Chất lãng mạn trong mảnh trăng cuối rừng của nguyễn minh châu - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bài giữa kì: Môn văn học Việt Nam từ 1945 đến nay
Đề tài: Chất lãng mạn trong “Mảnh trăng cuối rừng”
của Nguyễn Minh Châu
SVTH: Nhóm 5 lớp Sư phạm văn 4A
GVHD: Thầy Bạch Văn Hợp
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 10 năm 2014
1
DANH SÁCH NHÓM 5
1. Đào Thị Huyền Chinh K37.601.012
2. Mai Thị Dinh K37.601.015
3. Trần Thị Duyên K37.601.019
4. Nguyễn Thị Linh K37.601.048
5. Cao Thị Mùi K37.601.057
6. Lê Thị Trà My K37.601.058
7. Hoàng Thị kiều My K37.601.059
2
Lời mở đầu
I. Khái quát chung
1. Bối cảnh lịch sử, xã hội …………………………………………………… 5
2. Giới thiệu về tác giả tác phẩm…………………………………………… 6
2.1: Tác giả ………………………………………………………………… 6
2.2: Tác phẩm……………………………………………………………… 11
3. Cơ sở lí luận………………………………………………………………. 11
3.1: Khái niệm lãng mạn …………………………………………………… 12
3.2: Biểu hiện của lãng mạn trong văn học 1945 đến nay…………………. 12
II. Các khía cạnh biểu hiện chất lãng mạn trong “ Mảnh trăng cuối rừng”
1. Nhan đề truyện……………………………………………………………. 13
2. Không gian và thời gian………………………………………………… 14
3. Nhân vật chính……………………………………………………………. 16

hạnh phúc ngay chính trên mảnh đất mà xưa kia là chiến trường khốc liệt. Những
điều đó qua cây bút của các nhà văn nhà thơ đã hiện lên thật sinh động qua bức
tranh nhiều màu sắc của hiện thực cuộc sống, qua bức tranh đó các nhà thơ nhà văn
dường như muốn khẳng định rằng: “Chính trong chiến đấu gian khổ người ta lại
càng hi vọng, càng cần tìm cho mình một niềm tin và niềm tin ấy không gì khác là
lòng tin, tình cảm của con người dành cho nhau mà nhất là tình yêu”.
4
I. Khái quát chung
1.Bối cảnh lịch sử
Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra trên đất nước ta một thời kì lịch
sử mới: thời kỳ độc lập tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngày 2 tháng 9 năm
1945 tại Hà Nội, chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa độc lập và thống nhất. Đầu năm 1946 một cuộc bầu cử toàn quốc
đã được tổ chức. Tuy nhiên, nền độc lập kéo dài không được lâu, ngày 23- 9- 1945
được sự giúp sức của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng đánh úp trụ sở Ủy ban
Nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược
Việt Nam lần hai. Từ đó nhân dân ta lại tiếp tục chiến đấu để giành lại nền độc lập.
Sau khi chiếm đóng cả đô thị ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp thực
hiện kế hoạch tiến quân ra Bắc nhằm thôn tính cả nước ta. Tháng 2- 1946 Chính
phủ Pháp và chính phủ Trung hoa Dân quốc kí hiệp ước Hoa- Pháp thỏa thuận việc
quân Pháp ra Bắc thay quân Trung hoa giải giáp quân Nhật. Ngày 6- 3- 1946 Chủ
Tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa kí với Pháp
hiệp định sơ bộ. Đến ngày 14- 9- 1946 Hồ Chí Minh kí với Pháp bản Tạm ước,
nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hóa. Sau một thời gian
dài nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đến năm
1954 cùng với sự chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ và việc kí kết hiệp
định Giơ- ne- vơ đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp lâu dài và anh dũng của
dân tộc. Theo hiệp định này thì sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất
Việt Nam, tuy nhiên sự kiện này đã không thể diễn ra, đế quốc Mỹ với ý đồ xâm
lược nước ta từ lâu, đã lợi dụng thời cơ, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy

tiếp vào Việt Nam. Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập khối
ASEAN, APEC…, ngày 7/11/2006 đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO.
