vì vậy đề tài “Framework và ứng dụng cho bài toán tuyển sinh
trực tuyến tại các trường Đại học” đã đƣợc tôi chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp
của mình.

− Chương 4: Cài đặt và thử nghiệm bài toán tuyển sinh trực tuyến
Lựa chọn môi trƣờng va ngôn ngữ cài đặt, chuyển thiết kế thành chƣơng trình
và chạy thử nghiệm với các dữ liệu thực
− Kết luận: Nêu ra những kết quả đã thực hiện trong luận văn và hƣớng phát
triển tiếp tục nâng cấp và mở rộng ứng dụng đề tài vào thực tiễn trong tƣơng
lai.
-4-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ FRAMEWORK
Trong một vài thập niên gần đây, việc sử dụng lại phần mềm đã và đang là
một vấn đề quan trọng cho các tổ chức phát triển phần mềm. Đầu tiên, phần mềm
đƣợc sử dụng lại dƣới hình thức là các thƣ viện hàm API hay các thƣ viện lớp. Tiếp
theo, các nhà phát triển nhận thấy không chỉ cần sử dụng lại các đoạn mã mà còn
cần phải sử dụng lại cả các thiết kế của phần mềm. Do vậy, đã xuất hiện khái niệm
về mẫu thiết kế (design pattern) và khung làm việc (framework). Các mô tả chi tiết
về mẫu thiết kế sẽ đƣợc trình bầy trong một chủ đề khác. Nội dung của phần này
của luận văn sẽ chỉ trình bầy về khung làm việc và phạm vi ứng dụng của nó.
1.1. Khái niệm về framework

