Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ]
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
MUÏC LUÏC
Lời mở đầu
Chương 1. Văn hóa Ấn Độ
1.1 Văn hóa 4
1.1.1 Khái niệm văn hóa 4
1.1.2 Văn hóa kinh doanh 5
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nền văn hóa Ấn Độ 6
1.2.1 Vị trí địa lý 6
1.2.2 Địa hình 6
1.2.3 Khí hậu – Tài nguyên thiên nhiên 9
1.3 Văn hóa Ấn Độ 10
1.3.1 Ngôn ngữ 10
1.3.2 Tôn giáo 11
1.3.3 Truyền thống - Phong tục 14
1.4 Văn hóa Ấn Độ theo 5 khuynh hướng văn hóa của Geert - Hofstede 16
1.4.1 Khoảng cách quyền lực 17
1.4.2 Né tránh sự không rõ ràng 18
1.4.3 Tính mềm mỏng và tính cứng rắn 18
1.4.4 Chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa cá nhân và định hướng dài hạn 19
Chương 2. Con người Ấn Độ và mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ
2.1 Con người và doanh nhân Ấn Độ 21
2.1.1 Con người Ấn Độ 21
2.1.2 Doanh nhân Ấn Độ 24
2.1.3 Tính cách người Ấn và doanh nhân Ấn Độ 26
2.1.4 Sự khác biệt của doanh nhân Ấn Độ với thế giới 28
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 2 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
LÔØI MÔÛ ÑAÀU
Ấn Độ là một đất nước có lịch sử từ lâu đời. Thế giới nhìn nhận Ấn Độ như là một trong
những nền văn hóa phát triển rực rỡ nhất của văn minh nhân loại. Trong lịch sử, Ấn Độ
đã phát triển nền văn hóa của họ đến mức rực rỡ hàng ngàn năm trước công nguyên.
Ngày nay những di sản ấy vẫn còn. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người Ấn Độ đã và
đang đóng góp rất nhiều vào kho tàng văn hóa nhân loại. Không chỉ là thơ ca, nghệ thuật,
tư tưởng triết học, những công trình kiến trúc nổi bật… mà nổi bật nhất là bao thế hệ con
người tài hoa đang duy trì văn hóa của họ và đóng góp ngày càng nhiều cho nhân loại.
Ấn Độ là một quốc gia Nam Á, có diện tích ngày nay vào khoảng hơn 3,3 triệu km
2
, xếp
hạng thứ 9 thế giới. Biên giới trên bộ Ấn Độ giáp với nhiều nước như Pakistan, Trung
Quốc, Myanma, Bănglađét… và phần lớn nữa giáp Ấn Độ Dương. Ấn Độ tuy không có
đường biên giới trực tiếp giáp với Việt Nam, nhưng bán đảo Đông Dương lại nằm trên
bán đảo Trung Ấn. Về mặt dân số thì Ấn Độ hiện nay đứng hàng thứ 2 thế giới sau Trung
Quốc nhưng tương lai có thể vượt Trung Quốc. Dân số Ấn Độ hiện nay có cơ cấu dân số
vàng và còn duy trì trong nhiều năm nữa.
Người Ấn Độ nổi tiếng với các điệu múa, phụ nữ ăn mặc cầu kì và họ có nhiều điểm thú
vị. Có một người khi lên một diễn đàn về du lịch nói rằng: sang Ấn Độ, anh ta trông thấy
một phiến bia đá của đế quốc Anh ca ngượi người Anh đã anh hùng khi đánh tan quân
mọi rợ Ấn Độ và thống trị đất nước Ấn suốt nhiều năm. Nếu như ở Việt Nam, ngay sau
vọng lớn trong tương lai, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, người Ấn Độ ngày nay nói
tiếng Anh là chủ yếu, khoảng cách địa lý lại không quá xa. Đó là các yếu tố mà doanh
nhân cả hai nước cần đặc biệt phải quan tâm.
Việc Việt Nam chậm trễ trong quan hệ kinh tế với Ấn Độ là một sai lầm về tầm nhìn.