2. Giới thiệu về tác giả tác phẩm
2.1:Tác giả: Nguyễn Minh Châu
a. Cuộc đời
Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, quê ở làng Văn Thai, tên nôm là làng Thơi,
xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Theo lời kể của vợ ông, bà
Nguyễn Thị Doanh, tên khai sinh của Nguyễn Minh Châu là Nguyễn Thí. Chỉ tới
khi đi học, bố mẹ mới đổi tên cho ông thành Minh Châu. Trong những ghi chép
cuối cùng, Ngồi buồn viết mà chơi ông viết trong những ngày nằm viện ở Bệnh
viện Quân y 108, Nguyễn Minh Châu tự nhận xét về mình: "Từ lúc còn nhỏ tôi đã
6
là một thằng bé rụt rè và vô cùng nhút nhát. Tôi sợ từ con chuột nhắt cho đến ma
quỷ. Sau này lớn lên, đến gần sáu chục tuổi, đến một nơi đông người tôi chỉ muốn
lẻn vào một xó khuất và chỉ có như thế mới cảm thấy được yên ổn và bình tâm như
con dế đã chui tọt vào lỗ". Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với
bằng Thành chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc
Kháng tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sỹ quan lục quân
Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu
đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là
trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường
Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn
nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp
vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972. Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23 tháng
1 năm 1989 tại Hà Nội, thọ 59 tuổi
b. Sự nghiệp văn học
Năm 1959, Nguyễn Minh Châu đi dự hội nghị bạn viết toàn quân, 1960 được điều
động về cục Văn hóa quân đội, rồi về tạp chí Văn nghệ quân đội vừa làm biên tập
vừa làm phóng viên. Tại đây, Nguyễn Minh Châu bắt đầu viết văn và cho in những
truyện ngắn đầu tay nhưng chưa gây được sự chú ý.

c. Quan niệm sang tác trước và sau 1975
* Trước 1975.
Với quan niệm con người mang vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng, của khuynh hướng
sử thi và cảm hứng lãng mạn, ở thời kì trước 1975, Nguyễn Minh Châu đã xây
dựng nên những hình mẫu nhân vật mang đậm cảm quan nghệ thuật của nhà văn.
Con người trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu trước hết là con người có lí tưởng
sống cao đẹp, ý thức được tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của cuộc kháng
chiến chống Mĩ. Cô giáo Thùy trong Cửa sông (1966) đã “dành một phần nhỏ thì
giờ biên thư cho các học sinh của mình hiện đang ở các đơn vị bộ đội” vì đã tự coi
mình như “một người con gái ở hậu phương có nhiệm vụ đem đến cho họ những
lời động viên, có nhiệm vụ săn sóc các chiến sĩ ngoài mặt trận”. Thùy luôn cố
gắng “tìm cách không tách mình ra khỏi cái guồng máy sinh hoạt chung của nhân
dân đang hối hả chuyển sang thời chiến” bởi như thế là ích kỉ, là coi trọng hạnh
phúc cá nhân . Những người lính trong “Dấu chân người lính” (1972) đều xác định
được trách nhiệm cao cả của thế hệ mình trước tiếng gọi thiêng liêng của non sông.
Khung cảnh bề bộn, dựng lửa của chiến trường “trước đây vài tháng, khi anh còn
mài gót giày trên những chặng đường đi dài dằng dặc của núi Trường Sơn, anh
như đã trông thấy, hình như nó đang vẫy gọi, đang giục giã anh và đồng đội của
anh bằng tất cả sức mạnh quyến rũ không thể nào lường được. Không chỉ sống có
8
lí tưởng và nhận thức được vai trò của mình trong cộng đồng, con người của văn
học kháng chiến chống Mĩ còn thể hiện lí tưởng và nhận thức ấy thành hành động,
ý chí. Các nhân vật của Nguyễn Minh Châu thường được đặt trong những hoàn
cảnh thử thách ngặt nghèo, trước những tình huống phải lựa chọn giữa sống và
chết để “càng làm kiên định ý chí cách mạng và bộc lộ sáng chói chủ nghĩa anh
hùng” (Nguyễn Văn Long). Nguyệt, cô gái đi nhờ xe trong Mảnh trăng cuối
rừng(1970), đã để cả quần áo “nhanh nhẹn lội phăng sang bên kia bờ giúp tôi cột
dây tời vào một gốc cây”, đã nấp ở mé ngoài để che chở cho Lãm vì “Anh bị
thương thì xe cũng mất, anh cứ nấp đó!”, đã bình tĩnh, rành rọt chỉ đường cho Lãm
và khi bị thương vẫn tươi tỉnh, xinh đẹp. Là con người của chủ nghĩa anh hùng,

dưỡng hoài bão xây dựng quê hương giàu đẹp nhưng đã biết bám rễ trên mảnh đất
hiện thực.
