Bài tập lớn công nghệ sản xuất polystyren - Pdf 22

Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 1

Tiểu luận
Công nghệ sản xuất Polystyren
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ POLYSTYREN
I, Tính Chất Của Polystyren (PS)
PS thuộc nhóm nhiệt dẻo tiêu chuẩn, gồm có PS và PVC (poly vinylclorua).
PS cứng, trong suốt với độ bóng cao, không mùi, không vị. Khi cháy có nhiều
khói, giá thành rẻ, dễ gia công bằng phương pháp ép và đúc dưới áp suất.
Dưới 100
o
C, nguyên liệu PS đóng rắn lại giống như thủy tinh với nồng độ
thích hợp. PS có tính điện môi tốt, bền với nhiều hóa chất khi sử dụng, chịu
nước tốt. PS không phân cực do đó bền với các hóa chất phân cực và phân cực
mạnh.
Vì có nguyên tử H ở C bậc 3 linh động nên H này dễ tham gia phản ứng oxi
hóa vì thế PS nhanh bị lão hóa trong không khí khi có ánh sáng trực tiếp.Vòng
benzen có thể tham gia phản ứng sunfo hóa, nitro hóa… dùng để sản xuất nhựa

6
hex)

2,6 2,6 2,6 2,6
PS có thể tái chế và sử dụng lại trong nhiều lĩnh vực. Nhiệt độ nhiệt dẻo của
PS khoảng 80 - 100
o
C nên trong việc tái chế trực tiếp, ta chỉ việc cắt và làm vụn
ra thành những mảnh nhỏ sau đó được nhiệt dẻo, đem xử lý đóng khuôn để hoàn
tất sản phẩm. Ngoài ra trong một số trường hợp ta còn sử dụng phương pháp
nhiệt phân hoặc phương pháp phân giải bởi Hydrocracking. Sản phẩm của quá
trình là monome được sử dụng như nguyên liệu đầu trong công nghiệp hóa chất
dầu mỏ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường.
Một số yêu cầu sử dụng mang tính không thể thiếu như sự cân bằng quang
học tốt hơn, độ cứng, bền với hóa chất và nhiệt độ tốt, độ bền cao và xử lý linh
hoạt, màu sắc… rất phù hợp với PS. Vì vậy nó có ứng dụng rất rộng rãi trong
thực tế. Tuy nhiên PS có một nhược điểm rất lớn là chúng khá giòn, vì thế đã
làm giảm một phần phạm vi ứng dụng của nó.
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 3

II, Cấu Tạo Của Polystyren (PS)
Qua nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, đặc biệt là phương pháp nhiệt
phân PS thì thấy rằng PS có cấu trúc đầu nối đuôi.

PS ở nhiệt độ phản ứng không cao thì ít tạo nhánh và nhánh bé.
III, Phân Loại Và Ứng Dụng Của Polystyren (PS)
Theo cấu trúc, thông thường PS được chia thành 3 loại sau:
- PS tinh thể (GPPS)
- PS chịu va đập (HIPS)

- Vòng hạt
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 4

2. PS chịu va đập (HIPS)
Chất đàn hồi được trộn vào polystyrene, chủ yếu để làm tăng tính bền cơ
học. Kết quả là tạo ra vật liệu thường được gọi là PS chịu va đập (HIPS) và có
giá trị cho nhiều thứ khác nhau. Chất đàn hồi Polybutadiene có cấu trúc lập thể
điều hòa được sử dụng để điều chỉnh tính chịu va đập. Độ bền, tính chịu va
đập, độ trong, và các công nghệ chế biến khác nhau có ảnh hưởng tới hình
dáng sợi và sự phân tán trong pha nền polymer.
Polystyrene chịu va đập có thể được xử lý một cách dễ dàng bởi các công
nghệ chế biến nhiệt dẻo thông thường gồm công nghệ màng, công nghệ tấm và
các công nghệ: ép biên, ép nóng, đúc phun, đúc phun áp lực, và đúc thổi cấu
trúc.
Các ứng dụng khác nhau của HIPS được liệt kê dưới đây:
* Bao bì dập nóng
- Đựng thức ăn nhanh
- Cốc và nắp đậy
- Hộp đựng nước ép trái cây
và các sản phẩm sữa
* Ứng dụng công nghiệp
- Đường ống cho tủ lạnh
- Các bộ phận của máy
điều hòa không khí
- Cáp nối TV/băng ghi âm
- Đồng hồ treo tường
- Phụ kiện đồ điện
- Đĩa video và băng catset
- Đồ chơi, gót giày…

