Đề tài Lí do cần ứng dụng công nghệ thông tin vào giờ dạy ngữ văn SKKN THCS - Pdf 22

SKKN: LÍ DO CẦN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIỜ DẠY NGỮ VĂN
A- PHẦN MỞ ĐẦU :
“LÍ DO CẦN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀO GIỜ DẠY NGỮ VĂN”
Việt Nam đang bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá với những
thách thức mới của thời đại cong nghiệp, tri thức gắn liền với quá trình toàn cầu và
hội nhập quốc tế. Đắc biệt khi Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO với 4 mục
tiêu giáo dục là: “ Học để biết, để làm, để sống chung và để khẳng định .”
Trong thời đại mới đòi hỏi con người phải có cách nhìn mới , cách nghĩ mới
và những kiến thức, kĩ năng mới của thời đại. Nghĩa là con người phải có khả năng
tư duy độc lập, có phương pháp tư duy hệ thống, có năng lực sáng tạo và tinh thần
đổi mới để thích ứng với sư thay đổi thường xuyên, đa dạng, biến động bất ngờ của
môi trường hợp tác văn hoá của một thế giới toàn cầu hoá.
Nền giáo dục mới là một nền giáo dục hiện đại, sử dụng rộng rãi công nghệ
thông tin và truyền thông, mạng máy tính và internet để tổ chức và triển khai quá
trình dạy và học với những phương pháp và hình thức linh hoạt nhằm nâng cao nền
tảng văn hoá và tinh thần chung của xã hội. Mọi người có thể biết cách tự học, học
liên tục để có một nền giáo dục mở, liên thông, có khả năng hội nhập với nền giáo
dục chung của thế giới.
Trước bối cảnh xã hội ấy, chúng ta là những người thầy không thể là người
ngoài cuộc. Là giáo viên đã từng tâm huyết với nghề dạy học ai cũng mong muốn
mình thành công trong mỗi giờ lên lớp. Để đạt được thành công đó ngoài khả năng
sư phạm, kiến thức của mỗi giáo viên, cần có sự tham gia đắc lực của đồ dùng dạy
học: Đó là những cuốn sách giáo khoa, sách tham khảo, tranh ảnh, chân dung tác
giả hoặc tác phẩm, tranh vẽ phóng to từ sách giáo khoa, máy ghi âm, băng đĩa ghi
hình,… sẽ làm cho giờ học ngữ văn thêm sinh động.
Những năm gần đây, khi mà xã hội đòi hỏi ngày càng cao, công nghệ thông
tin đang ứng dụng ngày càng nhiều vào các mặt của đời sống xã hội và đổi mời
phương pháp dạy học đang trở thành vấn đề quan tâm của các nhà giáo dục thì ứng
dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào giáo dục đã phát huy được tính ưu
việt nổi trội so với các phương tiện khác.

Hai (Nguyên nhân chủ quan ): Một số giáo viên chưa nhận thức hết được
vai trò và tác dụng của đồ dùng dạy học, chưa đầu tư nhiều về phương hướng và
cách thức sử dụng phương tiện một cách hiệu quả, chưa chịu khó sưu tầm và tự
tậócc thiết bị dạy học cho phù hợp.
Gần đây việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông đã được
triển khai đồng bộ (từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện kiểm tra,
đánh giá). Vì vậy, việc sử dụng thiết bị dạy học trong môn Ngữ Văn đã có nhiều
chuyển biến tích cực.
2. Công nghệ thông tin và dạy học Ngữ Văn.
a- Ưu điểm.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Ngữ Văn có những ưu điểm
rõ rệt. Bởi lẽ, “văn học là nhân học” , tức là học về con người, học làm người. Môn
Ngữ Văn không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức về văn chương mà còn mang
một sứ mạng cao cả là bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách cho học sinh.
Vậy mà không ít học sinh ngày nay lại thờ ơ với môn Văn, thậm chí Ngữ
Văn còn trở thành môn học chán ngán, đáng sợ. Tại sao lại như vậy? Theo tôi có
nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về người lớn.
Lâu nay chúng ta quen đi lối mòn là dạy cho học sinh “học để thi” chứ
không phải “học để biết,để thực hành vận dụng vào cuộc sống”. Do đó, giờ Văn trở
nên khô cứng và áp đặt. Hơn nữa, chính người thầy đôi lúc cũng không còn hứng
thú với những bài giảng đã được đóng khung chi tiết đến từng phút một, lên lớp mà
luôn lo âu, sợ cháy giáo án, không kịp chương trình, rồi thì kết quả thi không đạt
chỉ tiêu thi đua… Chính những lo âu ấy đã triệt tiêu năng lực sáng tạo của người
thầy.
Việc thay dổi quan điểm dạy học không chạy theo thành tích, cùng với
những đòi hỏi bức thiết phải đổi mới của xã hội đã dẫn đến hiệu quả tất yếu là phải
đổi mới phương pháp dạy học. Theo tôi, người dạy Vănphải thay đổi phương pháp
3
SKKN: LÍ DO CẦN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIỜ DẠY NGỮ VĂN
cũng giống như người đầu bếp phải thay đổi món ăn sao cho phù hợp với khẩu vị

