những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển dạy nghề và hệ thống các trường nghề - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
Lấ THỊ PHƯƠNG DUNG
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ VÀ HỆ THỐNG
CÁC TRƯỜNG NGHỀ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đỗ Minh Cương
HÀ NỘI, 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tụi. Cỏc số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ
Lê Thị Phương Dung
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐN : Cao đẳng nghề
TCN : Trung cấp nghề
CNH, HĐN : Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
XHH : Xã hội hóa
CNKT : Công nhân kỹ thuật
CĐKT : Cao đẳng kỹ thuật
TTDN : Trung tâm dạy nghề
TTLĐ : Thị trường lao động
ĐH : Đại học
CĐ : Cao đẳng
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
CSDN : Cơ sở dạy nghề

còn thiếu về số lượng và lạc hậu về công nghệ; xã hội hóa dạy nghề còn
chậm, thiếu đồng bộ; cơ chế, chính sách về dạy nghề chậm được đổi mới;
nguồn lực đầu tư còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh,
bền vững.
Chính vì vậy, Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X đã đề ra chủ trương phát triển dạy nghề trong giai đoạn
2006 - 2010 như sau: “Phỏt triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng
nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công
nghiệp, cỏc vựng kinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động. Mở rộng mạng
lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận huyện. Tạo chuyển
- 1 -
biến căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu
vực và trên thế giới”.
Kết luận số 242 - TB/TW ngày 15 tháng 4 năm 2009 của Bộ chính trị về
việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết T.Ư 2 (khóa VIII) phương hướng phát triển
giáo dục và đào tạo đến năm 2020: “Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp
giáo dục và đào tạo nước ta phải đổi mới căn bản, toàn diện và mạnh mẽ”.
“Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, kể cả những nghề thuộc lĩnh vực công
nghệ cao. Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề
quận huyện”. “Chỳ trọng xây dựng một số trường dạy nghề đạt chuẩn khu
vực và quốc tế. Tăng nhanh quy mô công nhân và cán bộ kĩ thuật lành nghề ở
những khu vực công nghệ cao, tiếp cận trình độ tiên tiến thế giới”.
Nghị Quyết của Quốc hội số 35/2009/NQ-QH12 ngày 19 tháng 06 năm
2009 về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo
dục và đào tạo từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015: Nhà nước
đảm bảo vai trò đầu tư chủ yếu cho giáo dục và đào tạo; hỗ trợ các cơ sở giáo
dục và đào tạo ngoài công lập đào tạo nâng cao trình độ giáo viên và cán bộ
quản lý; ưu tiên ngân sách cho giáo dục dạy nghề.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển dạy nghề. Luật Giáo dục

dạy nghề thuộc các thành phần kinh tế gồm: các trung tâm dạy nghề, trường
trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề;
- Hệ thống dạy nghề của một số nước trong khu vực và trên thế giới;
2. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu, khảo sát tại một số trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề,
cao đẳng nghề thuộc các Bộ, ngành và địa phương trên phạm vi toàn quốc.
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chương trình gồm những nội dung sau:
- 3 -
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chiến lược và hệ
thống các cơ sở dạy nghề: Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan hoặc tác
động (vị trí vai trò, khái niệm cơ bản, các nhân tố tác động và kinh nghiệm
của một số nước trên thế giới) đến chiến lược dạy nghề và quy hoạch mạng
lưới cơ sở dạy nghề.
Chương 2: Thực trạng dạy nghề và hệ thống các trường dạy nghề
trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2001 - 2010: Đánh giá thực trạng chính
sách pháp luật về dạy nghề, đánh giá thực hiện chiến lược và thực hiện quy
hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề.
Chương 3: Nội dung cơ bản của chiến lược và quy hoạch hệ thống
các cơ sở dạy nghề: Bối cảnh Quốc tế và của Việt Nam, Dự báo nhu cầu lao
động qua đào tạo nghề, Quan điểm, Mục tiêu, Nhiệm vụ, Giải pháp phát triển
và tổ chức thực hiện chiến lược và quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã tiến hành khảo sát, thu thập
thông tin và lấy số liệu về dạy nghề để hoàn thiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo giúp đỡ tôi trong
quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn, góp phần hoàn thành đề tài./.
- 4 -
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC
VÀ HỆ THỐNG CÁC TRƯỜNG NGHỀ