phần mềm có thể sử dụng lại, bao gồm cả thiết kế và mã thực hiện đƣợc. Tuy nhiên,
lại không có định nghĩa nào đƣợc thống nhất chung về framework và các thành
phần hợp thành của nó.
Sau đây là một số các định nghĩa khác nhau hoặc tƣơng tự nhau về framework
đƣợc nêu ra:
“Một framework ràng buộc các lựa chọn chính xác về sự phân chia trạng thái
và luồng điều khiển, ngƣời dùng hoàn thiện hoặc mở rộng framework để tạo ra một
ứng dụng thực tế”
“Một framework là một tập các lớp mà bao gồm một thiết kế trừu tƣợng cho
các giải pháp của một hoặc các vấn đề liên quan”
“Một framework là một tập các đối tƣợng mà cộng tác với nhau để tạo ra một
tập các đáp ứng cho một ứng dụng hoặc một vùng hệ thống con”
“Một framework là một tập các ký hiệu của các lớp cộng tác mà đạt đƣợc cả
các mẫu phạm vi nhỏ và các cơ chế chủ yếu để thực hiện các yêu cầu chung và thiết
kế trong một phạm vi ứng dụng cụ thể”
“Một tập các lớp cộng tác với nhau mà tạo ra một thiết kế có thể sử dụng lại
cho một lớp cụ thể của phần mềm. Một framework cung cấp các hƣớng dẫn có tính
kiến trúc bằng cách phân chia thiết kế thành các lớp trừu tƣợng và định nghĩa các
-6-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đáp ứng và sự cộng tác của chúng. Một nhà phát triển tùy biến framework thành
một ứng dụng cụ thể bằng cách tạo ra các lớp con và tạo ra các phiên bản của các
lớp framework”
Nhƣ vậy, một framework bao gồm một tập các lớp mà các thể hiện của chúng
cộng tác với nhau, đƣợc dự định để mở rộng, sử dụng lại cho các ứng dụng cụ thể
của một lĩnh vực. Một họ các vấn đề liên quan, cho phép tổng hợp trong một
framework. Hơn nữa, các framework đƣợc biểu diễn thành một ngôn ngữ lập trình,
nhƣ vậy nó cung cấp cho việc sử dụng lại cả mã thực hiện và thiết kế.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Các thành phần của một framework bao gồm:
Các tài liệu thiết kế: thiết kế của một framework có thể bao gồm các lƣợc đồ
lớp, viết bằng văn bản hoặc chí ít là một ý tƣởng trong đầu của nhà phát triển.
Các giao diện: các giao diện mô tả sự đáp ứng với bên ngoài của các lớp. Các
giao diện có thể đƣợc sử dụng để mô hình hóa các vai trò khác nhau trong hệ thống,
ví dụ nhƣ các vai trò trong một mẫu thiết kế. Một vai trò đại diện cho một nhóm các
phƣơng pháp trong giao diện mà liên quan tới các phƣơng pháp do các phần khác
thực hiện.
Các lớp trừu tượng: một lớp trừu tƣợng là một sự thực hiện chƣa đầy đủ của
một hoặc nhiều giao diện. Nó có thể đƣợc sử dụng để định nghĩa cách ứng xử của
một số các thành phần thực hiện một nhóm các giao diện.
Các thành phần: Giống nhƣ các lớp, các thành phần có thể đƣợc tích hợp với
các lớp khác. Trong hình vẽ, có một mũi tên “là một phần của” giữa các lớp và các
thành phần. Nếu bản thân các lớp có một API đƣợc định nghĩa đầy đủ thì tập kết
quả của các lớp sẽ đƣợc biểu hiện nhƣ là một tổ hợp các thành phần. Một thành
phần đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Một thành phần phần mềm là một đơn vị kết cấu
với các giao diện đƣợc ghi rõ theo hợp đồng và các phụ thuộc ngữ cảnh rõ ràng.
Một thành phần phần mềm có thể đƣợc triển khai độc lập và đƣợc tổ hợp bằng các
hãng thứ ba”
Các lớp: Mức thấp nhất của một framework là các lớp. Các lớp chỉ khác với
các thành phần là trong thực tế, các API đƣợc công khai của nó không đƣợc đƣa ra
trong các giao diện của một framework. Một cách điển hình là các lớp đƣợc các
thành phần sử dụng để đại diện cho chức năng. Ví dụ một ngƣời dùng framework
thƣờng không nhìn thấy các lớp này trừ khi anh ta làm việc với các thành phần.
Cách thức làm việc của một framework như sau:
Một framework làm việc bằng cách cung cấp một đặc tả rõ ràng của các tƣơng
tác đƣợc mong đợi giữa các thành phần. Ví dụ, một thành phần có thể trông chờ
-8-

sao nó lại đƣợc thiết kế nhƣ vậy.
-9-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Một ứng dụng hướng đối tượng khác với một framework ở chỗ, một ứng dụng
mô tả một chƣơng trình thực hiện phức tạp mà thỏa mãn các yêu cầu cụ thể đặt ra.
Framework đạt đƣợc các tính năng của một ứng dụng nhƣng nó không thể thi hành
đƣợc bởi vì nó không bao gồm các tƣơng tác trong trƣờng hợp ứng dụng cụ thể.
Các framework khác với các thư viện lớp ở chỗ: chúng nhắm tới các miền ứng
dụng cụ thể. Trong khi đó, các thƣ viện lớp cung cấp cho ngƣời sử dụng các sự thực
hiện trƣớc của thuật toán. Các thƣ viện lớp là thụ động, ngƣời sử dụng gọi đến các
phƣơng pháp trong thƣ viện lớp để thực hiện một số hoạt động. Trong khi đó các
framework định nghĩa khung khổ cho một ứng dụng thực tế và quản lý các luồng
điều khiển trong ứng dụng. Các framework có thể khác so với thƣ viện lớp, nhƣng
chúng có thể sử dụng các thƣ viện lớp đã có sẵn để thực hiện các thuật toán chung
và các cấu trúc dữ liệu.
Các thành phần phần mềm ban đầu đã đƣợc dự định là các thành phần chức
năng riêng lẻ mà có thể đƣợc đầu tƣ từ nhà cung cấp và tích hợp vào trong các ứng
dụng. Các framework dƣờng nhƣ là những thành phần mà có thể đƣợc đầu tƣ từ nhà
cung cấp và nhiều hơn một framework có thể đƣợc sử dụng trong một ứng dụng.
Tuy nhiên, một điểm khác dễ nhận thấy giữa chúng là các framework cung cấp một
bộ rộng hơn các dịch vụ so với các thành phần phần mềm. Chúng có khả năng tùy
biến nhiều hơn, có các giao diện phức tạp hơn và điều quan trọng hơn là chúng thực
sự định nghĩa cho một họ ứng dụng hoặc một diện rộng của các ứng dụng. Do vậy,
các framework là khó học hơn đối với các nhà phát triển, nhƣng một khi đã hiểu
đƣợc hết framework thì sẽ có đƣợc sự linh động cao hơn và với một framework
đƣợc thiết kế tốt thì có thể giảm đƣợc các nỗ lực cần bỏ ra để xây dựng một ứng
dụng đã đƣợc tùy biến một cách đáng kể.
Trong khi các framework và các thành phần là các kỹ thuật khác nhau, chúng