d. Đóng góp
Với hai chặng đường sáng tác ở hai giai đoạn văn học trước và sau 1975, Nguyễn
Minh Châu có những đóng góp to lớn cho nền văn học hiện đại. Các tiểu thuyết và
truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trước 1975 khá tiêu biểu cho thành tựu, đặc
điểm và giới hạn của nền văn học sử thi thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Đặc biệt,
sau 1975 Nguyễn Minh Châu là một trong những “người mở đường tinh anh và tài
năng nhất” (Nguyên Ngọc) của công cuộc đổi mới văn học. Ở Nguyễn Minh Châu,
sự đổi mới mạnh mẽ trong ý thức nghệ thuật luôn đi liền với những tìm tòi đổi mới
trong sáng tác của nhà văn. Người đi tiên phong ấy không tránh khỏi những khó
khăn nguy hiểm, thiệt thòi và sự đơn độc trong những bước khởi đầu của hành
trình tìm kiếm mở đường. Điều quan trọng là Nguyễn Minh Châu “với sự dũng
cảm rất điềm đạm” (Vương Trí Nhàn) đã kiên trì dẫn bước trên con đường đã chọn
của mình. Và ông xứng đáng là “người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn
xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ sau này”.
(Nguyễn Khải). Những đóng góp của Nguyễn Minh Châu trong vai trò người mở
đường cho công cuộc đổi mới văn học được thể hiện chủ yếu ở các phương diện
sau:
- Đổi mới tư duy nghệ thuật
- Mở rộng quan niệm hiện thực và mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời
sống.
- Ý thức cao độ về trách nhiệm của nhà văn
- Ý thức về tự do sang tạo của nhà văn
- Đổi mới cách nhìn và khám phá về con người
10
- Những tìm tòi, đổi mới trong tư duy nghệ thuật tự sự
2.2: Tác phẩm
a. Hoàn cảnh sáng tác: Thời kì đầu của cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của
đế quốc Mỹ.

khẩu hiệu của cách mạng Pháp”. Sự sụp đổ của chế độ phong kiến và thiết lập một
quan hệ xã hội mới đã ảnh hưởng tới tư tưởng, tình cảm của mọi tầng lớp trong xã
hội. Trong xã hội vô hình có hai luồng tư tưởng, một bộ phận luyến tiếc cho chế độ
cũ, một bộ phận khác thì hi vọng vào một chế độ mới. Trong thư gửi cho Ăngghen,
Mác viết : “Sự phản ứng đầu tiên đối với cách mạng Pháp và đối với các nhà tư
tưởng cso lien quan đến cách mạng Pháp là một điều rất tự nhiên, tất cả đều mang
màu sắc thời Trung cổ, tất cả đều mang màu sắc lãng mạn”. Trong bối cảnh đó chủ
nghĩa lãng mạn đã ra đời, mà chủ nghĩa lãng mạn tích cực ra đời sau chủ nghĩa
lãng mạn tiêu cực.