H
8
- CTCT:

 Styren rất dễ trùng hợp vì có nối đôi và vòng thơm, trong quá trình bảo
quản nên hạn chế tiếp xúc với ánh sáng, oxy, nhiệt độ. Thông thường khi bảo
quản ta cho 0,5  1,5% khối lượng hydroquinon vào làm chất ức chế trùng hợp.
1, Tính chất vật lý của Styren
- Styren là một chất lỏng trong suốt, không màu đến hơi vàng có mùi hắc,
khúc xạ ánh sáng mạnh.
- Khối lượng riêng ở 25
o
C: d = 0,9045 g/cm
3
- Độ nhớt (25
o
C):  = 0,7 cP
- Nhiệt độ sôi: t
s
= 145,2
o
C
- Nhiệt độ nóng chảy: t
nc
= -30,63
o
C
- Nhiệt độ bùng cháy: t
bc
= 34

2
O
3
, MgO); chất ức chế tạo cốc (K
2
O); chất khơi mào
(CuO, V
2
O
5
, AgO) và chất kết dính (Aluminat canxi).
 Tùy thuộc vào loại xúc tác sử dụng, quá trình có thể tiến hành trong
điều kiện đẳng nhiệt hoặc đoạn nhiệt.
Về mặt công nghệ, quá trình Dehydro hóa đẳng nhiệt khó thực hiện hơn
quá trình đoạn nhiệt, vì phải sử dụng thiết bị phản ứng loại ống chùm với
dòng trao đổi nhiệt tuần hoàn ở ngoài ống. Tuy nhiên quá trình này có ưu
điểm: nhiệt độ nguyên liệu đầu thấp hơn, tỉ số hơi nước/nguyên liệu đầu
thấp hơn so với quá trình đoạn nhiệt.
2.2.1.1 Dehydro hóa đoạn nhiệt

Hình 1: Sản xuất Styren bằng công nghệ Dehydro hóa đoạn nhiệt
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 7

Thuyết minh sơ đồ:
* Etylbenzenen mới và etylbenzen tuần hoàn được bốc hơi, trộn với 10%
hơi nước (vì trong lớp xúc tác, nhiệt độ phản ứng giảm 1
o
C khi độ chuyển
hóa tăng 1%, do vậy để thu được độ chuyển hóa cao phải thêm đáng kể một

Do etylbenzen và styren có nhiệt độ sôi rất gần nhau và styren có
khuynh hướng dễ dàng trùng hợp (ngay cả trong điều kiện chân không),
nên quá trình tách styren thô khỏi etylbenzen phải được thực hiện trong
các điều kiện sau:
+ Số đĩa lớn (60 – 70 đĩa) và chỉ số hồi lưu cao (6).
+ Thực hiện trong điều kiện chân không (7 30kPa) để giảm nhiệt độ
đáy tháp xuống dưới 108
o
C và tăng độ bay hơi tương đối.
+ Có mặt chất ức chế trùng hợp (lưu huỳnh hoặc dinitrophenol)
+ Độ giảm áp trong thiết bị ngưng tụ và trong các đĩa thấp.
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 8

- Tinh chế styren để thu styren thương phẩm: Tháp tinh chế styren khỏi
vết của etylbenzen và hydrocacbon nặng đòi hỏi điều kiện mềm hơn: 20 đĩa,
nhiệt độ đỉnh tháp 50
o
C, đáy tháp 105
o
C, tương ứng với áp suất 10 và 20kPa,
có sử dụng chất ức chế. Styren thu được có độ sạch 99,7 – 99,8%.
- Thu hồi etylbenzen chưa phản ứng, tuần hoàn lại thiết bị dehydro hóa
(60 đĩa): quá trình thực hiện trong tháp chưng ở áp suất khí quyển với nhiệt
độ đáy tháp 140
o
C.
- Xử lý phân đoạn nhẹ: tách benzen và toluen trong tháp chưng ở áp suất
khí quyển, nhiệt độ đáy tháp 115
o