Việc sử dụng lại các thành phần thiết kế có thể là một sự cải tiến đáng kể trong sản
xuất chƣơng trình, cũng nhƣ tốt cho việc nâng cao chất lƣợng, tính hiệu quả, độ tin
cậy và tính sẵn sàng của phần mềm.
-11-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Về khả năng mở rộng, một framework tăng cƣờng khả năng mở rộng bằng
cách cung cấp các điểm nóng tƣờng minh cho phép các ứng dụng mở rộng các giao
diện chắc chắn và cách ứng xử của vùng ứng dụng với các thay đổi đƣợc yêu cầu
cho các trƣờng hợp của ứng dụng trong một ngữ cảnh cụ thể. Khả năng mở rộng
của framework là cần thiết để đảm bảo các sự điều chỉnh có tính thời gian của các
dịch vụ và tính năng ứng dụng mới.
Cuối cùng, đặc điểm của kiến trúc cho thời gian chạy của một framework là sự
đổi chiều của điều khiển, thƣờng đƣợc gọi là “Nguyên tắc Hollywood”- Đừng gọi
cho chúng tôi, chúng tôi sẽ gọi cho bạn. Kiến trúc này cho phép ứng dụng hợp với
các quy tắc tiêu chuẩn nhờ việc điều chỉnh từng bƣớc các xử lý thông qua các đối
tƣợng quản lý sự kiện mà đƣợc tham chiếu đến do cơ chế gửi kích họat ngƣợc trở
lại của framework. Khi các sự kiện xảy ra, framework gửi lại kích hoạt bằng cách
chỉ dẫn phƣơng pháp móc nối trên các đối tƣợng quản lý sự kiện đã đƣợc đăng ký
trƣớc để thực hiện việc xử lý ứng dụng cụ thể dựa trên các sự kiện. Việc đổi chiều
điều khiển này cho phép framework định nghĩa một tập các phƣơng pháp ứng dụng
cụ thể để đáp ứng với các sự kiện ở bên ngoài.
1.2. Phân loại khung làm việc
Framework hƣớng đối tƣợng có thể đƣợc phân loại theo nhiều chiều khác
nhau, trong đó những chiều quan trọng nhất là vùng vấn đề mà framework trỏ tới,
cấu trúc bên trong của framework và việc nó dự định sử dụng nhƣ thế nào.
Với cách phân loại thứ nhất, ngƣời ta chia các khung làm việc thành các khung
làm việc ứng dụng, khung làm việc miền ứng dụng và khung làm việc trợ giúp.
Với phân loại theo cách thức dự định sử dụng, các khung làm việc chia thành