- Trong nền văn học Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn có mầm mống từ cuối thế kỉ
XIX nhưng được biết đến với đầy đủ đặc trưng trong phong trào Thơ mới, tiểu
thuyết Tự lực Văn đoàn trong giai đoạn văn học 1930 – 1945. Chủ nghĩa lãng mạn
trong văn học có thể hiểu là : “một khuynh hướng cảm hứng thẩm mỹ được khởi
nguồn từ sự khẳng định cái tôi cá nhân cá thể được giải phóng về tình cảm, cảm
xúc và về trí tưởng tượng” (Nguyễn Đăng Mạnh, Lịch sử văn học Việt Nam 1930
– 1945, nxb Đại học Quốc gia).
3.2: Biểu hiện của lãng mạn trong văn học 1945 đến nay
- Đối với chủ nghĩa lãng mạn, cảm xúc đau buồn, sầu não được xem là những tình
cảm đẹp.
- Đề tài dễ gây cảm hứng là tình yêu, thiên nhiên và tôn giáo.
- Nhân vật trung tâm:
Con người lí tưởng của chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực thoát li thực tế, quay về với
quá khứ, hoặc đi vào ảo mộng, hoặc thu mình trong cái tôi nhỏ bé. Đối với chủ
nghĩa lãng mạn tích cực tăng cường ý chí con người với cuộc sống, thức tỉnh lòng
bất phục tùng với thực tại, đối với mọi đè nén áp bức.
- Nguyên tắc khắc họa tính cách:
12
Nhân vật trong chủ nghĩa lãng mạn tích cực với cái vỏ ngoài phi thường của hình
tượng, vẫn chứ đựng những nét điển hình của con người đương thời. Nhiều tính
cách nhân vật còn là phân thân của chính tác giả.

nhưng mới ở bước sơ khai nhen nhóm và hứa hẹn tương lai sẽ tròn đầy như mảnh
trăng khi khuyết rồi tròn.
Tựa đề tác phẩm cũng gợi nên bao điều đáng nghĩ: Mảnh trăng cuối rừng, chỉ một
mảnh trăng thôi chứ không phải là vầng trăng. Vẻ đẹp của vầng trăng rất toàn vẹn,
trong sáng, rõ ràng và viên mãn, còn mảnh trăng thì chỉ lấp lóe một chút ánh sáng,
khi ẩn khi hiện, chập chờn mở ảo gợi bao sự tò mò bí mật. Và “mảnh trăng” được
xác định rõ không gian, ở tận “cuối rừng” làm ánh sáng càng như xa hút, gợi lên sự
khát khao tìm kiếm và vươn tới. Trăng đầu tháng chưa thật trăng, giống cuộc gặp
gỡ của đôi trai gái họ yêu nhau gặp nhau mà như chưa gặp chưa yêu. Hình ảnh của
trăng theo thời gian sẽ tròn đầy còn hành trình tình yêu của họ cũng phải theo thời
gian để kiến tạo thành kết quả. Vì lẽ đó mà Mảnh trăng cuối rừng trở thành biểu
tượng giàu vẻ đẹp ẩn dụ, Mảnh trăng ấy luôn soi vào câu chuyện, toả ánh sáng thơ
mộng xuống cảnh sắc, con người và diễn biến của truyện. Hình ảnh mảnh trăng
cuối rừng gợi một không gian khuất lấp, quên lãng, hoang vắng, nhưng chính ở nơi
đó, mảnh trăng vẫn lặng lẽ tồn tại và toả sáng.Ngay chính nhan đề là thông điệp mà
Nguyễn Minh Châu gửi tới người đọc: ánh trăng tượng trưng cho cái đẹp đó là cái
đẹp của không gian, cái đẹp tâm hồn con người luôn tồn tại trong mọi không gian,
hoàn cảnh, mà con người không tự nhận biết được. Dù cái đẹp đó chưa tròn đầy,
vẹn nguyên nhưng nó có sức mạnh bừng sáng không gian, bừng sáng vẻ đẹp khuât
lấp, ẩn giấu của con người. Và vẻ đẹp ấy ở đây chính là sức sống bền bỉ dẻo dai ẩn
khuất trong con người bất chấp sự hung bạo của hoàn cảnh.
