MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………….………………………………………… 1
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN
THƯƠNG MẠI……… ……………………………………………5
1.1. Khái niệm 5
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển 7
1.3. Các đặc điểm chính của nhượng quyền thương mại 9
1.3.1. Đối tượng của nhượng quyền thương mại……………………… 9
1.3.2. Doanh nghiệp nhượng quyền và nhận nhượng quyền… ……10
1.3.3. Quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền…………12
1.3.4. Kiểm soát của bên nhượng quyền ……………………………….13
1.4. Phân loại nhượng quyền thương mại .13
1.4.1. Căn cứ vào tính chất của mối quan hệ giữa hai bên tham gia
nhượng quyền ………………………………………………………… 13
1.4.2. Căn cứ vào hình thức hoạt động kinh doanh …………………14
1.4.3. Căn cứ vào mức độ phản ánh hợp tác và cam kết ………… 15
2.1.3. Khái quát chung về tập đoàn Gloria Jeans Coffee ………… 32
2.1.4.Hoạt động nhượng quyền thương mại của Gloria Jeans trên thị
trường quốc tế ………………………………………………………… 39
2.2. Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại của cà phê Gloria
Jeans tại Việt Nam……………………………………………………….41
2.2.1 Thời kỳ thâm nhập thị trường Việt Nam ……………………… 41
2.2.2 .Tình hình phát triển hiện nay của Gloria Jeans tại thị trường Việt
Nam… ……………………………………………………………….…43
2.2.3.Một số phân tích đánh giá về Gloria Jeans Coffee tại Việt
Nam………………………………………………………………….… 43
2.3 Những thành tựu Gloria Jeans coffee đạt được và những khó khăn
tại thị trường Việt Nam………… ……………….…………………… 54
2.3.1. Những thành tựu đã đạt được….……………………………… 54
2.3.2. Những khó khăn và vấn đề còn tồn tại ……………………… 58
Kết luận chương II……………………………………………………….62
CHƯƠNG 3 : BÀI HỌC NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHƯỢNG QUYỀN TRONG
NƯỚC………………………………………………………………63
3.1. Bản sắc thương hiệu .…63
Bảng 2.1 : Các yêu cầu cơ bản về bên muốn nhận nhượng quyền thương hiệu
Gloria Jeans coffee : 40
Bảng 2.2: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của Gloria Jeans coffee: 56
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
AIU Angel in Us Một thương hiệu cà phê nhượng
quyền Angel in Us của Hàn Quốc
BWR Business Weekly Review Tạp chí kinh doanh hàng tuần
Lý do chọn đề tài
Nhượng quyền thương mại là hình thức kinh doanh ra đời từ hơn hai
thế kỷ trước tại các nước có nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ, Đức, Anh,
Thực tế phát triển của hình thức kinh doanh này cho thấy nhượng quyền
thương mại là một trong những phương thức hiệu quả mang lại nhiều lợi
nhuận và danh tiếng cho doanh nghiệp và tập đoàn trong thị trường nội địa
cũng như thị trường toàn cầu. Điển hình cho tính hiệu quả của hình thức
nhượng quyền thương mại có thể thấy đó là các thương hiệu như Mc Donald,
KFC với những chuỗi cửa hàng ăn nhanh không những nổi tiếng ở thị trường
nội địa Hoa Kỳ mà còn mở rộng khắp tại Đông Á và Châu Âu, hay các hệ
thống nhượng quyền kinh doanh phân phối như Walmart, K-mart có mặt trên
khắp các quốc gia phát triển và đang phát triển tạo nên tính sôi động cũng như
đa dạng cho nguồn cung hàng hóa tiêu dùng.
Bước vào thế kỷ 21, sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và
xu thế toàn cầu hóa rộng khắp đã tạo ra những thay đổi lớn trong những hình
thức kinh doanh truyền thống. Sự xuất hiện của thương mại điện tử tạo ra
nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp và tập đoàn lớn tiếp cận nghiên cứu thị
trường quốc tế và sử dụng nhượng quyền thương mại trong kinh doanh là một
phương thức nhằm thâm nhập và tăng doanh thu trên thị trường quốc tế.