– CH
3
+ O
2
 C
6
H
5
– CHOOH – CH
3
- Phản ứng tỏa nhiệt, không sử dụng xúc tác. Tuy nhiên, cần sử dụng
các hợp chất có tính kiềm (như CaCO
3
hoặc CaCO
3
) để trung hòa axit
tạo thành và ngăn cản sự phân hủy hydropeoxyt.
- T
pu
= 125  155
o
C; P = 1,5 MPa để duy trì môi trường phản ứng trong
pha lỏng.
(b) Epoxy hóa Propylen trong pha lỏng với sự có mặt có mặt của xúc tác
đồng thể (Molypden Naphtenat), hoặc xúc tác dị thể (các oxyt kim loại
như Mo, V, Ti mang trên SiO
2
).

(c) Hydro hóa hydropeoxyt còn lại và sản phẩm phụ axetophenon thành

 C
6
H
5
– CH = CH
2
+ H
2
OQuá trình xảy ra trong pha khí ở T = 250
o
C, P = 0,2  0,3 Mpa, với
xúc tác axit (10  15% trọng lượng mang trên TiO
2
hoặc Al
2
O
3
).
b, Công nghệ
Công nghệ sản xuất styren và propylen oxyt từ etylbenzen và propylen
bao gồm các giai đoạn sau: Oxy hóa, Epoxy hóa, Hydro hóa, Dehydrat hóa.
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 10 Hình 3: Công nghệ Oxyran sản xuất Styren và Propylen oxyt từ
Etylbenzen và Propylen


Đây là quy trình sản xuất monome styren (SM) dùng cho sản xuất
polyme, gồm có quy trình Lumus UOP “cổ điển” cho các nhà máy mới và
quy trình Lumus UOP “thông minh” cho các nhà máy cải tạo sửa chữa.
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 12

Hiện nay, trên thế giới có 36 nhà máy đang vận hành với công nghệ
Lumus UOP “cổ điển” và 3 nhà máy áp dụng công nghệ Lumus UOP “thông
minh”.
Mô tả quy trình:
Ở quy trình cổ điển, etylbenzen (EB) được tách hydro với sự tham gia của
xúc tác và hơi nước để tạo thành styren. Phản ứng được thực hiện ở nhiệt độ
cao và trong chân không. EB (mới nạp liệu và hồi lưu) được kết hợp với hơi
nước quá nhiệt, tiếp đó hỗn hợp này được tách hydro trong một hệ phản ứng
nhiều bậc (1). Một thiết bị gia nhiệt trung gian sẽ tái gia nhiệt khí công nghệ
giữa các bước phản ứng. Các dòng phản ứng được làm lạnh để thu hồi nhiệt
thải, đồng thời ngưng tụ hydrocacbon và hơi nước. Khí thải không ngưng tụ
chứa chủ yếu hydro được nén lại và sử dụng làm nhiên liệu. Hydrocacbon từ
thiết bị tách dầu/nước (2) được đưa đến bộ phận cất. Phần ngưng tụ được
stripping để loại bỏ các hydrocacbon thơm tan lẫn vào.
Quá trình cất phân đoạn nối tiếp (3, 4) tách được styren sản phẩm có độ
tinh khiết cao, EB chưa chuyển hóa được tuần hoàn trở lại và sản phẩm phụ
với tỷ lệ tương đối nhỏ là hắc ín được dùng làm nhiên liệu.Toluen được sản
xuất ở thiết bị (5, 6) được đưa ra từ đáy (6) như một sản phẩm phụ thứ yếu
và benzen lấy ra ở đỉnh (6) thông thường được tuần hoàn trở lại phân xưởng
EB.
Thông thường, độ tinh khiết của sản phẩm momome styren đạt 99,85 –
99,95%. Quy trình này có hiệu suất thu hồi sản phẩm cao do có sự kết hợp
độc đáo chất xúc tác và các điều kiện vận hành trong các thiết bị phản ứng