Nhận thấy việc nghiên cứu về Ấn Độ có nhiều điều thú vị. Chúng ta biết quá ít về Ấn Độ
mà đã dành quá nhiều sự “ưu ái” không đáng cho Trung Quốc. Thực sự đây có thể là một
con đường mới dù rằng con đường này chúng ta nên đi từ lâu. Tức là Việt Nam ngày nay,
nhất là các doanh nhân cần hiểu nhiều hơn về Ấn Độ và hợp tác với họ. Trong mọi quan
hệ, nếu quan hệ kinh tế tốt đẹp thì có thể dẫn tới nhiều ích lợi khác. Giao thương ngay từ
trong lịch sử đã được coi trọng và ngày nay vẫn vậy. Hiểu nhau và giao lưu với nhau sẽ
dẫn tới nhiểu lợi ích cho cả hai.
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 4 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Chương 1
Văn hóa Ấn Độ
1.1 Văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận
và đánh giá khác nhau.
Theo định nghĩa của UNESSCO: Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này
khác với dân tộc kia. Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc
trưng về tâm hồn, vật chất, trị thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong
xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung
sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo
dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm
độ sâu sắc hơn, văn hoá là những giá trị mặc nhiên được chia sẻ trong một nhóm người,
ấn định cái gì quan trọng, cái gì tốt và cái gì xấu. Những giá trị này nhất quán với quy tắc
nhóm, nghĩa là các quy tắc xử sự phản ánh các giá trị, và ngược lại, các giá trị phản ánh
quy tắc xử sự.
Với cách tiếp cận về văn hóa như trên, có thể hiểu: Văn hoá kinh doanh một hệ thống các
giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá
trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng
đồng hay khu vực nào đó.
Văn hoá kinh doanh là những giá trị văn hoá gắn liền với hoạt động kinh doanh. Các giá
trị văn hóa này được dùng để đánh giá các hành vi, do đó, được chia sẻ và phổ biến rộng
rãi giữa các thế hệ thành viên trong doanh nghiệp như một chuẩn mực để nhận thức, tư
duy và cảm nhận trong mối quan hệ với các vần đề mà họ phải đối mặt. Văn hoá kinh
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 6 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
doanh không chỉ tạo ra tiêu chí cho cách thức kinh doanh hằng ngày mà còn tạo ra những
khuôn mẫu chung về quan điểm và động cơ trong kinh doanh.
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nền văn hóa Ấn Độ
1.2.1 Vị trí địa lý
Nằm ở một khu vực tương đối biệt lập, phía bắc là dãy Himalaya sừng sững, phía nam là
biển rộng mênh mông đã tạo nên cho đất nước Ấn Độ một vị trí đặc biệt, ngăn cách với
thế giới xung quanh, cho nên Ấn Độ đã xây dựng được cho mình một nền văn hóa tương
đối biệt lập, ít chịu ảnh hưởng từ bên ngoài. Đồng thời, cũng do chính vì có địa hình núi
cao, biển rộng bao quanh nên hầu như người Ấn Độ ít quan tâm đến thế giới bên ngoài
lãnh thổ của mình, đồng thời ít có ý thức đối phó với giặc ngoại xâm từ bên ngoài tiến
vào.