Nhằm hỗ trợ mục đích đó, tổ chức thương mại thế giới WTO chính thức
được thành lập năm 1995 đã xây dựng một sân chơi chung về thương mại và
đầu tư cho các nước thành viên, mở ra những cơ hội cho các doanh nghiệp
thuộc các nước thành viên với việc đưa ra chính sách ưu đãi thuế quan, rỡ bỏ
các rào cản thương mại. Đồng thời WTO cũng đã xây dựng được những nền
tảng pháp lý cơ bản về nhượng quyền thương mại qua hiệp định TRIPS,
GATS mà dựa trên đó các doanh nghiệp tham gia nhượng quyền thương mại
có thể đảm bảo các quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
2
3
nhượng quyền cho các doanh nghiệp trong nước “ cho khóa luận tốt nghiệp
của mình .
Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tìm hiểu về hình thức kinh doanh nhượng quyền thương
mại trên thế giới
- Phân tích thực trạng hoạt động nhượng quyền cửa hàng cà phê của
Gloria Jeans tại thị trường Việt Nam
- Trên cơ sở đó rút ra được những bài học kinh nghiệm nhượng quyền
cho các doanh nghiệp trong nước
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hình thức kinh doanh nhượng quyền thương mại và
trường hợp nhượng quyền cửa hàng cà phê của Gloria Jeans tại thị trường
Việt Nam. Cụ thể :
- Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại cửa hàng cà phê
Gloria Jeans tại thị trường Việt Nam
- Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền
trong nước.
Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp nhượng
quyền thương mại sở hữu thương hiệu nổi tiếng và chất lượng.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp
duy vật lịch sử , phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích , phương
pháp thống kê và phương pháp so sánh để giải quyết câu hỏi của đề tài đặt ra.
Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu , khóa luận, tài liệu tham khảo, danh mục viết tắt
và danh mục bảng biểu , khóa luận gồm 3 chương :
Nhượng quyền thương mại hay còn được gọi là franchise (từ gốc tiếng
Pháp là “franc” có nghĩa là tự do), là hình thức kinh doanh đã được nhiều
nước trên thế giới áp dụng. Trong quá trình sử dụng hình thức nhượng quyền
thương mại , các quốc gia đã đưa ra được những khái niệm , định nghĩa cụ thể
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào hình thức
hoạt động nhượng quyền. Tuy nhiên do có sự khác biệt về môi trường kinh tế,
chính trị và pháp luật, ngôn ngữ nên các quốc gia thường đưa ra những khái
niệm khác nhau. Từ đó, có thể đưa ra một số khái niệm tiêu biểu sau :
- Theo hiệp hội nhượng quyền kinh doanh quốc tế IFA( The
International Franchise Association ): “ Nhượng quyền thương mại là mối
quan hệ theo hợp đồng giữa bên giao và bên nhận quyền, theo đó bên nhượng
quyền đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên
nhận trên các khía cạnh: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên. Bên nhận
nhượng quyền hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, hình thức, phương pháp
kinh doanh do bên giao sở hữu hoặc kiểm soát và bên nhận đang, hoặc sẽ tiến
hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình".
Như vậy có thể thấy , IFA đã đưa ra được định nghĩa khá cụ thể về hình thức
kinh doanh nhượng quyền thương mại, thể hiện rõ được các mối quan hệ về
nghĩa vụ và trách nhiệm của bên nhượng quyền và bên nhận nhượng quyền
thương mại.
- Theo ủy ban thương mại Hoa Kỳ ( The US Federal Trade
Commission – FTC) : “Một hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng
theo đó bên giao: hỗ trợ đáng kể cho bên nhận trong việc điều hành doanh
nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của bên
nhận, cấp giấy phép nhãn hiệu cho bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch
6
vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của bên giao và yêu cầu bên nhận thanh toán cho
bên giao một khoản phí tối thiểu”. Như vậy trong định nghĩa được nêu ra của
hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh,
biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền.
- Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền
trong việc điều hành công việc kinh doanh. “
Ngoài ra, để hướng dẫn chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng
quyền thương mại, chính phủ ban hành nghị định 35/2006/NĐ-CP và Bộ
thương mại ban hành thông tư 09/2006/TT-BTM hướng dẫn chi tiết đăng ký
hoạt động nhượng quyền thương mại. Có thể thấy, những cơ sở pháp lý trên
đây đã cung cấp một cách khá đầy đủ khái niệm, các nguyên tắc và hướng dẫn
cho việc tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển
Mầm mống phát triển của hình thức nhượng quyền thương mại xuất
phát từ thời La Mã cổ đại, trong một nỗ lực thu thuế, giới cầm quyền cho
phép một số người đi làm thay nhiệm vụ thu thuế trong một khu vực địa lý
được giao. Những nhà thu thuế này được phép giữ lại một tỷ lệ trên số tiền
mà họ thu được, và số còn lại thì giao lại cho chính quyền (Hoàng đế La Mã).