Dòng EB mới nạp liệu được bay hơi và dòng EB tuần hoàn được phối trộn
với hơi quá nhiệt (1) và nạp vào một hệ phản ứng đoạn nhiệt nhiều bậc (2).
Giữa các bậc tách hydro, nhiệt được bổ sung để điều khiển độ chuyển hóa
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 14

EB ở các mức có lợi, thông thường là giữa 60  70%. Nhiệt có thể được bổ
sung gián tiếp bằng các phương thức thông thường như một dòng hơi trao
đổi nhiệt hay bổ sung trực tiếp theo công nghệ gia nhiệt trực tiếp được phát
triển bởi Shell Oil.
Các dòng của TBPƯ được làm lạnh trong thiết bị trao đổi nhiệt (3) để thu
hồi nhiệt thải và tới thiết bị ngưng tụ (4) để ngưng tụ hydrocacbon và dòng
hơi. Khí thải không ngưng tụ - chủ yếu là hydro được nén ở (5) và sau đó
đưa thẳng đến hệ thống hấp thụ (6) để thu hồi các vết hydrocacbon thơm,
Sau khi thu hồi hydrocacbon thơm, khí thải giàu hydro được sử dụng làm
nhiên liệu cho các quá trình đun nóng. Hydrocacbon ngưng tụ và styren thô
được đưa đến bộ phận chưng cất, trong đó phần ngưng tụ được stripping ở
(7) để loại bỏ các hydrocacbon và khí hòa tan. Phần ngưng sạch của quá
trình được hồi lưu trở lại làm nước cấp cho nồi hơi để tạo ra các dòng hơi.
Ở thiết bị chưng cất (8) đầu tiên tách được sản phẩm phụ benzen/toluen từ
dòng giàu styren thô. EB chưa chuyển hóa được tách khỏi styren ở (9) và
được tuần hoàn trở lại bộ phận phản ứng. Các hệ thống thu hồi nhiệt khác
nhau được dùng để thu hồi năng lượng từ hệ thống tháp EB/SM. Bước tinh
chế cuối cùng ở (10), các thành phần C
9
dạng vết và các sản phẩm nặng được
tách khỏi sản phẩm SM cuối cùng. Để giảm tối đa phản ứng polyme hóa
trong thiết bị chưng cất người ta nạp một chất ức chế dạng dinitrophenolic
cùng với styren thô. Độ tinh khiết của sản phẩm SM thường đạt 99,90 
99,95%.

nhiều hơn.
- Ở các quy trình xử lý xăng nhiệt phân thông thường, styren thường bị
phân hủy ở phân xưởng hydro hóa bậc đầu tiên. Sau đó, xăng nhiệt phân đã
hydro hóa được cất phân đoạn để chiết benzen và toluen. Với quy trình của
GTC cho phép tiến hành cất phân đoạn đầu dòng ở các thiết bị xử lý với
hydro, nhờ đó giảm tiêu hao hydro và ngăn hiện tượng bám tạo cặn trên xúc
tác bởi các polyme của styren. Trong nhiều trường hợp, phần lớn các thiết bị
cất phân đoạn có thể tái sử dụng trong bộ phận thu hồi styren.
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 16

II. Các phương pháp sản xuất Polystyren
1. Lý thuyết trùng hợp Styren
Trong sản xuất, Styren chỉ trùng hợp theo cơ chế trùng hợp gốc và thu được
polyme có cấu tạo chủ yếu là liên kết đầu – đuôi và ở dạng vô định hình. Trong
nghiên cứu, người ta có sử dụng trùng hợp ion tạo PS tinh thể hầu hết ở dạng
Izotactic, một phần ở dạng Syndiotactic, rất ít ở dạng Atactic.
Styren dễ trùng hợp khối, trùng hợp dung dịch, trùng hợp nhũ tương và trùng
hợp huyền phù. Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm của nó.
1.1 Trùng hợp khối
Trùng hợp Styren thành khối có thể tiến hành khi đun nóng có chất khởi đầu
hoặc không có chất khởi đầu.
Chất khởi đầu thường là các peroxit hữu cơ. Benzoyl peroxit là chất khởi
đầu rất phổ biến nhưng không thích hợp khi trùng hợp styren vì nó làm vàng
sản phẩm.
Tốc độ trùng hợp tăng theo nhiệt độ ở nhiệt độ dưới 50
o
C vận tốc trùng hợp
rất chậm (có khi đến hàng năm), ở 150
o