các ngành, vùng kinh tế, các khu vực. Trong khi lao động phổ thông dư thừa
rất lớn nhưng lao động kỹ thuật lại thiếu trầm trọng, nhất là lao động kỹ thuật
trình độ cao cho một số ngành như: công nghiệp chế tác, tin học, viễn thông,
công nghiệp chế biến nụng, lõm thủy sản, lao động kỹ thuật cho xuất khẩu.
Theo quyết định 579/QĐ-TTg năm 2011 về phê duyệt Chiến lược phát
triển nhân lực Việt Nam thời kì 2011-2020 do Thủ tướng Chính phủ ban
hành: “Mục tiêu tổng quát phát triển nhân lực Việt Nam thời kì 2011-2020 là
đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát
triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ
năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên
tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển
trên thế giới.”
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, để tăng trưởng nền kinh tế bền
vững, hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả và an toàn trong bối cảnh nền kinh tế
thế giới đầy biến động, nhiệm vụ của dạy nghề là phải xây dựng và phát triển
đội nhũ lao động có chất lượng, cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền đáp
ứng mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi toàn quốc
lẫn từng ngành, vùng kinh tế, địa phương; đồng thời cần tăng khả năng cạnh
tranh của lao động Việt Nam với lao động nước ngoài không những ở thị
trường lao động thế giới mà còn ngay ở thị trường lao động trong nước. Với
- 6 -
tốc độ phát triển nhanh và không ngừng của khoa học công nghệ, việc sử
dụng ngày càng nhiều công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, nhiều ngành nghề mới
xuất hiện trong thực tế xã hội, vì vậy cần có các hình thức, nội dung dạy nghề
phù hợp nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để thường xuyên bổ
xung, cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để có đủ năng lực thích ứng với
những thay đổi nhanh chóng trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
1.2. Mối quan hệ của dạy nghề với việc làm, thu thập và giải quyết các
vấn đề xã hội trong nước và hội nhập quốc tế
Mục tiêu hàng đầu của công tác dạy nghề là đào tạo, bồi dưỡng năng lực

xã hội của đất nước. Với quan điểm phát triển dạy nghề theo hướng chuẩn
hóa, hiện đại hóa, từng bước tiếp cận với trình độ tiên tiến của các nước phát
triển trong khu vực và trên thế giới để tạo bước đột phá về chất lượng dạy
nghề, hi vọng Việt Nam có thể xuất khẩu hoạt động đào tạo nghề ra thế giới.
1.3. Những khái niệm cốt lõi, mục tiêu, yêu cầu, đặc điểm cơ bản của
chiến lược dạy nghề và hệ thống các cơ sở dạy nghề
Trong quá trình xây dựng chiến lược dạy nghề, việc tính toán quy mô
dạy nghề theo trình độ, ngành nghề đào tạo, quy hoạch mạng lưới dạy nghề
được dựa trên các khái niệm: nguồn nhân lực, lao động qua đào tạo. Vì vậy để
có cơ sở xây dựng chiến lược dạy nghề phù hợp với mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước cần làm rõ một số thuật ngữ, khái niệm cốt lõi sau:
1.3.1. Một số khái niệm cốt lõi:
1.3.1.1. Nguồn nhân lực
Trước đây, thuật ngữ sức lao động, nguồn lao động thường được sử dụng
trongiới nghiên cứu và quản lý. Từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, thuật
ngữ nguồn nhân lực được dùng chính thức, phổ biến và đã được nhận thức
cao hơn, hoàn thiện về vị trí, vai trò của con người trong quá trình phát triển.
- 8 -
Có thể hiểu nguồn nhân lực (nguồn lao động) là tổng thể những phẩm chất và
năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để
tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng, vùng lãnh thổ,
quốc gia trong những thời kì nhất định.
Theo Luật Lao động của Việt Nam (năm 1994) quy định: nguồn nhân lực
(nguồn lao động) là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động (nam từ 15-60
tuổi; nữ từ 15-55 tuổi) có khả năng lao dộng, bao gồm những người đang có việc
làm hoặc chưa có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc (lực lượng lao động) và
những người đang đi học, nội trợ, không có nhu cầu làm việc và tình trạng khác;
trong đó bộ phận quan trọng nhất là lực lượng lao động.
1.3.1.2. Lao động qua đào tạo nghề
Lao động qua đào tạo là một thuật ngữ mới được sử dụng rộng rãi ở