Như vậy, mối quan hệ rất sớm, sơ khai đầu tiên về nhượng quyền, trao quyền
đã được ghi nhận trong lịch sử mà sau này nó được mở rộng, phát triển thành
kinh doanh nhượng quyền thương mại.
Hình thức nhượng quyền thương mại chính thức ra đời tại Hoa Kỳ vào
giữa thế kỷ 19. Trong suốt thời kỳ nội chiến, mô hình đầu tiên được phát triển
khi Sewing Singer Machine, nhà sản xuất máy may thành lập một hệ thống
phân phối trên toàn thế giới.Từ thời gian đó, nhiều công ty mạnh dạn sử dụng
nhượng quyền thương mại để xâm nhập thị trường quốc tế. Một thời kỳ mới
của franchise bắt đầu năm 1950 khi Ray Kroc, một thương gia bán máy pha
chế thức uống quyết định đến San Bernadino, bang California thăm một
khách hàng vì vị khách này đã đặt mua tới 10 cái máy một lúc, trong khi một
cửa hàng bình thường chi cần trang bị một cái, Kroc ngạc nhiên khi thấy một
đoàn người xếp hàng chỉ đợi mua một chiếc bánh kẹp thịt được bán qua các ô
các thương hiệu nước ngoài như: Mc Donald's, KFC, Hard Rock Cafe,
9
Chilli's đồng thời đây là cứ địa đầu tiên để các tập đoàn này bán franchise ra
khắp Châu Á. Thông qua đó, hoạt động franchise của Trung Quốc trở nên
ngày càng phát triển, Chính phủ Trung Quốc đã thay đổi thái độ từ e dè
chuyển sang khuyến khích, nhiều thương hiệu đang được “đánh bóng” trên thị
trường quốc tế thông qua các cuộc mua bán, sáp nhập nhằm chuẩn bị cho kế
hoạch đẩy mạnh hoạt động nhượng quyền ra bên ngoài, được xem là một
trong những động thái quan trọng để phát triển nền kinh tế vốn đang rất nóng
của Trung Quốc.
Nhằm hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương
mại trên thế giới, nhiều tổ chức phi chính phủ đã được ra đời như hội đồng
nhượng quyền thương mại thế giới ( World Franchise Council ) ra đời vào cuối
năm 1994. Tổ chức uy tín và lâu đời nhất về nhượng quyền thương mại đó là
IFA được thành lập năm 1960, có khoảng 30.000 thành viên bao gồm các
doanh nghiệp bán, mua franchise. Thông qua các tổ chức này, nhiều hoạt động
có ích cho doanh nghiệp, cho các nền kinh tế quốc gia đã được thực hiện như:
- Tổ chức các hội chợ franchise quốc tế
- Xây dựng niên giám franchise khu vực, và trên toàn thế giới
- Hợp tác xuất bản các ấn phẩm chuyên ngành, các website để cung cấp
thông tin cho mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đến franchise
- Tư vấn, hỗ trợ, hợp tác và phát triển phương thức kinh doanh
franchise.
Nhượng quyền thương mại mới du nhập vào Việt Nam hơn một thập
kỷ, hứa hẹn có tiềm năng phát triển về lớn dựa trên những đánh giá về nhịp độ
tăng trưởng kinh tế, cơ cấu dân số trẻ và những chính sách tạo điều kiện thu
hút đầu tư thuận lợi từ phía nhà nước Việt Nam.
1.3. Các đặc điểm chính của nhượng quyền thương mại
hiệu sản phẩm của mình tới người tiêu dùng. Điển hình cho doanh nghiệp sở
hữu một thương hiệu nổi tiếng đó là KFC với hình ảnh chất lượng các món gà
rán thơm ngon và cung cách phục vụ thân mật và ân cần của đội ngũ nhân
viên tại các cửa hàng . Hơn nữa, các chiến lược marketing quốc tế của KFC
11
rất hiệu quả tập trung vào các thị trường có nền kinh tế đang phát triển, dân
số trẻ và có sức tiêu dùng cao như Trung Quốc, Indonesia,
Còn doanh nghiệp nhận nhượng quyền thương mại là các doanh nghiệp được
quyền sử dụng thương hiệu của doanh nghiệp chủ sở hữu thương hiệu đó
nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời và phải tuân thủ các điều kiện quy định
về kinh doanh do bên nhượng quyền yêu cầu. Một doanh nghiệp mua nhượng
quyền được gọi là một đơn vị nhượng quyền , một cửa hàng nhượng quyền.