CO
2
sử dụng như một chất kháng dung môi được thực hiện ở 335K và 10Mpa.
Kết quả chỉ ra rằng, cùng với chất kháng dung môi CO
2
, khối lượng phân tử và
sự phân bố khối lượng phân tử của sản phẩm có thể được điều khiển bởi sự
thay đổi áp suất của chất kháng dung môi.
CO
2
siêu tới hạn (SC CO
2
- Supercritical CO
2
) có khả năng tan chảy lớn vào
nhiều loại vật liệu không bay hơi và khả năng hòa tan của nhiều hợp chất vào
SC CO
2
là cực kỳ thấp.
Thành phần của dung môi khí – lỏng thay đổi cùng với áp suất của khí, tức
là các thuộc tính của dung môi có thể được điều chỉnh liên tục bằng áp suất.
Trong mục này, Styren được polyme hóa trong THF hoặc Xyclohexan cùng
với CO
2
sử dụng như một chất kháng dung môi. Chúng ta sẽ nghiên cứu ảnh
hưởng của chất kháng dung môi CO
2
lên các thuộc tính của sản phẩm và sự
thay thế một phần các dung môi hữu cơ sử dụng trong phạm vi hàm lượng CO
2


Hình 1: Sơ đồ thiết bị quá trình Polyme hóa
1 Bình nén khí; 2,4,6– Van; 3 Bơm phun cao áp; 5 Áp kế; 7 Điều khiển
nhiệt độ; 8 Tế bào quang học; 9 Bể nước; 10 Máy khuấy từ
b.3 Mô tả đặc điểm
M
w
– Khối lượng một phân tử khối trung bình
M
n
– Số lượng phân tử khối trung bình
PID = M
w
/ M
n
– Chỉ số mức độ phân tán của sự phân bố khối lượng phân tử.
c. Kết Quả
c.1 Cố định tỉ số monome/dung môi
Bảng 1: Mw, Mn, PDI và hiệu suất của polystyren trùng hợp trong THF
trương nở ở các áp suất khác nhau của CO
2
a

a

Điều kiện PƯ: 335 K, 16 h, nồng độ AIBN (sau khi trương nở với CO
2
) là
0.06 mol.l
−1

phân bố khối lượng phân tử của polystyren với sự có mặt của CO
2
không
những là do ảnh hưởng của sự pha loãng monome mà còn do sự thay đổi các
tính chất của môi trường polyme hóa.
c.2 Cố định nồng độ monome khơi mào
Bảng 3: Kết quả trùng hợp Styren trong CO
2
– THF (nồng độ thể tích chất khơi
mào của monome trong dung môi trương nở là 33%)
aBảng 4: Kết quả trùng hợp Styren trong CO
2
– xyclohexan (nồng độ thể tích
chất khơi mào của monome trong dung môi trương nở là 50%)
aNhận xét: Số liệu ở bảng 3 và bảng 4 chỉ ra rằng Mw, Mn, PDI và hiệu suất
cũng giảm với sự tăng VER hoặc áp suất của CO
2
ở nồng độ monome cố định.
Những kết quả này chứng minh điều cuối cùng là sự giảm Mw, Mn, PDI và
hiệu suất của polystyren với sự có mặt của CO
2
không chỉ do sự pha loãng
monome. Các tính chất của sản phẩm có thể được điều chỉnh bằng áp suất của
chất kháng dung môi CO


Xyclohexan – CO
2
(CH – CO
2
)
 Từ hình trên ta thấy đối với cả hai dung môi thì khối lượng phân tử và sự
phân bố khối lượng phân tử giảm với sự tăng VER
d. Kết luận
Cùng với chất kháng dung môi CO
2
, hiệu suất, khối lượng phân tử, sự phân
bố khối lượng phân tử và chỉ số phân tán của polyme có thể được điều khiển
bởi sự thay đổi áp suất của CO
2
.
1.3 Trùng hợp nhũ tương
Nhũ tương gồm có: monome, nước, chất nhũ hóa, chất khởi đầu và chất
điều chỉnh sức căng bề mặt.
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 22