tại Điều 15 của Luật Dạy Nghề) thì được thống kê trong số lao động qua đào
tạo nghề.
1.3.1.3. Nghề đào tạo
Nghề đào tạo có thể trùng với một nghề xã hội hoặc do nhiều nghề xã
hội hợp thành, có nội dung chuyên môn là khối lượng kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo và phẩm chất cần phải đào tạo trong một thời gian nhất định. Tương ứng
với mỗi nghề đào tạo có một mục tiêu đào tạo. Hệ thống (cơ cấu) mục tiêu
giáo dục nghề nghiệp phân hóa theo chiều ngang được thể hiện ở “bản danh
mục nghề đào tạo” do Nhà nước ban hành, đó là một văn bản pháp quy đối
với công tác đào tạo nghề.
1.3.1.4. Nghề trọng điểm
Nghề trọng điểm là nghề được lựa chọn để được đầu tư đồng bộ về cơ sở
vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên, chương trình, giáo trình dạy nghề để
có chất lượng đào tạo đạt trình độ chuẩn quốc gia, khu vực và trên thế giới.
Tiêu chí và quy trình lựa chọn các nghề trọng điểm được đảm bảo công khai,
minh bạch, dân chủ, đáp ứng nhu cầu lao động chất lượng cao cho các ngành
kinh tế mũi nhọn, cỏc vựng kinh tế, các khu công nghiệp, khu chế xuất, tiểu
vùng. Tùy thuộc vào yêu cầu về trình độ đào tạo ở cấp quốc gia, khu vực hay
trên thế giới để xác định mức đầu tư phù hợp.
1.3.1.5. Dạy nghề (đào tạo nghề)
- 10 -
Dạy nghề là việc trang bị cho người lao động (người học nghề) những
hiểu biết về chuyên môn kỹ thuật, những kỹ năng kỹ xảo, cách thức tổ chức
và thái độ cần thiết trong hoạt động lao động của nghề (có thể là một, một số
hoặc toàn bộ các hoạt động lao động của nghề tùy theo mục tiêu đào tạo) để
người lao động có thể làm việc (hành nghề) một cách có chất lượng và hiệu
quả. Nói cách khác - dạy nghề phải được tiến hành một cách khoa học, theo
bài bản, đảm bảo tính hệ thống, hợp lý và toàn diện trên cả 3 phương diện
kiến thức, kỹ năng kỹ xảo và thái độ đối với bất cứ một hoạt động lao động
nào của nghề.