Cảm giác “an tâm” với sự che chở của núi rừng Himalaya rộng lớn và đại dương mênh
người Hy Lạp. Cũng chính trong những núi rừng Himalaya này, những trường học tu tập
đã ra đời, nơi đây các thầy trò Upanishad thảo luận và tư duy về bí mật của nhân sinh, vũ
trụ. Qua nhiều thế kỷ, Himalaya cũng là nơi ghi lại nhiều dấu chân của những con người
từ bỏ cuộc sống trần tục để kiếm tìm và thực hiện khát vọng giải thoát (điều này được
xem như mục tiêu cao nhất của đời người). Himalaya dường như mãi mãi vẫn giữ sự xa
cách, thâm nghiêm, mãi mãi là một miền thần bí siêu thực và khêu gợi tâm linh với người
Ấn Độ. Con người càng trở nên nhỏ bé trước thiên nhiên hùng vĩ, bí ẩn, điều này khiến
cho đời sống tâm linh Ấn Độ trở nên phức tạp, đa dạng vô cùng. Trong kinh thánh Hindu,
Himalaya là nơi cư ngụ của thần Shiva và nàng Pavarti (con gái của Himalaya). Đứng
trước dãy núi cao vời vợi đó, người Ấn tự nhiên cảm nhận sự cao cả vô cùng của tinh
thần thuần khiết. Đối với người Ấn, Himalaya là ngôi đền tự nhiên, và những ngôi đền
khác cũng đã xây theo hình ảnh của nó. Có thể khẳng định rằng những tư tưởng lớn của
Ấn Độ đã nảy nở trong bối cảnh tĩnh mịch của núi rừng: “Điều kì diệu nhất chúng ta nhận
thấy ở Ấn Độ là tại đây rừng núi chứ không phải thành thị là ngọn nguồn của tất cả nền
văn minh của nó… chính núi rừng đã nuôi dưỡng hai thời đại lớn: thời Veda và thời Phật
giáo… dòng nước văn minh chảy từ những rừng núi đó đã tưới nhuần khắp cõi Ấn Độ”.
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 8 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Ấn tượng về Himalaya có thể nói là rất đậm nét trong tâm thức người Ấn Độ, không chỉ
là nơi ẩn thân tu hành của các bậc hiền triết, những tán rừng rậm nhiệt đới này còn dạy
cho người Ấn Độ bài học về cuộc sống, về mối tương quan chặt chẽ giữa vũ trụ và con
người.
Đồng bằng Ấn - Hằng
Ấn Độ được thiên nhiên ưu đãi ban cho một hệ thống sông ngòi phong phú, có tới 7 dòng
sông, có những dòng sông thuộc loại lớn nhất thế giới: Indus (sông Ấn), Ganga (sông
Hằng). Từ lòng chảo của hai con sông này đã hình thành dồng bằng Ấn - Hằng vĩ đại,
Cao nguyên Deccan
Cao nguyên Đêcan (Deccan) chiếm 2/3 diện tích lãnh thổ, nằm ở phía nam Ấn Độ, có độ
cao trung bình từ 300 - 900 m. Hai rìa phía đông và phía tây của Đêcan là núi Gat Đông
và Gat Tây dốc đứng về phía đại dương. Phía đông bắc Đêcan và phía tây của dãy Gat
Tây là rừng gió mùa; vùng núi cao, có rừng hỗn hợp ở chân núi, lên cao hơn là rừng lá
kim rồi đến đồng cỏ núi cao. Theo nghiên cứu, đây chính là nơi mà 3 tôn giáo chính của
Ấn Độ cùng tồn tại bên nhau, đó là Hindu giáo, Phật giáo và Thiên chúa giáo.
1.2.3 Khí hậu – Tài nguyên thiên nhiên
Do địa thế rộng lớn, địa hình đa dạng, Ấn Độ có nhiều vùng khí hậu khác biệt. Trên nền
chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa, phía Bắc Ấn Độ với Himalaya có tính chất của khí
hậu ôn đới, trong khi phía Nam tiến tới gần sát xích đạo lại là nhiệt đới điển hình. Phía
Đông và phía Tây ít nhiều ảnh hưởng của khi hậu đại dương. Cách Himalaya băng tuyết
chừng 100km là sa mạc Thar nóng bỏng. Trong khi đồng bằng Ấn – Hằng với lượng mưa