Cơ chế trùng hợp nhũ tương: chất nhũ hóa khi tan trong nước tạo thành các
Mixen hình cầu mà ở đó các đầu không ưa nước của phân tử nhũ hóa sẽ hướng
vào trong và các đầu ưu nước hướng ra ngoài. Các phân tử chất khởi đầu tan
trong nước tạo thành các gốc tự do nhờ phần ưa nước của chất nhũ hóa đi vào
Mixen và tiếp tục với các phân tử monome để xảy ra các phản ứng trùng hợp.
+ Nước: là môi trường phân tán cũng là chất tải nhiệt để điều chỉnh nhiệt
phản ứng tỏa ra.
+ Chất nhũ hóa: để giữ monome và polyme mãi ở trạng thái phân tán trong

metylxenluylo… chúng phải hoàn toàn không tan trong monome. Vai trò của nó
là làm tăng độ nhớt của nước và do đó ngăn cản các hạt polyme dính vào nhau.
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 23

2. So sánh ưu, nhược điểm của các phương pháp trùng hợp
PP Trùng hợp Ưu điểm Nhược điểm Trùng hợp khối

- Phương pháp đơn giản
- Tạo sản phẩm tinh khiết
- Vận tốc phản ứng cao, năng suất
lớn
- Có thể trùng hợp ngay trong khuôn
mẫu tạo sản phẩm có hình thù phức
tạp
- Dễ bị nhiệt cục bộ do độ
nhớt cao
-Tính dẫn nhiệt kém
- Sản phẩm dạng khối nên
lấy sản phẩm và gia công
khó
- Tăng độ đa phân bố về
khối lượng phân tử (KLPT) TH Dung dịch
- Không có hiện tượng nhiệt cục bộ


3. Phương pháp sản xuất Polystyren
3.1 Trùng hợp khối
Công nghệ quá trình khối không sử dụng nước hay dung môi hữu cơ và đó
là quá trình đơn giản nhất để sản xuất PS.
a, Phương pháp gián đoạn
Quá trình gồm 2 giai đoạn:
Bài tập lớn Công nghệ sản xuất Polystyren
Nhóm 8 – Lọc hóa dầu K52 Page 24

- Giai đoạn 1: trùng hợp sơ bộ Styren ở áp suất thường sau đó tạo chân
không 200  270 mmHg và đun nóng. Khi hiệu suất phản ứng đạt khoảng 30 
40% tiến hành làm lạnh đến 70  80
o
C và rót vào khuôn có dung tích từ 5  10
lít.
- Giai đoạn 2: trùng hợp xirôp trong khuôn nhỏ nhờ đun nóng. Sau đó tháo
sản phẩm ra rồi đem đi đập, nghiền, sàng và đóng bao.

Hình 4: Sơ đồ trùng hợp khối gián đoạn của Polystyren
Mô tả quy trình:
Monome Styren sạch (và comonome, nếu một sản phẩm copolyme được
mong muốn) được bơm từ bể chứa (1) đến thiết bị hòa tan nguyên liệu (2). Đối
với các sản phẩm của loại polystyren chịu va đập, cao su polybutadien vụn được
thêm vào thiết bị hòa tan nguyên liệu, ở đây cao su được tan chảy trong dòng
styren nóng. Hỗn hợp được khuấy trộn từ 4  8h để hòa tan hoàn toàn cao su. Từ
thiết bị hòa tan nguyên liệu hỗn hợp được đưa vào thùng khuấy trộn (3), thường
là một lò phản ứng tiền polyme hóa để trộn các chất phản ứng. Một lượng nhỏ
dầu khoáng (ví dụ như dầu nhờn và chất hóa dẻo), dime của alpha – metylstyren
(như một chất điều chỉnh polyme hóa), và một chất chống ôxy hóa được thêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status