Cảm nghĩ về nhà thơ trào phúng tú xương - Pdf 22

Sau khi Nguyễn Huệ mất, Nguyễn Ánh cướp ngôi rồi đăng cơ, trị vì đất nước.
Ngay từ thời khắc lịch sử ấy, sự biến chuyển từ một đất nước phồn thịnh, no đủ
sang một đất nước lầm than, loạn lạc mà đứng đầu là bộ máy phong kiến nhà
Nguyễn ngày càng thối nát, mục ruỗng diễn ra. Đạt đến hệ quả cao nhất chính là
mất hoàn toàn chủ quyền dân tộc dưới tay thực dân Pháp – kẻ được lịch sử khiếp
sợ nhắc đến: “Khi Thực Dân Pháp đi qua nơi đâu, nơi đó sẽ không còn gì hết”. Sự
khôn ngoan của chúng làm mờ mắt dư luận thế giới, nhưng không thể cản được
sức mạnh của một số ít những Cựu học tâm huyết, dám nói và bảo vệ quan điểm
yêu nước của mình. Nhờ đó mà chúng ta có thể hiểu rõ được tính bi kịch của đất
nước và xã hội đương thời; sự ảnh hưởng sâu sắc từ chế độ Thực dân nửa Phong
kiến tới toàn thể người An Nam, dẫn đến đỉnh điểm của sự tha hóa, hoặc bế tắc,
tuyệt vọng. Kẻ sĩ được sùng bái nhất thời bấy giờ chính là Tú Xương – một ánh
sao vụt sáng trên bầu trời văn chương nước Việt. Dù ông đã khuất núi hơn một
trăm năm nay, xương cốt đã hóa cát bụi từ thuở nào, nhưng những làn sóng thơ của
ông vẫn mãi vọng trong nền văn học nước nhà, chính như lời Xuân Diệu nói:
“Ông nghè, ông thám vô mây khói,
Đứng lại văn chương một tú tài.”
Đương thời, Tú Xương thường làm thơ ứng tác đọc cho bạn bè nghe, chính
bản thân ông cũng không ghi chép lại. Nhờ có những người hâm mộ ông dùng trí
nhớ viết lại mà đến nay có khoảng trên 100 bài tin là thơ Tú Xương.
Ngày hôm nay, chúng tôi được đến thăm Vị Xuyên thuộc Mỹ Lộc, Thành
Nam( Nam Định) – nơi gia đình Tú Xương sinh sống và cũng chính là nơi ông từ
biệt cõi đời sau 37 năm hưởng dương. Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương, hồi
nhỏ được cha mẹ gọi là Trần Duy Uyên. Do có có trí thông minh hơn người, năm
15 tuổi đã lều chõng đi thi hương, lấy tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích. Vì thi trượt
nhiều lần, ông từng được gọi là Cao Xương.
Người xưa có câu: “đọc thơ Xương, ăn chuối ngự”. Thơ Tú Xương đa dạng về
cảm xúc “khi cười, khi khóc, khi than thở” chính là từ tấm lòng của ông với cuộc
đời, nỗi căm ghét, khinh bỉ những thứ xấu xa, nhơ bẩn; là sự đơn độc của một tâm
hồn cô đơn, bất lực chưa tìm được lối thoát; là những xót xa, cay đắng trước những
mất mát không thể cứu vãn nổi. Cho đến khi, không nén nổi trong lòng, ông chỉ

nhích của đám quan này. Cái nước da “đen kịt” của ông Phòng thành, cái cổ “lang
ben” của viên Đốc học, thói lang chạ của vợ quan Bố Chánh, con đường làm quan
của chú Hàn Lâm, đã trở thành biếm họa chân dung đặc sắc. Tiếp đó, không thể
không nhắc tới “công lao” của Thực dân Pháp ngày đêm dùng đủ hình thức tra tấn
thể xác lẫn tinh thần của nhân dân ta, bức dân ta thay đổi phong tục tập quán, dấu
dư luận, xóa bỏ văn hóa của ta.
Đứng trước thời sự hỗn tạp, Tú Xương cũng như những Cựu học khác, khó tìm
ra lối đi cho mình. Cũng như khi chúng ta chọn nghề cho tương lai vậy, thứ mình
giỏi chưa chắc phù hợp với mình, thứ phù hợp với mình thì chưa chắc mình giỏi,
và rồi may mắn chúng ta được xã hội giúp chỉ ra những con đường. Tú Xương
cũng vậy, vốn kiến thức Nho học của ông mấy ai sánh bằng, nhưng tư tưởng của
ông quá cách tân, quá mới mẻ so với sự bảo thủ của chế độ phong kiến, bên cạnh
đó ông cũng vẫn rất ngập ngừng không biết nên làm quan cho triều đình để có
được tiếng thơm muôn đời, thỏa chí làm trai nhưng lại phải phục vụ cho bộ máy
nhà nước thối nát, nhu nhược kia? Hơn nữa, đây là xã hội với chế độ Thực dân –
nửa Phong kiến cho nên Tú Xương mặc nhiên trở thành một người thừa, chẳng ăn
nhập vào đâu. Giả như chế độ phong kiến vẫn tồn tại, nhất định Trần Tế Xương rất
dễ trở thành một nhân vật nổi loạn như Cao Bá Quát. Xã hội không tiếp nhận ông,
ông lại càng không cần hòa nhập với xã hội! Đó là lý do dẫn đến khuynh hướng ăn
chơi trong thơ ông. Thực ra cái gọi là hành lạc mà ông nói ra cũng không hẳn tất cả
là sự thật. Những thứ ấy chỉ thể hiện ông rất có ý thức về hành vi của mình, ông
muốn dùng ngay những điều đó để giễu đời, giễu thiên hạ, không muốn che đậy
thói xấu của mình như những nhà thơ khác. Và rồi, không như chúng ta, cả xã hội
đều loạn lạc và ông cũng bị cuốn theo, hoàn toàn không có lối thoát, cả cuộc đời đi
vào ngõ cụt, bế tắc. Có một lần, ông đã sinh hờn dỗi: “ngủ quách sự đời thây kẻ
thức”. Nhưng ông nào làm được như thế! Vẫn thường trực ngóng chờ một âm
thanh thức tỉnh.
Nơi chúng tôi đang đứng, là nơi xưa kia nhà thơ từng dạt dào cảm xúc về nỗi
niềm yêu thương đối với tổ quốc rộng lớn phảng phất qua những câu thơ về phong
vị quê cảnh Nam Định: những phố Hàng Song, sông Vị Hoàng, núi Gôi Thơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status