mới phương pháo dạy học. Để làm được điều đó, cần chú ý đến phương tiện dạy
học.
Công nghệ thông tin là một trong những phương tiện quan trọng giúp cho
việc đổi mới phương pháp bằng việc soạn thảo và ứng dụng các phần mềm dạy
học. Bài học sẽ trở nên sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh do có nhiều hình
ảnh minh hoạ sống động, cụ thể bằng các hìmh ảnh, phông nền, phông chữ, biểu
bảng giúp học sinh hệ thống, khái quát bài học cùng với những lời giảng bình liên
hệ khắc sâu kiến thức của giáo viên.
Giáo viên không còn độc diễn mà phối hợp nhịp nhàng cùng hệ thống hình
ảnh, câu hỏi, chất liệu trên máy để giảng, phân tích, bình giảng khiến giờ học trở
nên sinh động, khả năng tiếp thu kến thức cao hơn trước.
b- Phân biệt giáo án điện tử và bài giảng điện tử.
* Giáo án điện tử: Theo cách hiểu của chúng tôi, giáo án điện tử là giáo án
được soạn bằng máy tính, có thể in ra thay thế giáo án viết tay. Trong giáo án điện
tử có chứa nội dung trình chiếu, mô phỏng.
4
SKKN: LÍ DO CẦN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIỜ DẠY NGỮ VĂN
*Bài giảng điện tử:Là những nội dung kiến thức, bài giảng của tiết dạy GV
đưa vào máy tính,được lưu trữ ở dạng điện tử.
Nếu coi GAĐT là một kịch bản thì bài giảng là vở kịch đã được công diễn.
Như vậybài giảng là việc GV thực hiện GA trên lớp cùng với HS. Tuy nhiên bài
giảng điện tử thường đi cùng với việc phát huy những thế mạnh ưu điểm của công
nghệ thông tin trong việc thực hiện GA trên lớp của GV.
3- Quy trình xây dựng bài giảng Ngữ Văn trên máy tính.
Trước hết cần lựa chọn chủ đề thích hợp.Không phải chủ đề nào cũng cần
tới bài giảng điện tử.Chủ đề thích hợp là chủ đề có thể dùng bài giảng điện tử để
hỗ trợ thích hợp và sáng tạo ra hiệu quả day học tốt hơn so với việc sử dụng thiết
bị day học truyền thống. Tôi xây dựng bài giảng theo trình tự sau:
1- Tìm hiểu nội dung kiến thức bài dạy
2- Soạn bài ra giấy những nội dung kiến thức đó, xây dựng kich bản để thiết