2. Không gian và thời gian
Phát hiện khung cảnh với không gian lung linh huyền ảo ánh trăng đầu tháng trong
lửa đạn chiến tranh. Không gian của câu truyện dần dần hiện lên qua lời kể của
người kể chuyện, chính là anh thanh niên lái xe, nhân vật chính trong câu truyện và
trong truyện ta bắt gặp không chỉ một mà là hai không gian. Thứ nhất đó là không
gian nơi kể truyện và thứ hai đó là không gian trong câu truyện. Với không gian
thứ hai ta lại bắt gặp hai khung cảnh hiện lên, đó là khung cảnh buổi đêm trên
đường lái xe trong khu rừng đầy bom đạn dưới ánh sáng của “Mảnh trăng khuyết
đứng yên ở cuối trời sáng trong như một mảnh bạc”, và khung cảnh buổi sáng ở

xe hiểu nhầm và cho rằng cô gái đó không giống những cô gái làm ở công trường.
Và thời gian, khung cảnh đã xóa mờ đi tất cả, dưới khu rừng vắng lặng, âm u và
khoảnh khắc im lặng của chiến tranh, chính ánh sáng của mảnh trăng cuối rừng đã
soi thấu và làm bừng sáng lên vẻ đẹp tâm hồn của con người. Cô gái là người con
15
gái xinh đẹp, tế nhị, dịu dàng và cũng vô cùng anh dũng, dưới sự ác liệt của chiến
tranh - những trận mưa bom cô gái đã vượt ngầm dẫn xe qua, bị thương nhưng vẫn
làm công tác chỉ đường… Có thể nói rằng chính trong khung cảnh rừng sâu, nguy
hiểm mọi vẻ đẹp được soi sáng và trở thành óng ánh lung linh con người lung linh,
tình yêu cũng đẹp và lung linh.
- Khung cảnh thứ hai: đó là khung cảnh ở ngầm đá xanh nơi những nữ thanh niên
xung phong ngày đêm anh dũng chọn đá xây cầu, làm công tác thông đường cho
những chuyến xe. Tại đây thời gian là buổi ngày, không gian là trong khu rừng với
biết bao nguy hiểm nhưng tại đây có một sự lạc quan, vui tươi của những cô gái
thanh niên xung phong. Họ gọn gàng ngăn nắp, đoàn kết và vui tươi. Nơi đây cũng
là nơi ghi nhận lại chiến tranh có thể tàn phá rất nhiều thứ, gây ra những mất mát
đau thương vô cùng nhưng chiến tranh không thể làm mờ đi tình người, tình yêu và
những giấc mơ, khát vọng của con người.
Với những không gian thật đặc biệt, tác giả Nguyễn Minh Châu đã tạo nên những
nét riêng thấm đẫm chất thơ, chất lãng mạn trong sự ác liệt của chiến tranh. Câu
truyện hoàn toàn là một tình huống bất ngờ và tác giả đã sắp xếp nó thật tự nhiên,
khéo léo; một sự ngẫu nhiên mang tính quy luật. Nhan đề và không gian của câu
truyện góp phần làm bật nội dung và tạo hấp dẫn tò mò nơi người đọc. Thêm vào
một chút ánh sáng từ mảnh trăng, Nguyễn Minh Châu đã làm tăng tính lãng mạn
thêm rất nhiều cho câu chuyện tình và quả vậy, câu chuyện mang đầy vẻ lãng mạn
khi đặt vào giữa núi rừng Trường Sơn hiểm trở, nơi đầy tiếng đạn bom và sự hủy
diệt.