Trên thị trường nhượng quyền kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp hay cá
nhân nhận nhượng quyền thường ở các quốc gia có sự khác biệt về văn hóa
ẩm thực và tiêu dùng. Chính sự khác biệt này tạo ra tiềm năng phát triển cho
các doanh nghiệp nhận nhượng quyền theo đuổi các chiến lược khác biệt hóa
nhằm chiếm lĩnh thị trường . Các doanh nghiệp nhận nhượng quyền thường là
các doanh nghiệp có quy mô lớn , có khả năng về tài chính cũng như nguồn
nhân lực có chuyên môn kinh nghiệm về nhượng quyền thương mại . Vì chỉ
khi đáp ứng được những tiêu chuẩn cơ bản này thì họ mới có cơ hội được
tham gia kinh doanh nhượng quyền thương mại.
Các doanh nghiệp nhượng quyền thương mại được thiết kế và trang trí
đồng nhất, hay gọi là tiêu chuẩn đồng bộ giữa các cửa hàng. Tất cả các hình
thức kinh doanh bên trong cửa hàng đều thống nhất với nhau theo một tỷ lệ ,
tiêu chuẩn, kiểu dáng như nhau. Chính sự đồng nhất này tạo được sự nổi bật
và gây được chú ý tới khách hàng và người tiêu dùng khi sử dụng tiêu dùng
sản phẩm của thương hiệu. Chẳng hạn như tại các cửa hàng gà rán của KFC,
màu trang trí đặc trưng đều là màu đỏ cánh gà, các bàn ăn thường được thiết
kế ngồi thoải mái, có hướng nhìn ra bên ngoài tạo cảm giác thư thái và thoải
nhượng quyền thương mại.
Tính mật thiết của mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận
nhượng quyền thể hiện từ ngay sau khi các bên hình thành nên quan hệ
nhượng quyền thương mại. Kể từ thời điểm đó, bên nhượng quyền phải tiến
hành việc cung cấp tài liệu, đào tạo nhân viên của bên nhận quyền. Không
chỉ vậy, mà cùng với sự lớn mạnh và phát triển theo thời gian của hệ thống,
13
bên nhượng quyền phải thường xuyên trợ giúp kỹ thuật, đào tạo nhân viên
của bên nhận quyền đối với những ứng dụng mới áp dụng chung cho cả hệ
thống.
1.3.4. Kiểm soát của bên nhượng quyền
Quyền kiểm soát của bên nhượng quyền đối với việc điều hành hoạt
động kinh doanh của bên nhận quyền được pháp luật đa số các quốc gia trên
thế giới thừa nhận. Theo đó, bên nhượng quyền có thể định kỳ hoặc đột xuất
kiểm tra việc thực hiện các quyền thương mại của bên nhận quyền. Sự hỗ trợ
của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền như đã nói ở trên sẽ trở nên vô
nghĩa và thiếu đi tính thực tế nếu như bên nhượng quyền không có quyền
năng kiểm soát hoạt động điều hành kinh doanh của bên nhận quyền. Quyền
năng này của bên nhượng quyền đã thực sự tạo nên chất kết dính quan trọng
trong việc xây dựng tính thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại
và sự ổn định về chất lượng hàng hoá và dịch vụ. Tuy nhiên, chính sự kiểm
soát chặt chẽ của bên nhượng quyền đôi khi gây ra sự cứng nhắc và thiếu linh
hoạt trong hoạt động kinh doanh của bên nhận nhượng quyền. Điều này đặc
biệt được thể hiện trong hoạt động nhượng quyền quốc tế, khi các bên nhận
nhượng quyền là các doanh nghiệp từ các quốc gia có nền kinh tế, văn hóa,
chính trị và tôn giáo khác nhau. Nếu thiếu linh hoạt trong việc kiểm soát có
thể dẫn tới việc gây ra nhiều phản cảm hay những cảm nhận không tốt không
những từ của đối tác nhận nhượng quyền mà còn cả những người tiêu dùng
sản phẩm của thương hiệu nhượng quyền đó.
nó cũng sẽ là những rủi ro rất lớn cho toàn bộ hệ thống kinh doanh cũng như
uy tín danh tiếng của thương hiệu.