2000mm/năm thì cao nguyên Decan lại rất ít mưa. Nhìn chung ở Ấn Độ có những cực
đoan khí hậu: hạn – lụt (từ tháng 6 đến tháng 9 với 90% lượng mưa cả năm), nóng – lạnh
(52 độ, -15 độ). Từ đó có thể thấy rất rõ ảnh hưởng của khí hậu đối với tính cách và đời
sống tâm linh của họ. Trường phái thiền tọa, Yoga có lẽ cũng ra đời trong hoàn cảnh khắc
nghiệt ấy của thiên nhiên. Nếu như trong suốt cả mùa khô cái nắng cái nóng dai dẳng như
thiêu đốt, thì những giọt mưa do gió mùa mang tới chính là phúc lành và niềm ân huệ lớn
lao. Hơn tất cả những nơi có gió mùa khác, người Ấn khao khát và đón nhận những cơn
mưa đầu mùa thật rộn rã. Vì sau một thời gian dài khô nóng, lúc này thực sự là mùa xuân,
thời kì sống lại và sinh sôi của vạn vật cùng con người. Chính những đặc điểm về khí hậu
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 10 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
trên cũng đã quy định những đặc trưng trong văn hóa tâm linh Ấn Độ. Những người tu sĩ
lang thang ở Ấn chỉ đến mùa mưa mới dừng chân lại trên một mái nhà. Vào mùa mưa, do
thế giới và có tác động lên việc định hình văn hóa con người. Ngôn ngữ là một tài sản vô
giá. Và Ấn Độ phải tự hào rằng họ là quốc gia sử dụng nhiều loại ngôn ngữ nhất trên thế
giới. Theo thống kê, hiện có khoảng 7.000 ngôn ngữ đang tồn tại trên thế giới. Theo cuộc
điều tra dân số năm 2001, 1,16 tỷ dân Ấn Độ sử dụng tới 6.500 ngôn ngữ khác nhau.
Trong số đó, có khoảng 1.652 ngôn ngữ được coi là ngôn ngữ mẹ đẻ. Tuy nhiên, đa số
ngôn ngữ đó xuất phát từ hai nhóm ngôn ngữ chính là Ấn-Aryan (chiếm 74% dân số sử
dụng) và Dravidian (chiếm 24%), 2% còn lại dựa trên các nhóm Nam Á và Tạng-Miến.
Hai ngôn ngữ phổ biến nhất được dùng làm ngôn ngữ chính thức của Chính phủ và trong
giáo dục cao học là tiếng Hindi và tiếng Anh. Ngoài ra, 21 ngôn ngữ khác cũng được coi
là ngôn ngữ chính thức như tiếng Phạn, tiếng Sindh, tiếng Kannada… Sự đa dạng trong
ngôn ngữ này chắc chắn sẽ dẫn đến sự phong phú trong các phong tục, tập quán, hay nói
đúng hơn, sự phong phú và độc đáo của nền văn hóa Ấn Độ. Và thật vậy, khách quan đã
cho thấy, ở những nước có nhiều ngôn ngữ thì người ta cũng thấy rằng ở đó có nhiều nền
văn hóa khác nhau.
1.3.2 Tôn giáo
Tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến cách sống, niềm tin, giá trị và thái độ, thói quen làm việc
và cách cư xử của con người trong xã hội đối với nhau và đối với xã hội khác. Ở Ấn Độ,
tôn giáo và triết học cực kỳ phát triển, không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu
đã gọi Ấn Độ là “xứ sở của tôn giáo, xứ sở của tâm linh”. Ở Ấn Độ là sự hòa hợp, giao
thoa giữa nhiều trường phái triết học khác nhau, qua thời gian tạo nên một sự đa dạng
trong tôn giáo, tín ngưỡng của người Ấn Độ. Một số tôn giáo chính ở Ấn Độ có thể kể
đến như Hindu giáo (chiếm 80,5% dân số), Hồi giáo (chiếm 13,4%), Thiên Chúa giáo
(2,3%), đạo Sikh (1,84%), Phật giáo (0,76%), đạo Jaina (0,4%) và một số tôn giáo khác.
Đạo Hindu - Ấn Độ giáo
Đã nói đến tôn giáo ở Ấn Độ thì không thể không đề cập đến đạo Hindu – một thứ “tôn
giáo mẹ” đã đi cùng dân tộc Ấn trong suốt chiều dài 3.500 năm lịch sử, đồng thời tạo nên
những đặc trưng tính cách điển hình của con người nơi đây.