3. Nhân vật chính
a. Nhân vật “ Nguyệt”
Nguyệt- nhân vật trung tâm của tác phẩm và với với vẻ đẹp lý tưởng đã trở thành

thấy những ánh sáng xanh ở trên đầu, Lãm ngỡ rằng đó là pháo sáng báo hiệu địch
sắp thả bom, nhưng Nguyệt lại rất bình thản nói với Lãm: “Không phải đâu. Trăng
đó anh ạ”. Lời nói của cô thật dứt khoát và cũng thật mạnh mẽ, đúng như ấn tượng
ban đầu của Lãm, ẩn sâu bên trong tấm thân mảnh dẻ của cô lại là một tinh thần
dũng cảm vững vàng, sẵn sàng vượt lên tất cả, cô đã tự tin mà nói với Lãm rằng:
“Anh đã cho em đi nhờ xe, lúc khó khăn lại bỏ anh ư!”. Đúng vậy, Nguyệt không
bỏ Lãm lúc khó khăn mà hơn thế cô còn cùng Lãm vượt qua nó. “Nguyệt đứng
bám bên cánh cửa hướng dẫn cho tôi đi đúng giữa hai hàng cọc tiệu”. Như chính
Nguyệt tuyên bố đây là “địa bàn” của mình, khi thì cô xuống xe để chỉ hướng cho
Lãm chạy, khi thì lại ở trên xe hướng dẫn anh. Sự can đảm, kiên cường trong trận
mạc, dày dạn kinh nghiệm nơi chiến trường càng làm cho vẻ đẹp của Nguyệt chói
sáng và anh dũng hơn. Nguyệt xứng đáng là một người lính gan góc và dũng cảm.
17
Phẩm chất chiến sĩ và trái tim cao đẹp của Nguyệt đã được tác giả miêu tả qua
nhiều chi tiết, cô hiểu rõ quy luật hoạt động của máy bay địch, sự táo bạo thông
minh khi cho xe Lãm vượt hố bom, rồi dũng cảm che chắn cho đồng đội lúc bom
rơi, lao ra cứu xe…Tất cả đã hợp lại thành con người Nguyệt, một nữ chiến sĩ và
cũng là một thiếu nữ khao khát yêu thương.
Phải nói rằng Nguyệt đẹp quá, đẹp cả những lúc bị thương. “Nguyệt nhìn vết
thương, cười. Khuôn mặt hơi tái nhưng vẫn tươi tỉnh và xinh đẹp.” Những lúc như
vậy Nguyệt cho người đọc cảm nhận được sự lạc quan và bình thản trong tâm hồn
cô. Trước sau Nguyệt không hề bị bom đạn làm cho tính cách biến dạng, ngôn ngữ,
cử chỉ và hành động của cô đều rất ý tứ nết na và duyên dáng. Đặc biệt phải nói
đến vẻ đẹp của Nguyệt được thể hiện trong tình yêu. Đó là mối tình mà cô ấp ủ bao
lâu cho một người con trai chưa hề gặp mặt một lần, chỉ biết về Lãm qua lời kể của
chị Tính và những lá thư. Ấy vậy mà Nguyệt lại giành cho Lãm một tình cảm thật
sâu đậm, bao nhiêu năm qua đi, bom đạn, chiến tranh và hoàn cảnh hết sức khắc
nghiệt nhưng sự thủy chung, niềm tin Nguyệt giành cho người lính lái xe vẫn
không hề thay đổi. Tình yêu của Nguyệt và Lãm đã được nhà văn xây dựng hết
sức lãng mạn. Qua hai năm chị Tính đi học rồi lại quay lại chiến trường, tưởng

yêu và niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, chính cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy dù cho
bao nhiêu bom đạn giội xuống đi chăng nữa thì cũng sẽ không thể đứt, không thể
nào tàn phá nổi. Nguyệt- mảnh trăng cuối rừng ấy, là biểu tượng cua tuổi trẻ một
thời hiến dâng tuổi xuân cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Thời chiến
tranh cũng đã đi qua, những năm tháng ác liệt của bom đạn cũng không còn nữa
nhưng Nguyệt- hạt ngọc mà Nguyễn Minh Châu đã khám phá ra bằng ngòi bút tài
hoa của mình thì vẫn luôn ngời sáng.
b. Nhân vật “Lãm”
Cũng như nhân vật Nguyệt, Lãm là một thanh niên sống có trách nhiệm, có lí
tưởng, sẵn sàng hi sinh hạnh phúc riêng tư cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Điều
này thể hiện ở việc anh trốn nhà đi bộ đội, xuất ngũ rồi lại tái ngũ khi Tổ quốc cần.