1.4.2. Căn cứ vào hình thức hoạt động kinh doanh
- Nhượng quyền sản xuất: là loại hình nhượng quyền cho phép bên nhận
quyền được sản xuất và cung cấp ra thị trường các hàng hóa mang nhãn hiệu
của bên nhượng quyền. Trong nhượng quyền sản xuất, bên nhượng quyền
còn cung cấp cho bên nhận quyền những thông tin liên quan tới bí mật
thương mại hoặc những công nghệ hiện đại, thậm chí là cả những công nghệ
15
đã được cấp bằng sáng chế. Ngoài ra, bên nhượng quyền còn có thể hỗ trợ
bên nhận quyền ở một số khía cạnh như: hỗ trợ đào tạo, tiếp thị, phân
phối và các dịch vụ hậu mãi.
- Nhượng quyền dịch vụ : Nhượng quyền dịch vụ là nhượng quyền
trong các lĩnh vực hoạt động có tính chất dịch vụ như: sửa chữa, bảo dưỡng
ô tô, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng… Bên
nhượng quyền đã xây dựng và phát triển thành công một (hoặc một số) mô
hình dịch vụ nhất định mang thương hiệu riêng, bên nhận quyền sẽ được
cung ứng các dịch vụ ra thị trường theo mô hình hình và với thương hiệu
của bên nhượng quyền.
- Nhượng quyền phân phối : Trong nhượng quyền phân phối, mối quan
hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền có những điểm gần giống
như mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối, tức là bên nhượng
quyền sản xuất ra các sản phẩm sau đó bán lại sản phẩm cho bên nhận
quyền và bên nhận quyền sẽ phân phối trực tiếp sản phẩm tới người tiêu
dùng dưới thương hiệu của bên nhượng quyền. Chúng ta có thể dễ dàng
nhận thấy nhượng quyền phân phối thường gặp trong các lĩnh vực như
phân phối mỹ phẩm (Hệ thống cửa hàng phân phối mỹ phẩm VICHY,
LO’REAL…) hay phân phối nhiên liệu cho các loại xe máy, xe ô tô
(cửa hàng phân phối dầu nhờn CASTROL, CALTEX, EXXON).
quyền thương mại phù hợp cho doanh nghiệp mình.
1.5. Thuận lợi, khó khăn và thách thức của nhượng quyền thương mại tại
Việt Nam
1.5.1. Thuận lợi
Bên nhượng quyền :
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, vốn luôn là một mối lo ngại lớn
nhất khi muốn mở rộng hoạt động kinh doanh. Nhưng trong hệ thống
nhượng quyền, người bỏ vốn ra để mở rộng hoạt động kinh doanh lại chính
là bên nhận nhượng quyền. Điều này giúp cho bên nhượng quyền có thể mở
rộng hoạt động kinh doanh bằng chính đồng vốn của người khác và giảm chi
phí cho việc thâm nhập thị trường. Đồng thời việc phải bỏ vốn kinh doanh là
động lực thúc đẩy bên nhận quyền phải cố gắng hoạt động có hiệu quả, mang
17
lại nhiều lợi nhuận hơn cho bên nhượng quyền. Trung Nguyên là thương
hiệu nhượng quyền của Việt Nam đã mạnh dạn áp dụng hình thức nhượng
quyền thương hiệu cửa hàng cà phê của mình. Với hệ thống hơn 1000 cửa
hàng lớn nhỏ trên toàn quốc cho thấy được hiệu quả của việc quảng bá mở
rộng hoạt động kinh doanh của Trung Nguyên trong thị trường nội địa.