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ]
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 13 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Đạo Hồi đã đến với Ấn Độ lần đầu tiên vào năm 711, khi quân Hồi Giáo Ả Rập đánh
chiếm tỉnh Sind, nay là Pakistan. Đến thế kỷ XI, toàn miền Bắc Ấn theo đạo Hồi, trong
đó có tỉnh Ghaznawid, nay là nước Afganistan. Vào năm 1206, Thổ Nhĩ Kỳ cai trị Ấn Độ
đã biến nước này thành "Quốc Gia Hồi Giáo Ấn Độ" (Muslim State of India) đặt thủ đô
tại La Hore.
Năm 1555, Hoàng Đế Humayun của đế quốc Mông Cổ Hồi Giáo (Mughuls) chiếm toàn
thể lãnh thổ Ấn Độ và cai trị xứ này từ đó đến năm 1858 thì bị đế quốc Anh thay thế (303
năm). Trong 3 thế kỷ dưới sự thống trị của đế quốc Mughuls, nhiều người Ấn Độ đã bỏ
đạo Hindu theo Hồi Giáo. Và do đó, sự ảnh hưởng của Hồi giáo lên nền văn hóa Ấn Độ
là không hề nhỏ.
Đạo Phật
Cuối cùng, tuy hiện nay chỉ chiếm con số rất khiêm tốn 0,76% dân số, nhưng chúng ta
không thể không nhắc tới Phật giáo – tôn giáo đã xuất hiện từ rất lâu và mang lại nhiều
đổi thay sâu sắc đối với nền văn hóa Ấn Độ.
Là một trong những tôn giáo lớn ra đời đầu tiên ở Ấn Độ, rõ ràng, Phật giáo đã có ảnh
hưởng tỏa khắp chiều rộng lẫn chiều sâu ở Ấn Độ. Các tháp, tu viện, đền và các thánh
tượng của Phật giáo được xây dựng ở nhiều nơi phật tích trên lục địa Ấn Độ này. Trong
nhiều thế kỷ, người dân Ấn đã kính trọng và tôn thờ các danh hiệu, hình tượng, lời dạy
của chư Phật và Bồ Tát. Phật giáo đã sản sinh một khối lượng đồ sộ văn học Pali,
Sanskrit và các ngôn ngữ bản xứ; các bài học, cao đẳng và tu viện Phật giáo với những
thư viện và giáo lý phong phú vĩ đại đã hướng dẫn người dân Ấn trong nhiều thế kỷ qua;
vô số trung tâm nghệ thuật và chiêm bái của Phật giáo khắp Ấn Độ đã trở thành một
nguồn giáo dục và rèn luyện cho vô số người Ấn từ thời cổ đại. Tôn giáo, đạo đức, triết
học và mật tông của Phật giáo đã phát triển như là một đỉnh cao đã tạo ra sự ảnh hưởng
là những hàng rào ngăn cách các tôn giáo ở Ấn Độ không bao giờ trở nên không thể vượt
qua. Tất cả chúng đều ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng lẫn nhau ” (Lương Duy Thứ, 1998)
1.3.3 Truyền thống - Phong tục
Phong tục, tập quán chính là những quy ước thông thường của cuộc sống hàng ngày, là
toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong quá trình lịch sử
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 15 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
và ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng.
Đến với Ấn Độ, chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều những phong tục, tập quán truyền
thống, đồng thời cũng là điều hết sức lưu ý đối với các doanh nghiệp, doanh nhân Việt
Nam khi đến làm việc hoặc làm ăn với các đối tác người Ấn Độ. Có thể nêu ra một số
truyền thống, phong tục của người Ấn như sau:
Giới thiệu bản thân
Thật ngạc nhiên, người Hindu truyền thống không có họ. Tên của những người Hồi giáo
thường có nguồn gốc từ A-Rập. Thông thường, tên của phụ nữ Hồi giáo thường bắt đầu
bằng tên + "binti" ("daughter of") + tên của cha. Trước tên của người Sikh Ấn Độ
thường thêm "Singh"đối với nam giới hay "Kaur" đối với nữ giới, và cần nhớ rằng không
được giới thiệu bản thân với một phụ nữ đang đi trên đường một mình.