những người đã qua đào tạo cỏc khúa cao đẳng nghề, đại học công nghệ thực
hành. Hay nói cách khác, thực tiễn yêu cầu phải có một đội ngũ công nhân kỹ
thuật mới trình độ cao đẳng, đại học theo hướng thực hành.
Mặt khác, kinh nghiệm của các nước cho thấy họ đã hình thành 2 hệ
thống hàn lâm và thực hành và đều tổ chức học liên thông lên đại học và các
trình độ cao hơn để tạo điều kiện cho người học được học tập suốt đời. Tuy
nhiên, có điểm đáng lưu ý là một số nước cú cỏc cấp học ở trình độ đại học và
- 12 -
trên đại học cho hệ đào tạo theo hướng công nghệ thực hành. Vì vậy hệ đào
tạo theo hướng công nghệ thực hành cần có thêm một cấp học nữa, đó là đại
học công nghệ thực hành.
Thực tiễn trong nước và kinh nghiệm quốc tế cho thấy hệ thống đào tạo
nghề của Việt Nam được triển khai đào tạo theo 3 cấp trình độ là sơ cấp nghề,
trung cấp nghề và cao đẳng nghề theo Luật Giáo dục năm 2005 chưa đáp ứng
được nhu cầu lao động trực tiếp có trình độ cao trong quá trình CNH, HĐH
đất nước và phát triển của nền kinh tế, nhất là khi nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Vì vậy, trong thập kỷ tới, chúng ta phải hoàn thiện hệ thống đào tạo nghề
theo hướng thực hành, bổ sung cấp trình độ đào tạo đại học thực hành (đào
tạo ra đội ngũ kỹ sư thực hành), nhằm đảm bảo tỷ lệ đào tạo giữa các cấp
trình độ phù hợp với nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và
sự thay đổi của kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất, phục vụ cho sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy
nhanh quá trình hội nhập trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực với các
nước trong khu vực và trên thế giới.
Cấp trình độ đào tạo nghề là một trong những nội dung quan trọng
trong hệ thống dạy nghề,nú quyết định đến việc xây dựng mục tiêu chương
trình đào tạo nghề, cũng như việc cấp văn bằng chứng chỉ đào tạo nghề thống
nhất của quốc gia. Xác định đúng đắn cấp trình độ đào tạo nghề không chỉ
góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng dạy nghề mà còn gắn đào tạo

dụng kỹ thuật, công nghiệp mới vào công việc, có khả năng tổng hợp, sáng
tạo, cải tiến kỹ thuật công nghẹ ứng dụng trong sản xuất, kinh doanh; giải
quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế mang tính tổng hợp; có thái
- 14 -
độ nghề nghiệp, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả
năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.
Việc hình thành bốn cấp trình độ đào tạo nhằm đảm bảo về đội ngũ
nguồn nhân lực lao động kỹ thuật, nghiệp vụ trực tiếp trong sản xuất, kinh
doanh dịch vụ theo hệ thống mục tiêu giáo dục nghề nghiệp nhất định: là cơ
sở để đổi mới căn bản Hệ thống giáo dục quốc dân trên cơ sở hình thành hai
luồng đào tạo là “Hàn lõm” và “Thực hành” đáp ứng nhu cầu phát triển
nguồn nhân lực của quốc gia, phù hợp với cơ cấu tổ chức sản xuất, thay đổi
của kỹ thuật, công nghệ mới, tạo sự liên thông giữa các cấp trình độ đào tạo,
góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
1.3.1.7. Hệ thống cơ sở đào tạo nghề
Hệ thống giáo dục quốc dân đã được công bố trong Luật Giáo dục năm
2005, trong đó có hệ Giáo dục nghề nghiệp. Dạy nghề là một phần của hệ thống
giáo dục nghề nghiệp trong khung cơ cấu của hệ thống giáo dục quốc dân.
Cơ sở đào tạo nghề là một cơ sở có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ
thuật, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên theo quy định đăng ký, thường xuyên
thực hiện việc đào tạo nghề cho người lao động theo mục tiêu, chương trình
đã được xác định tương ứng với trình độ nghề mà thực tiễn yêu cầu của một
hoặc một số nghề nào đó (tên nghề theo danh mục nghề đào tạo).
Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề là tập hợp của các cơ sở làm nhiệm vụ
đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu nhân lực cả về cơ cấu ngành nghề, cả về cơ
cấu trình độ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và được Nhà nước
thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương.
Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề có thể được xác lập để đáp ứng yêu cầu
của một ngành kinh tế, một vùng kinh tế, một địa phương (tỉnh, thành phố);