Anh là chiến sĩ chở hàng ra tiền tuyến. Đối với công việc, anh là người vô cùng
nghiêm túc, nguyên tắc, không để việc công và việc tư lẫn lộn. Mặc dù phân vân
không biết người ngồi bên cạnh mình có phải cô Nguyệt mà chị mình nhắc tới hay
không? Ai là người mà anh sắp tìm đến? hàng loạt câu hỏi xuất hiện trong đầu anh
lính lái xe, thế nhưng vì nguyên tắc trong khi làm nhiệm vụ, anh “không muốn đi
sâu vào câu chuyện riêng giữa chuyến công tác”. Chiến tranh luôn tàn khốc, bom
đạn không có mắt, những người chiến sĩ có thể hi sinh bất cứ lúc nào. Hình ảnh
anh Lãm hiện lên thật bình tĩnh, dũng cảm. Khi đối mặt với làn đạn “nghe rát cả
mặt” của địch, “quay tròn trên đầu như xay lúa, rất thấp, thả pháo sáng và bắn hai
mươi ly” nhưng mặc, anh cứ chạy. Anh không hề sợ hi sinh, việc anh nghĩ đến
chính là cứu xe khỏi trận bom tọa độ ấy. Qua hình ảnh của Lãm, hình ảnh đất nước
19
hiện lên trung thực, trung thực trong thực tại, trung thực cả trong những phẩm chất
truyền thống. Hình ảnh con người hiện lên bình dị, gần gũi nhưng sáng ngời vẻ đẹp
khác thường, vẻ đẹp lí tưởng.
Trái ngược với sự nguyên tắc, có phần cứng nhắc trong công việc, trong Lãm vẫn
có phần lãng mạn. Tự ngượng khi ngồi bên Nguyệt, nhầm trăng thành pháo sáng
“già đời trong nghề lái xe, bom đạn nguy hiểm gặp đã nhiều, tôi vốn không phải
anh nhút nhát, vậy mà không hiểu sao đêm nay nhìn trăng ra pháo sáng!”. Rồi anh

một ánh mắt, một cử chỉ, một giọng nói, tiếng hát là người ta có thể yêu nhau. Con
người có thể yêu nhau từ cái phút gặp gỡ ban đầu, yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên,
như mối tình của Romeo và Juliet chẳng hạn, yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng
tôi chưa từng thấy ai yêu nhau như hai nhân vật chính trong “Mảnh trăng cuối
rừng”, yêu nhau khi chưa thấy mặt nhau, chưa biết người mình yêu hình hài thế
nào,… họ yêu nhau giữa mưa bom bão đạn, giữa xa xôi cách trở. Họ có niềm tin
vào tình yêu, bởi có lẽ khi đã yêu rồi trái tim họ luôn chung thủy hướng về nhau.
Có lẽ bởi chính niềm tin vào tình yêu đã nâng đỡ họ vượt qua mọi khó khăn của
đời sống thường ngày hoàn thành tốt nhiệm vụ, hăng say, nhiệt huyết với cuộc
sống và chiến đấu để họ yêu. Với Lãm, tình yêu trong anh đối với Nguyệt dấy lên
mạnh mẽ xem lẫn niềm cảm phục khi anh cùng Nguyệt đưa xe vượt qua trong đêm
tối dưới làn bom đạn của quân thù. Chứ trước đó Nguyệt đối với anh chỉ là sự tò
mò tìm hiểu về một người con gái qua sự giới thiệu của chị Tính. Nhiều khi vì bận
công việc nên anh cũng hờ hững và thậm chí là quên Nguyệt luôn, nhưng nhiều khi
trong lòng anh, trong tâm trí anh lại xuất hiện hình ảnh tưởng tượng về cô Nguyệt
làm cùng tổ với chị Tính. Trong thư gửi chị Tính, anh cũng hỏi thăm Nguyệt, rồi
hẹn gặp cô. Đặc biệt Lãm càng quý mến Nguyệt khi biết Nguyệt yêu mình, chung
thủy và chờ đợi để được gặp mặt anh. Khi chị Tính viết thư cho Lãm nói rằng bao
nhiêu năm qua Nguyệt vẫn chờ anh, từ chối lời ngỏ của những người khác vì anh