Các ngày lễ chính
Như tất cả các quốc gia khác trên thế giới, ở Ấn Độ cũng có những ngày lễ trong năm:
- 26/1 : Quốc khánh (Republic Day)
- 2/2 : Ngày Hiến tế (Feast of the Sacrifice)
- 22/2 : Năm mới của người Hồi giáo (Islamic New Year)
- 9/4 : Thứ Sáu tốt lành (Good Friday)
- 15/8 : Ngày Độc lập
Để tìm hiểu văn hóa doanh nghiệp Ấn Độ nói chung hoặc một doanh nghiệp nói riêng
không thể không xem xét các nguồn tác động vào văn hóa doanh nghiệp, trong đó phải kể
đến nguồn từ văn hóa dân tộc, văn hóa vùng và văn hóa cá nhân - đặc biệt là văn hóa của
người đứng đầu tổ chức. Văn hóa doanh nghiệp trước hết ảnh hưởng rất sâu đậm bởi văn
hóa dân tộc. Do đó, khi muốn làm ăn với đối tác từ Ấn Độ, ta cần tìm hiểu kỹ lưỡng văn
hóa dân tộc họ.
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 17 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Xem xét ảnh hưởng của văn hóa dân tộc người ta thường dựa vào một số tiêu chí để phân
biệt mức độ ảnh hưởng của văn hóa dân tộc này với dân tộc khác. Theo nghiên cứu của
Geert Hofstede, có các tiêu chí dưới đây.
1.4.1 Khoảng cách quyền lực
Tiêu chí này nhằm xem xét mức độ con người chấp nhận sự bất bình đẳng trong xã hội.
Một nền văn hóa có khoảng cách quyền lực cao xem sự bất bình đẳng là cần thiết, quyền
lực chính là biểu tượng cho danh giá, quan niệm mỗi người có một vị trí riêng trong xã
hội và người có quyền không nên che giấu quyền lực.
Khoảng cách này được đo bằng chỉ số PDI (Power Distance Index) với thước đo tăng dần
theo khoảng cách quyền lực từ 0 đến 100. Theo nghiên cứu của ITIM (tổ chức Tư vấn
Văn hóa và Quản lý) đã cho kết quả sau:
Country
PDI
Country
PDI
China
80
Malaysia
có khoảng 30% dân số sống ở thành thị nhưng ở Ấn Độ lại xuất hiện những tỉ phú thuộc
vào dạng giàu có nhất thế giới, trong khi phần lớn dân số sinh sống ở nông thôn, đói
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 18 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
nghèo và mù chữ vẫn là hiện tượng dễ bắt gặp ở nước này. Theo thống kê thì Ấn Độ là
nước có GDP bình quân đầu người cao, nhưng đồng thời cũng là một trong những quốc
gia có tỉ lệ mù chữ, tỉ lệ đói nghèo cao hàng đầu thế giới.
Cũng dễ dàng nhận ra rằng chỉ số PDI của Việt Nam so với Ấn Độ chênh lệch không
nhiều, từ đó có thể kết luận văn hóa 2 nước sẽ có những điểm tương đồng.
1.4.2 Né tránh sự không rõ ràng
Tiêu chí này đưa ra nhằm xem xét sự chịu đựng của con người trước những sự việc
không chắc chắn. Chỉ số UAI (Uncertainty Avoidance) dùng để đo lường mức độ e ngại
đối với sự việc của Ấn Độ là 40. Như vậy, người Ấn Độ có mức độ chấp nhận sự không
rõ ràng ở mức tương đối cao. Điều này có thể do từ xa xưa cho tới ngày nay, rất nhiều tôn
giáo, triết học đã và đang song song tồn tại bên cạnh nhau một cách hòa hợp, mặc dù có
thể đó là những giáo phái đối lập. Người Ấn cũng có xu hướng chấp nhận sự việc, hòa
hợp hơn là chinh phục, họ cảm thấy ít bị căng thẳng và sẵn sàng chấp nhận sự bất đồng.