Thứ hai, mở rộng hoạt động kinh doanh một cách nhanh chóng. Ngày
nay, những sự thay đổi trên thị trường diễn ra rất nhanh, đặc biệt là tại thị
trường Việt Nam sau thời điểm gia nhập WTO. Người tiêu dùng có xu hướng
sử dụng những sản phẩm rẻ và dễ tìm kiếm hơn. Lẽ dĩ nhiên là nếu doanh
nghiệp Việt không thay đổi, phát triển và mở rộng cùng với thị trường thì sẽ
bị các đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp ngoại quốc qua mặt và chiếm
lĩnh thị phần. Sử dụng nhượng quyền thương mại sẽ nhanh chóng giúp các
doanh nghiệp Việt tìm kiếm được các thị trường mới và tiềm năng trong thời
gian ngắn nhất mà tối ưu được chi phí nhất. Điều đó thể hiện thông qua cơ
chế hoạt động của mô hình nhượng quyền khi các bên muốn được nhận
nhượng quyền phải có đạt được những tiêu chuẩn về kinh doanh nhất định thì
Thứ năm, tận dụng nguồn nhân lực. Bên nhận quyền sẽ là người bỏ vốn
ra kinh doanh và đây là động lực để thúc đẩy họ làm việc tốt hơn. Vì khi
người nhận nhượng quyền là chủ nên họ có trách nhiệm hơn. Nhờ vậy, bên
nhượng quyền tận dụng được nguồn nhân lực từ phía nhận quyền. Với cơ chế
quản lý kinh doanh vẫn còn ít nhiều ảnh hưởng từ thời bao cấp khiến cho các
doanh nghiệp Việt Nam không ít những khó khăn khi tham gia vào thị trường
quốc tế. Khi tham gia vào nhượng quyền thương mại, các doanh nghiệp sẽ
chủ động và sáng tạo hơn trước những áp lực về doanh số và chi phí, thúc đẩy
thay đổi phong cách làm việc và tư duy theo hướng chủ động và tích cực.
Ngoài ra, bên nhận quyền có thể tiếp cận những địa điểm mà bên
nhượng quyền không thể tiếp cận được và họ có thể nắm vững thông tin địa
phương hơn bên nhượng quyền. Việt Nam là nước đang phát triển có tốc độ
phát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng cao, việc kinh doanh nhượng quyền
không những giúp các doanh nghiệp nhượng quyền có quyền lựa chọn được
những vị trí đẹp và thuận lợi nhất để kinh doanh và quảng bá thương hiệu.
19
Bên nhận nhượng quyền :
Trước hết, đó là giảm thiểu rủi ro. Mục đích chủ yếu của nhượng quyền
chính là giảm thiểu rủi ro. Việc mở cửa hàng, cơ sở kinh doanh mới có nhiều
rủi ro và tỷ lệ thất bại không nhỏ. Lý do chính của tỷ lệ thất bại này là do
người quản lý là những người mới bước vào nghề, không có kinh nghiệm và
phải mất nhiều thời gian cho việc học hỏi các đặc trưng riêng của từng loại
hình kinh doanh. Khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền, bên nhận nhượng
quyền sẽ được huấn luyện, đào tạo và truyền đạt các kinh nghiệm quản lý, bí
quyết thành công của các loại hình kinh doanh đặc thù mà bên nhượng quyền
đã tích luỹ được từ những lần trải nghiệm trên thị trường. Bên nhận nhượng
quyền không phải trải qua giai đoạn xây dựng và phát triển thương hiệu ban
đầu. Bên nhượng quyền sẽ hướng dẫn bên nhận quyền các nguyên tắc chung.
Điều này cho thấy được sự thích hợp của nhượng quyền thương mại tại Việt
lược về giá cho sản phẩm của thương hiệu, tránh được những tổn thất từ biến
động lớn của thị trường.
1.5.2. Khó khăn
* Bên nhượng quyền
Thách thức lớn nhất mà bên bán nhượng quyền gặp phải nằm ngay
trong lợi thế của nó. Khi mạng lưới phân phối dày đặc rộng lớn tồn tại yếu
điểm với một số lượng lớn cửa hiệu nhượng quyền cách trở về địa lý, thông
tin thì việc quản lý của các nhà quản lý sẽ gặp trở ngại nhất là khi cần có sự
xử lý kịp thời và mang tính chuyên môn . Đôi khi chỉ là thái độ thiếu lịch sự
của một nhân viên một cửa hàng nhượng quyền hay vết bẩn trong món ăn dẫn
tới tổn hại chung cho cả thương hiệu và các đối tác trong hệ thống. Nhận thức
về văn hóa kinh doanh và tiêu dùng của người Việt chưa cao, do chỉ tập trung
vào những lợi ích trước mắt mà không chú ý đến mối quan hệ kinh doanh lâu
dài dẫn tới nhiều phản cảm từ khách hàng hay sự không hài lòng của đối tác
kinh doanh đối với thương hiệu được nhượng quyền .
Nguy cơ bị mất cắp bí quyết kinh doanh trong quá trình hoạt động
cũng là một thách thức đặt ra đối với nhà quản lý thương hiệu. Bên nhận