thì Lãm cảm thấy “sung sướng và cảm động”, rồi anh thấy “hạnh phúc” nữa. Tại
sao Lãm lại có những cảm giác đó? Bởi vì chính ngay trong trái tim anh đã có chút
nào đó bóng dáng của Nguyệt, luôn chờ và mong chờ một người con gái mà “qua
bấy nhiêu năm sống giữa bom tàn đạn phá” “mà vẫn giữ bên lòng mình hình ảnh
một người con trai chưa hề gặp và chưa hứa hẹn một điều gì. Đối với Nguyệt,
Nguyệt khác Lãm. Nguyệt trong tác phẩm là cô gái đã yêu Lãm từ đầu, một tình
yêu nhẹ nhàng, âm thầm , im lặng nhưng vô cùng mãnh liệt. Ngay từ đầu người
21
đọc đã thấy Nguyệt yêu Lãm thật lòng, thật dạ, quyết tâm đợi Lãm, chờ Lãm dù
chưa biết mặt Lãm ra sao, tính cách thế nào. Chỉ là qua sự giới thiệu của chị Tính,
vậy mà Nuyệt yêu Lãm. Ngay ở giữa cái thời hiện đại này, cơ hội gặp nhau là tất

ngát hương tình dịu ngọt giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt. Đóa hoa ngát
hương tình đó đã làm tan biến đi cái khốc liệt của chiến tranh để không gian chiến
22
trường trở nên thơ mộng, lãng mạn. Tình yêu của Nguyệt và Lãm đã nâng đỡ con
người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để sống, chiến đấu và quan trọng là để yêu
thương nhau nhiều hơn.
Gấp lại từng trang của truyện ngắn, dư vị ngọt ngào của tình yêu vẫn còn đọng lại
mãi. Người đọc tin chắc rằng Nguyệt và Lãm sẽ gặp nhau trong một ngày không
xa, sẽ đến được với nhau bởi giữa họ có sợi chỉ xanh óng ánh mà chiến tranh
không thể nào làm đứt nổi- TÌNH YÊU.
23
III. Kết luận
Đề tài về tình yêu luôn là đề tài được các nhà thơ, nhà văn khai thác ở nhiều khía
cạnh nhiều chiều sâu. “Mảnh trăng cuối rừng” cũng viết về đề tài tình yêu nhưng là
tình yêu trong thời chiến tranh loạn lạc, nhưng tình yêu ấy đẹp lắm đẹp hơn mọi
thứ trên thế gian này. Tình yêu mà hai nhân vật chính trong tác phẩm dành cho
nhau là tình yêu được xuất phát từ sự chờ đợi, niềm tin và cả hi vọng nữa. Nguyệt -
Mảnh trăng cuối rừng ấy, là biểu tượng của tuổi trẻ một thời hiến dâng tuổi xuân
cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngợi ca nhân vật của mình ngòi bút
nhà văn ngợi ca chính những con người mới mang trong mình lẽ sống lý tưởng
trong sáng. Mối tình Nguyệt - Lãm trong truyện là tình yêu lý tưởng, nó là tiếng
nói khẳng định tình yêu và niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống chiến đấu của lớp trẻ
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tình yêu ấy như một sức mạnh lớn
lao không gì tàn phá nổi. Hai lần nghĩ của Lãm về tình yêu như một phép điệp
quen thuộc, làm nổi rõ một vấn đề day dứt của con người giữa thời kỳ lịch sử bi
thương: "Trong tâm hồn người con gái nhỏ bé tình yêu, niềm tin mãnh liệt vào
cuộc sống - cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy bao nhiêu bom đạn dội xuống cũng không
thể nào tàn phá nổi cũng không hề đứt ư ?”. Nguyễn Minh Châu đã tiếp thêm sức
mạnh cho tình yêu Nguyệt – Lãm, cũng chính là tiếp thêm sức mạnh cho tình yêu,
lòng tin vào nhau của những con người trong cuộc chiến tranh khốc liệt ấy hay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status