Đồng thời người Ấn Độ rất linh động và sáng tạo, thể hiện qua nhiều công trình kiến trúc,
khả năng Toán học, thiên văn học… Điều này cũng một phần không nhỏ chịu tác động
của Thực dân Anh trong thời gian họ cai trị nơi đây.
1.4.3 Tính mềm mỏng và tính cứng rắn
Nền văn hóa mang tính cứng rắn là nền văn hóa có khuynh hướng đề cao những giá trị
như tiền bạc, địa vị, danh tiếng, thử thách… Trái lại, nền văn hóa mang tính mềm mỏng
sẽ đề cao các giá trị như mối quan hệ, sự hợp tác, sự an toàn… Vậy văn hóa Ấn Độ được
đánh giá là nền văn hóa như thế nào ?
Chỉ số MAS (Masculinity) được dùng để đo lường tính mềm mỏng hay cứng rắn của nền
40
United States
62
South Korea
39
Germany
66
Phillipines
64 (Nguồn: ITIM - Culture and Management consultants)
Chỉ số này của Ấn Độ được đánh giá ở mức trung bình cao, có nghĩa, dường như mang
yếu tố của “nam quyền” hơn của “nữ quyền”. Đúng như vậy, ở Ấn Độ, đàn ông có vai trò
thống trị. Đàn ông là trụ cột gia đình. Việc buôn bán và kiếm tiền chỉ có cánh đàn ông
làm. Ra chợ hay đến bất kỳ công sở, nhà hàng, khách sạn, khu mua sắm nào, rất ít thấy
bóng dáng phụ nữ. Tất cả công việc buôn bán kinh doanh thuộc về đàn ông. Đàn ông cắm
hoa, đàn ông bán vải, quần áo, thức ăn, rau cải, bán Chai – một loại nước uống, bán
thịt… Từ những việc nặng nhọc cho đến những công việc chỉ dành cho phụ nữ như may
vá, đàn ông đảm nhận hết. Đó cũng là công bằng vì văn hoá cưới hỏi ở Ấn Độ là phụ nữ
đi cưới đàn ông. Bên nhà trai yêu cầu lễ vật, nhà gái phải đáp ứng đầy đủ nếu không
muốn từ hôn. Vì thế, sau khi cưới, đàn ông phải ra đường để kiếm tiền nuôi vợ con. Phụ
nữ chỉ mỗi một việc ở nhà chăm sóc con cái, gia đình. Đây là sự khác biệt đối với văn
hóa Việt Nam.
1.4.4 Chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa cá nhân và định hướng dài hạn
Ngoài các chỉ tiêu trên, Geert – Hofstede còn nêu ra 2 chỉ tiêu khác để phân biệt các nền
văn hóa, đó là chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa cá nhân và định hướng dài hạn.
Theo xếp loại của ITIM, chỉ số đo lường khuynh hướng đề cao vai trò cá nhân trong xã
hội IDV (Individualism) và chỉ số đo lường tính dài hạn nền văn hóa LTO (Long-Term
Orientation) của Ấn Độ lần lượt là 48 và 61. Với IDV ở mức 48, ta có thể thấy văn hóa
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 21 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Chương 2
Con người Ấn Độ và mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ
2.1 Con người và doanh nhân Ấn Độ
2.1.1 Con người Ấn Độ
Truyền thống đến… hiện đại
Không nói thêm nhiều về các phần như văn hóa, tính cách, ngôn ngữ… của người Ấn Độ,
vì các yếu tố đó đã được đề cập ở phần trên, mặc dù tất cả các yếu tố đó đều từ con người
mà ra. Nhưng khái quát lại, nếu con người Ấn Độ không tài ba, thì sẽ không có những
công trình kiến trúc nổi tiếng khắp thế giới, không có những tôn giáo được nhiều nước
tôn thờ, không có được một nền kinh tế hùng mạnh để không bao lâu nữa theo dự đoán
của giới chuyên gia, Ấn Độ sẽ trở thành cường quốc trên thế giới. Những điều Ấn Độ làm
được khiến Việt Nam phải khâm phục và cần nhìn nhận lại mình.