đạt đƣợc cấu trúc vững chắc của một kiến trúc phần mềm hƣớng đối tƣợng. Nguyên
tắc tổng thể cho cấu trúc nội tại của một framework đƣợc mô tả qua đặc trƣng kiến
trúc của nó. Các framework có tính kiến trúc đã đƣợc mô tả là:
Layered (kiến trúc phân tầng), giúp cho cấu trúc các ứng dụng có thể đƣợc
phân rã thành các nhóm của các công việc con với mức trừu tƣợng khác nhau định
vị ở tầng khác nhau.
Pipes and Filters (kiến trúc ống và bộ lọc), có thể đƣợc dùng để cấu trúc các
ứng dụng có thể đƣợc chia thành một vài các công việc con hoàn toàn độc lập, đƣợc
thực hiện theo trình tự nối tiếp hoặc song song đã đƣợc xác định một cách rõ ràng.
-13-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Model-View-Controller (kiến trúc MVC), định nghĩa một kiến trúc cho các
ứng dụng có tính tƣơng tác, chia tách giữa giao diện của ứng dụng với các chức
năng chủ yếu của nó: mô hình xử lý và dữ liệu.
Presentation-Abstraction-Controller (kiến trúc trình diễn-Trừu tượng-Điều
khiển), kiến trúc này là thích hợp để cấu trúc các hệ thống phần mềm mà có tính
tƣơng tác cao với ngƣời sử dụng, cho phép những điều khiển và trình diễn của các
mô hình trừu tƣợng của hệ thống có thể đƣợc tạo bên ngoài các chức năng con và
độc lập với mỗi cái khác.
Reflective (kiến trúc phản ánh), có khả năng áp dụng cho các ứng dụng mà cần
phải cân nhắc về một sự thích nghi trong tƣơng lai do sự thay đổi môi trƣờng, công
nghệ và các yêu cầu khác, mà không cần phải thay đổi về kiến trúc và cách thực
hiện của nó.
Microkernel là phù hợp cho các hệ thống phần mềm cần cung cấp các khung
nhìn khác nhau dựa trên các chức năng của chúng và phải thích nghi với các yêu
cầu của hệ thống. Ví dụ của microkernel của các hệ điều hành.
Blackboard (kiến trúc bảng đen), giúp để cấu trúc các ứng dụng phức tạp mà
liên quan tới một vài hệ thống con chuyên biệt cho các lĩnh vực khác nhau. Các hệ

thông qua các ứng dụng mới cũng đƣợc sử dụng nhƣ là đầu vào cho việc bảo trì
framework theo tiến độ. Toàn bộ quy trình đƣợc thể hiện trong hình 1.2.

Hình 1.2: Phát triển framework dựa trên kinh nghiệm ứng dụng [10]
-15-

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.3.2. Quy trình phát triển framework dựa trên phân tích miền vấn
đề
Một hƣớng tiếp cận phức tạp hơn cho việc phát triển một framework là phân
tích miền vấn đề. Quy trình phát triển đƣợc chỉ ra trong hình 1.3. Hoạt động đầu
tiên đó là phân tích miền vấn đề để phân loại và hiểu các thành phần trừu tƣợng nổi
bật trong miền vấn đề. Phân tích tên miền đòi hỏi phân tích các ứng dụng hiện có
(đây là một nhiệm vụ khó thực hiện) và chỉ có thể nếu tổ chức có các ứng dụng
đƣợc phát triển trong miền vấn đề. Việc phân tích các ứng dụng hiện có cũng sẽ
chiếm một tỷ lệ lớn ngân sách.

Hình 1.3: Quy trình phát triển framework dựa trên phân tích miền vấn đề [10]
Sau khi các lớp trìu tƣợng đƣợc nhận biết, phát triển framework cùng với một
ứng dụng kiểm tra, (sử dụng mũi tên nhƣ trong hình 1.3), sau đó điều chỉnh khung
làm việc nếu cần thiết. Tiếp theo, phát triển một ứng dụng thứ hai dựa trên
framework này. Thay đổi framework nếu cần thiết và sửa đổi ứng dụng đầu tiên để
nó có thể làm việc với những thay đổi đƣa ra. Hãy để framework vận hành thông
qua các hoạt động bảo trì có kế hoạch, trong khi đó tiếp tục phát triển thêm nhiều
ứng dụng dựa trên nó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status