2. Kiểm tra bài cũ: Tình đồng chí, đồng đội được thể hiện như thế nào
trong bài thơ “ Đồng chí” của Chính Hữu
3. Bài mới
Giới thiệu bài: GV đẫn dắt vào bài thông qua hình ảnh minh hoạ trên màn
hình.
Ngữ văn Bài 10 : Tiết 47
Văn bản: Bài thơ về tiểu đội xe không kính
(Phạm Tiến Duật)
I/ Đọc, tỡm hiểu chung
6
SKKN: LÍ DO CẦN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIỜ DẠY NGỮ VĂN
1/ Tỡm hiểu chỳ thớch.
a) Tỏc giả:
Phạm Tiến Duật, sinh ngày 14 tháng 1 năm
1941.
Quờ quỏn : Phỳ Thọ
Mất ngày 5 tháng 12 năm 2007
Ông là gương mặt tiêu biểu cho thế hệ các nhà
thơ trẻ thời chống Mĩ
Phong cách thơ: Giọng điệu sôi nổi trẻ trung,
tinh nghịch phản ánh hiện thực cuộc sống nơi
chiến trường
Phong cách thơ: Giọng điệu sôi nổi trẻ trung,
tinh nghịch phản ánh hiện thực cuộc sống nơi
chiến trường
b) Tỏc phẩm:
“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” viết
năm 1969, in trong tập “Vầng trăng quầng
lửa”
c) Giải nghĩa từ:

Khụng cú kớnh, ừ thỡ ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi
8
SKKN: LÍ DO CẦN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIỜ DẠY NGỮ VĂN
Giọng thơ ngang tàng, lặp cấu trúc, câu phủ định
→ Thái độ bất chấp khó khăn, coi thường nguy hiểm với tinh thần lạc
quan yêu đời vượt lên gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ của người lính.
+ Tỡnh cảm:
“Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đó về đây họp thành tiểu đội”
Họ là một đại gia đỡnh lớn gắn kết với nhau qua bom đạn chiến tranh
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kớnh vỡ rồi
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đỡnh đấy
Vừng mắc chụng chờnh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm
→ Tỡnh đồng chí, đồng đội đó trở thành thiờng liờng, mỏu thịt.
Họ là những người lính trẻ trung, sôi nổi, lạc quan vượt lên trên mọi
gian lao của cuộc chiến ác liệt
Điệp từ “Lại đi”: Mệnh lệnh thôi thúc các anh lên đường
+ Tinh thần yêu nước:
Vật chất > < Tinh thần
9
SKKN: LÍ DO CẦN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIỜ DẠY NGỮ VĂN
Không có kính, không đèn,
không mui xe, thùng xe xước
Hiện thực tàn phỏ khốc liệt của

Giống nhau ở điểm nào ?
A -Cựng viết về đề tài người lớnh.
B - Cựng viết theo thể thơ tự do.
C - Cựng núi lờn sự hy sinh của người lớnh.
D -Cả A và B.
Bài tập 2:
So sánh vẻ đẹp của anh bộ đội cụ Hồ trong hai bài thơ:
“ Đồng chí ” của Chính Hữu.
“ Bài thơ về tiểu đội xe không kính ” của Phạm Tiến Duật.
V - Củng cố - Dặn dũ:
- Học thuộc lũng bài thơ.
- Chuẩn bị bài tiếp theo.
D - BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Mặc dù không thể phủ nhận tính năng ưu việt, sự hiện đại và lợi ích nổi trội
của việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy Ngữ Văn, xong người giáo viên cần phải
chú ý 1 số điểm sau:
1. Hướng dẫn cụ thể cho HS cách chuẩn bị tư liệu, soạn bài.
2. Nắm vững trình độ HS để đưa ra các câu hỏi và bài tập phù hợp, hướng
dẫn thảo thuận kết hợp với ND trên máy, lời giảng , bình của GV để HS
ghi bài chủ động, sáng tạo.
3. Khâu soạn bài của GV giảng đặc biệt chú ý , chuẩn bị chu đáo lường
trước những tình huống khó. Đối với các câu hỏi thảo luận, bài tập sáng
tạo,GV phải chuẩn bị kiến thức để bình sâu chi tiết đặc sắc, trọng tâm.
4. Việc ứng dụng CNTT vào dạy Ngữ Văn gây hứng thú cho HS TB, yếu.
Với những câu hỏi thảo luận khó, các em còn lúng túng, rủtè, hạn chế
tham gia thảo luận, GV cần có cách gợi mở, động viên để các em hứng
thú tham gia hoạt động.
5. Để SD máy thành thạo trong quá trình giảng dạy GV cần phải tập luyện
các thao tác trên máy, dự kiến các tình huống và cách xử lí.
Tóm lại GV ứng dụng CNTT vào giảng dạy NV là rất cần thiết và hữu ích.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status