Nếu như ngày nay, Trung Quốc được coi là công xưởng của thế giới thì Ấn Độ được gọi
là văn phòng của thế giới. Theo suy nghĩ quen thuộc của người Việt Nam thì anh văn
phòng có khi được nể hơn vì dùng nhiều lao động trí óc mà lại an nhàn.
Có thể nhận xét chung về người Ấn Độ qua các đặc điểm sau:
Người Ấn Độ rất hiếu khách
Đặc biệt với du khách nước ngoài. Hàng năm Ấn Độ đón rất nhiều khách đến du lịch. Ấn
Độ là nước có nền văn hóa lâu đời và giàu bản sắc nên trở thành điểm đến có một không
hai. Điều này cũng dễ hiểu vì trên thế giới không có nước nào là giống nhau cả. Người
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ]
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 23 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Có thế nói, các tư tưởng tôn giáo và nghệ thuật… phần nào đó bắt nguồn từ tư tưởng triết
học và cũng có thể coi chúng như là hệ thống tư tưởng triết học. Ấn Độ có lịch sử giao
thương, giao lưu từ rất lâu nên nhiều người quan niệm Ấn Độ mang nhiều đặc điểm của
giao lưu văn hóa Đông - Tây. Tôn giáo Ấn Độ ra đời từ sớm. Đạo Bàlamôn xuất hiện từ
lâu. Sau đó nhiều thế kỉ là Phật giáo. Dù các nhà tư tưởng Phương Tây không theo đạo
Phật nhưng họ vẫn khẳng định Đức Phật là một nhân vật lịch sử đã sáng tạo ra phật giáo
và mang nhiều tư tưởng tiến bộ. Phật giáo sau đó rất thịnh hành ở nhiều nước phương
Đông trong đó có Việt Nam.
Ngoài ra kinh Veda hay nhiều phong tục tập quán hiện nay ở Ấn Độ minh họa thêm cho
quá trình phát triển lâu dài của tư tưởng Ấn Độ. Nói chung thì đây là một vấn đề đa dạng
và rất phức tạp.
Về khoa học tự nhiên từ rất lâu, nền khoa học tự nhiên của người Ấn Độ đã phát triển. Về
thiên văn và địa lí, người Ấn Độ đã biết làm lịch từ rất sớm. Thiên văn Ấn Độ bắt nguồn
ngẫy nhiên từ môn chiêm tinh, họ duy tâm nên quan sát vũ trụ và các sao, từ đó sinh ra
lịch. Các nhà thiên văn Ấn Độ cổ đại đã biết quả đát và mặt trăng đều hình cầu, biết được
quỹ đạo của mặt trăng và tính được các kỳ trăng tròn, trăng khuyết. Họ tính được trực
kính của mặt trăng, các ngày nhật thực, nguyệt thực,vị trí của các lưỡng cực.Họ biết được
năm hành tinh: Thuỷ, Hoả, Mộc, Kim, Thổ. Họ còn biết được một số chòm sao và sự vận
hành của một số vì sao chính. Về sau, Aryabhata (thế kỷ V) có giảng về nhật thực, nguyệt
thực, hạ chí, đông chí, xuân phân, thu phân. Ông còn biết được Trái Đất tự quay quanh
trục: “Thiên cầu đứng yên vì quả đất quay chung quanh trục của nó nên ta thấy các tinh
tú mọc mỗi ngày mỗi đêm”. Điều đó cho thấy người Ấn Độ khá hiểu biết về thiên văn và
ngày càng phát triển. Tác phẩm thiên văn cổ nhất của Ấn Độ được biết đến ngày nay là
quyển Siddhantas (khoảng 425 TCN).
Toán học của người Ấn Độ cũng phát triển từ sớm. Họ là người phát minh là hệ thống
Ở Ấn Độ cũng vậy. Hàng trăm năm trước công nguyên, con đường tơ lụa đã hình thành
nối liền Đông - Tây và đi qua Ấn Độ. Lịch sử của con đường này cũng từ Trung Quốc và