Chiến lược là một tập hợp các chuỗi hoạt động được xây dựng nhằm tạo
ra lợi thế cạnh tranh bền vững (McKinsey, 1978).
- 16 -
Chiến lược không chỉ là một kế hoạch, cũng không chỉ là một ý tưởng
mà còn là một triết lý sống (A. Montgomery).
Chiến lược sẽ trả lời những câu hỏi sau: Chiến lược giải quyết vấn đề gì?
(v.d. mục tiêu và can thiệp chiến lược): giải quyết như thế nào? (v.d. vấn đề
quản lý và phương pháp), cho đối tượng nào? cơ chế thực hiện và hợp tác như
thế nào? Một Chiến lược cần được rà soát định kỳ và có thể cần thay đổi
hay chỉnh sửa phù hợp với những thay đổi của nền kinh tế.
Thực hiện mục tiêu của chiến lược được khái quát bằng sơ đồ sau:

- 17 -
Khung hướng dẫn
để đạt được tầm
nhìn
Lập kế hoạch thực
hiện chiến lược
Thực thi chiến lược
realization
Triển khai chiến lược
Chiến thuật/kế hoạch
thực hiện
Chiến lược
Mục tiêu tổng quan dài hạn
Hiện
thực
hóa
tầm
nhìn

- 18 -
theo phương pháp kịch bản mới thì tương lai của dạy nghề có thể là sự phát
triển dạy nghề theo kiểu phân nhánh, dứt đoạn hoặc nhảy vọt.
Với phương pháp kịch bản mới kết hợp cả logic và trí tưởng tượng để
đưa ra “bức tranh” tương lai khả dĩ của dạy nghề. Tuy nhiên, trong dạy nghề
có rất nhiều tham biến khác nhau, có ảnh hưởng đến sự phát triển dạy nghề.
Vì vậy, quá trình xây dựng kịch bản phải đảm bảo tính tương thích và nhất
quán, đồng thời cũng cần tìm ra những cơ chế, chính sách, những giải pháp và
nhiệm vụ cơ bản có tính khả thi cao để thực hiện.
Để tìm kiếm bức tranh tương lai cho dạy nghề Việt Nam, cần tìm hiểu
các đặc trưng chủ yếu liên quan đến dạy nghề trên cơ sở phân tích SWOT:
- Cơ hội: Đất nước Việt Nam đang có vị thế mới trên trường quốc tế,
tăng trưởng kinh tế tương đối cao, hội nhập kinh tế quốc tế vững chắc, dạy
nghề Việt Nam đứng trước đòi hỏi phát triển về quy mô, cơ cấu nghề, cơ cấu
trình độ và chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp.
- Thách thức: Việt Nam hiện vẫn là nước có thu nhập thấp, trình độ kinh
tế lạc hậu, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, phân tầng xã hội và chênh lệch
vùng miền chưa thu hẹp, trình độ nhân công chưa cao, nguy cơ tụt hậu xa hơn
về kinh tế kéo theo nguy cơ tụt hậu xa hơn về giáo dục nói chung và dạy nghề
nói riêng.
- Điểm mạnh: Trong những năm vừa qua, dạy nghề đã phục hồi sau một
thời gian suy giảm, với hệ thống quan điểm chỉ đạo, chủ trương, chính sách
phù hợp, hệ thống dạy nghề phát triển cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng
được một phần nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.
- Điểm yếu: Môi trường pháp lý về dạy nghề chưa được hoàn chỉnh, đầu
tư cho dạy nghề chưa cao, công tác quản lý dạy nghề chưa theo kịp với sự
- 19 -
phát triển của thực tiễn hội nhập quốc tế về giáo dục nói chung, dạy nghề nói
riêng, năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế còn yếu.

yếu: Xác định các
năng lực chủ đạo
Tiềm năng và rủi ro:
Xác định những yếu tố
thành công chủ chốt
Đánh giá phân tích Rủi ro
và Tiềm năng

Trích đoạn HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển dạy nghề. Thách thức đối với dạy nghề Định hướng phát triển dạy nghề Giải pháp thực hiện chiến lược dạy nghề và hệ thống các cơ sở dạy nghề
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status